Menu ngang

Hiển thị các bài đăng có nhãn HoiUc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HoiUc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

             TRINH SÁT ĐỒN ĐỊCH, KỶ NIỆM KHÓ QUÊN



Cuối buổi chiều ngày 4/6/1969, tại một khu rừng già phía tây tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế hơn 70 cây số, có điện của Ban Tham mưu Trung đoàn: Anh Nguyễn Duy Hào Đại đội trưởng và tôi lên Chỉ huy sở Trung đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu. Hồi đó, tôi đang là Chính trị viên phó thay thế anh Trương Văn Dung  Chính trị viên bị ốm. Ăn vội mấy bánh lương khô 702, anh Hào và tôi cùng hai cậu liên lạc cuốc bộ lên Trung đoàn cách chừng 5 cây số đường rừng.
 Đúng 7 giờ tối, chúng tôi có mặt. Các anh: Ma Vĩnh Lan Trung đoàn trưởng, Kiều Tam Nguyên Chính ủy Trung đoàn và thủ trưởng các cơ quan đã ngồi sẵn quanh sa bàn trong hầm Chỉ huy sở. Thắp sáng toàn bộ căn hầm bằng một cái đèn bão. Đây là một căn hầm do Đại đội Công binh của Trung đoàn xây dựng ở sườn núi. Hầm có chiều dài khoảng 6 mét, chiều rộng khoảng 3 mét, sâu gần 3 mét, phía trên lát các thân cây gỗ khá to được cắt ra, trên cùng lấp một lớp đất dày hơn 1 mét. Loại hầm này có thể chống được đạn pháo, nhưng không tránh được bom. Do đó, xung quanh hầm được nối râu tôm các giao thông hào đến các hầm chữ A (còn gọi là hầm kèo, hoặc hầm Triều Tiên) để phân tán ẩn nấp trong trường hợp bị máy bay địch oanh kích. Hầm Chỉ huy sở của Trung đoàn được sử dụng trong suốt Chiến dịch A Bia - hè 1969. Tôi đã được dự nhiều cuộc họp bàn tác chiến tại căn hầm này.

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

THƯỢNG TƯỚNG ĐẶNG VŨ HIỆP,
 NHỮNG ĐIỀU TÔI BIẾT

Từ trái sang phải, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Đại tá Hồ Thị Bi, Thiếu tướng Lê Văn Dũng (sau là Đại tướng) và tác giả. Ảnh tư liệu.
                                                    
            Trong cuộc đời quân ngũ của mình, với điều kiện và môi trường công tác, tôi may mắn có nhiều dịp tiếp xúc, làm việc với nhiều vị tướng lĩnh của Quân đội ta. Mỗi người - trên từng phương diện - đều là bậc thầy, để lại cho tôi ấn tượng tốt. Trong đó, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, người trong nhiều năm là thủ trưởng trực tiếp, đọng mãi trong tôi nhiều ấn tượng kỷ niệm tốt đẹp.
Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi không cùng đơn vị với ông. Ông tham gia chỉ huy chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Còn tôi là cán bộ cấp cơ sở chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên.

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

                  MỘT   CHẶNG   ĐƯỜNG   CÔNG   TÁC


Ngày 26 tháng 2 năm 1997, Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành chính sách quân đội (26/2/1947 – 26/2/1997) và đón nhận Huân chương Quân công tại Hội trường Bảo tàng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Buổi lễ hôm đó rất hoành tráng cả về nội dung và nghi thức. Tới dự có Thủ trướng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu, các tổng cục, đông đủ đại biểu các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, và lãnh đạo các bộ, ngành có liên quan ở Trung ương. Đặc biệt là, có tới 5 Đại tướng thuộc hàng nguyên lão: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tướng Chu Huy Mân, Đại tướng Nguyễn Quyết, Đại tướng Đoàn Khuê. Có thể nói, đây là trường hợp hy hữu của một buổi lễ kỷ niệm cấp cục. Đại tướng Lê Đức Anh, Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi thư chúc mừng.
Thời gian trôi nhanh, mới đó đã 15 năm. Tháng Hai này, Cục Chính sách - TCCT sẽ tổ chức kỷ niệm 65 năm Ngày Truyền thống ngành chính sách quân đội. Nhân dịp này, tôi hồi tưởng về một chặng đường công tác.
Tôi rời Cục Chính sách - TCCT đã 12 năm. Quãng thời gian dài đến vậy mà trong tôi cứ như mới diễn ra ngày nào. Trong cuộc đời quân ngũ của mình, tôi từng đảm nhiệm các cương vị khác nhau ở 3 đơn vị: Cục Chính sách - TCCT, Trường Sĩ quan Lục quân 1 ( nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn ) và Tổng cục Kỹ thuật.

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Anh Tần


                                                 ANH  TẦN


 Anh Nguyễn Văn Tần là con đầu của bác Tần, sinh ngày 31 tháng Chạp năm Tân Mùi (1931) - Ở quê tôi trước đây có thông lệ mọi người đều gọi cha mẹ theo tên người con đầu. Cha tôi kể rằng, năm Cộng sản - người dân nơi đây vẫn gọi thời điểm diễn ra phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930 / 1931 như vậy - bác Tần trai đi rải truyền đơn và biểu tình. Cha tôi còn bé, được ông nội giao cho cùng bác Tần gái dắt hai con bò đi sơ tán ở lùm chùa, vì sợ máy bay Pháp oanh kích. Lúc đó bác gái đang có mang anh Tần.
Là cháu đích tôn, anh Tần được cả nhà yêu quí. Ông bà nội tôi chăm sóc, nuôi dưỡng và cho anh ăn học mãi tới năm 12 tuổi mới về với cha mẹ.
Bác Tần trai mất sớm. Suốt một đời, cha tôi coi anh Tần như con trai cả trong nhà. Trước đây, nhà cha mẹ tôi và nhà bác Tần ở trên một thửa đất do ông bà nội cho. Hai nhà cách nhau 4 mét, là một lối đi chung. 

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012


                                 EM   PHƯỢNG


Em Phương, sinh ngày 16 tháng Giêng âm lịch năm Bính Ngọ (1966), là con út của cha mẹ tôi. Trước và sau khi sinh em, mẹ tôi đều phải ăn ngủ dưới hầm tránh máy bay Mỹ, nên bị nhiễm lạnh, phát sinh bệnh hậu sản. Đến ngày thứ 5 sau sinh, bệnh tình nặng lắm, chờ đến chập tối, ngớt máy bay, cha tôi cùng mấy người bà con khiêng cáng mẹ tôi đi cấp cứu ở Bệnh viện huyện Nghi Lộc, cách nhà hơn 5 cây số. Nhưng chưa kịp tới Bệnh viện, bà đã trút hơi thở cuối cùng. Năm đó mẹ tôi 47 tuổi. Mẹ tôi qua đời, có người mới sinh con trong xóm xin nhận em Phương về nuôi. Nhưng chỉ được hơn nửa tháng thì em cũng mất. Lúc ấy có người nói đó là do bà bắt em đi theo. 
              Những chuyện đó mãi tới năm 1972, khi ở chiến trường Miền Nam ra Miền Bắc chữa trị vết thương, tôi mới được cha tôi và bà con họ hàng kể lại. Trong chiến tranh, tôi rất ít nhận được thư nhà. Dẫu rằng từ Nghệ An vào chiến trường Trị Thiên là không xa lắm. Sau khi em Phương mất, em Phượng trở thành em út.

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012


                                     CHỊ  HÒE


Chị Hòe sinh năm Quí Mùi (1943), là con cả của cha mẹ tôi. Khi mới 5 tuổi, như nhiều đứa trẻ ở quê, chị đã biết trông em. Lớn lên thêm mấy tuổi, chị Hòe đã phụ giúp được nhiều việc nhà. Năm 13 tuổi, chị biết tráng bánh cuốn và gánh bánh đi chợ Sơn bán. Thuở bé, do được chiều chuộng, cưng nựng quá, tôi thành đứa trẻ nghịch ngộ. Mẹ và chị Hòe khổ với tôi nhiều bận. Mẹ vì thương chiều con trai nên hầu như không bao giờ  đánh đòn tôi. Chị Hòe thì sợ mẹ cũng không dám đánh. Do đó, tôi bắt noi, được thể làm liều. Sau này lớn lên, nghĩ lại, tôi có nhiều điều ân hận với mẹ, với chị.
Quê tôi đất chật, người đông, ruộng bạc mầu, đời sống khó khăn. Những năm 60 của thế kỷ trước, Nhà nước có chủ trương giãn dân bằng hai cách: Thành lập các Nông trường Quốc doanh ở miền tây của tỉnh, đưa nam nữ thanh niên lên rừng khai hoang, phục hóa. Thành lập các làng mới ở vùng bán sơn địa phía tây của huyện, đưa nông dân lên khai phá làm ăn.

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012


       NĂM ĐÓI, CHA MẸ TÔI MUA CON NUÔI

Nạn đói năm 1945 ở quê tôi kinh khủng lắm. Người chết đói la liệt. Nhiều gia đình chết gần hết, không có người đem chôn. Nhiều gia đình, thậm chí có chi họ, bị tuyệt tự - không còn ai nối dõi tông đường. Cả vùng quê trĩu nặng, u uất một bầu không khí tang tóc, chết chóc. Người chết trong nhà. Người chết ngoài ngõ. Người chết bên vệ đường. Trong nhiều trường hợp, người chết ở đâu dập vùi ở đó. Không hòm ván. Không đào huyệt. Thậm chí không manh chiếu che thân.
Ở quê có cái cầu Trường. Khi tôi lớn lên vẫn đi qua. Được biết, cầu Trường do Thượng thư Đinh Văn Chấp (thân phụ của Ông Đinh Văn Nam - tức Hòa thượng Thích Minh Châu) trong triều đình Huế, khi vinh qui bái tổ, làm tặng quê hương. Cầu làm toàn bằng gỗ lim, giống như cầu Thê Húc ở Hồ Gươm, nhưng to hơn. Trên cầu có mái lợp ngói đỏ uốn cong theo thân cầu, soi bóng xuống dòng sông xanh, đẹp lắm. Hai bên thành cầu là hai dãy ghế ngồi tựa bằng gỗ. Đó là chỗ nghỉ chân của khách bộ hành. Nghe kể lại, năm đói, người hành khất thập phương đi xin ăn trong vùng về tụ tập trên cầu, chết đói nhiều lắm. Người chết rũ trên dãy ghế hai bên. Người đói lả rơi xuống sông chết đuối. Mãi tới sau này, dưới đáy sông, cạnh chân cầu, vẫn còn nhiều hài cốt.

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012


                     CHƠI CÙNG BẠN TRẺ QUÊ NHÀ


Thuở nhỏ, ở quê, tôi có nhiều bạn. Lũ chúng tôi cùng trang lứa, chơi với nhau hồn nhiên, vô tư, thỏa thích. Hồi đó, có nhiều trò chơi nhưng tựu trung lại thích hơn cả là: đá bóng, đánh khăng và đánh trận giả.
Lúc đầu mới tập đá bóng, chúng tôi xin hoặc hái trộm ở vườn nhà ai đó một quả bưởi to, hơ lửa cho mềm. Thế là chia phe đá. Sau này có bóng nhựa, bóng da. Bóng da có 2 lớp. Lớp ngoài bằng da, chúng tôi bắt chước cũng nói theo tiếng Pháp là ăng - vô- lốp. Lớp trong bằng cao su, gọi là vít - xuy. Vít - xuy bị gai đâm thủng thì đem vá như vá xăm xe đạp. Vá nhiều lần quá thì thay. Lắm lúc không có tiền mua vít - xuy mới, đành lấy lá chuối khô, ghẻ rách nhét căng vào, cũng đá được. Sân bóng là những thửa ruộng sau thu hoạch còn trơ gốc rạ hoặc một bãi cát mịn màng, bằng phẳng. Sau này lớn hơn một chút, tôi được vào đội bóng “chân đất” của làng, của lớp, của trường. Thường dẫn nhau sang đá ở các sân xã Nghi Xá, xã Nghi Khánh. Cố nhiên, lũ chúng tôi là những cầu thủ bất đắc dĩ, chân đất, mắt toét. Cả đám trẻ quê, một chữ Pháp bẻ đôi không biết. Vậy mà khi đá bóng, chúng tôi đều hét toáng lên các khẩu ngữ bằng tiếng Pháp bồi, mới lạ.  Nào là gôn, pa-ri-e, en, pê-nan-ti, cooc-ne, ooc-rơ, lăng-xê, a-la-xô, mô-nê, sút, tét, vô-lê, đờ-mi-vô-lê, manh, ê-tang,…Tất cả những từ đó chẳng qua là truyền khẩu từ lớp trước sang lớp sau. Có thể hồi đó, tuy mới đây thôi, các từ chuyên môn trong bóng đá chưa được Việt hóa. Mê bóng đá từ thuở nhỏ. Mãi tới sau này, khi công tác ở Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị và Trường Sĩ quan Lục quân, dù đã ngoài 40-50 tuổi, tôi vẫn tham gia đá bóng với anh em trẻ, đành rằng đá không hay.

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012


TẾT Ở QUÊ


Lúc còn nhỏ, như mọi đứa trẻ ở quê, tôi háo hức mong chờ Tết đến. Tết đến thêm một tuổi, được vui chơi, được mặc quần áo đẹp và đặc biệt là được ăn ngon hơn ngày thường.
Trước Tết đến cả tháng đã có sự chuẩn bị khá rộn ràng trong từng ngõ xóm. Thường thì, dăm ba nhà bà con láng giềng rủ nhau “đụng lợn”. Tức là chọn một con lợn ưng ý để nuôi ở một nhà, chờ đến ngày áp Tết mổ thịt chia phần. Những năm đó cha tôi còn ở bộ đội, ít khi được về ăn Tết cùng gia đình. Ở nhà chỉ có mẹ, chị Hòe và tôi. Không có đàn ông trong nhà, mẹ tôi thường hay đụng lợn với các chú, các bác trong xóm. Năm thì đụng với chú Chiếng, chú Tụy, chú Ngọc; năm thì với bác Thuần, chú Ước,… Ngày mổ lợn thật vui. Mọi người dậy từ rõ sớm. Trời mù sương, giá lạnh. Một không khí ấm áp trong âm thanh hỗn tạp đan xen : Tiếng cối xay lúa miệt mài. Tiếng chày giã gạo theo nhịp rền vang. Tiếng người rộn rã nói cười, gọi nhau ý ới. Rồi thì lợn kêu, chó sủa, gà đua nhau gáy vang. Người già và trẻ nhỏ quây quần bên bếp lửa hồng luộc bánh. Tôi dậy rất sớm, lò dò xem các ông bắt lợn, chọc tiết, cạo lông, làm lòng, xẻ thịt. Khi lòng lợn đã luộc chín, vớt ra, đổ một ít gạo tẻ vào nước luộc lòng để nấu cháo. Tan cuộc, mọi người già trẻ chia nhau xì xụp húp bát cháo loãng nóng hổi, thật ngon và ấm bụng. Và cuối cùng, thế nào tôi cũng nài nỉ xin bằng được cái bong bóng lợn. Mang về rửa sạch, sấy khô để thổi lên làm bóng. Tựa như trẻ nhỏ chơi bóng bay bây giờ.

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2012


                                      BẠN  QUÊ


Những năm học ở Trường cấp II Nghi Khánh ( Nghi Lộc - Nghệ An ), tôi có 2 người bạn thân thiết nhất là Lương Đình Long và Nguyễn Đình Lương. Anh Long quê ở xã Nghi Xá, hơn tôi 4 tuổi. Anh Lương quê ở xã Nghi Khánh, là con dì ruột anh Long, hơn tôi 3 tuổi. 
              Đang tuổi thiếu niên, là học trò nghèo, ở một vùng quê xa các trung tâm văn hóa. Nhưng qua đọc sách, chúng tôi thuộc nhiều điển tích, ngưỡng mộ sự can trường, nghĩa hiệp của các nhân vật tiêu biểu trong các tiểu thuyết lịch sử cả ta lẫn Tàu. Có lần, vào mùa hè năm 1960, ba chúng tôi đi bộ lên Vinh chơi. Bắt chước 3 anh em Lưu, Quan, Trương trong Tam quốc diễn nghĩa, chúng tôi vào chùa Diệc, cắt máu ăn thề, thắp hương khấn vái, tuyên thệ kết nghĩa vườn đào. Dưới trời chang chang nắng, cả đi lẫn về ngót 40 cây số, trong túi chỉ vỏn vẹn mấy đồng bạc, ăn uống qua quít, về đến nhà, anh em đói lả, mệt nhoài. Tôi bé nhất và yếu nhất. Anh Long nói, cố lên các em, như vậy mới tốt, mới thiêng, mới là kỷ niệm. Mà quả thật, với tôi, đó là một trong những kỷ niệm đẹp không bao giờ quên sau hơn nửa thế kỷ.