TRINH SÁT ĐỒN ĐỊCH, KỶ NIỆM KHÓ QUÊN
Cuối buổi chiều ngày 4/6/1969,
tại một khu rừng già phía tây tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế hơn 70 cây số, có điện của Ban Tham mưu Trung đoàn: Anh Nguyễn Duy Hào Đại đội trưởng và tôi lên
Chỉ huy sở Trung đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu. Hồi đó, tôi đang là Chính trị viên phó thay thế
anh Trương Văn Dung Chính trị viên bị ốm. Ăn vội mấy bánh lương khô 702, anh Hào
và tôi cùng hai cậu liên lạc cuốc bộ lên Trung đoàn cách chừng 5 cây số đường rừng.
Đúng 7 giờ tối, chúng tôi có mặt. Các anh: Ma
Vĩnh Lan Trung đoàn trưởng, Kiều Tam Nguyên Chính ủy Trung đoàn và thủ trưởng các cơ quan đã ngồi sẵn quanh sa bàn trong hầm Chỉ huy sở. Thắp sáng toàn bộ căn hầm bằng một cái đèn bão. Đây là một
căn hầm do Đại đội Công binh của Trung đoàn xây dựng ở sườn núi. Hầm có chiều dài
khoảng 6 mét, chiều rộng khoảng 3 mét, sâu gần 3 mét, phía trên lát các thân cây gỗ khá
to được cắt ra, trên cùng lấp một lớp đất dày hơn 1 mét. Loại hầm này có thể chống được đạn pháo, nhưng không tránh được bom. Do đó, xung quanh hầm được nối râu tôm các giao thông hào đến các hầm chữ A (còn gọi là hầm kèo, hoặc hầm Triều Tiên) để phân tán ẩn nấp trong trường hợp bị máy bay địch oanh kích.
Hầm Chỉ huy sở của Trung đoàn được sử dụng trong suốt Chiến dịch A Bia - hè 1969. Tôi đã được dự nhiều cuộc họp bàn tác chiến tại căn hầm này.
