Menu ngang

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

MÀU TÍM HOA SIM
                                                 Hữu Loan




Nàng có ba người anh
Đi bộ đội
Những em nàng còn chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê ...

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh ...

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh
Trên chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.

Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân
Qua những đồi sim ..
Những đồi hoa sim ...,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa.
Áo tôi sứt chỉ đường tà,
Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu./.



Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

Người đàn bà của mùa Thu

Thu trong em: Ôi, mùa thu rạo rực/ Tình em như biển thẳm trời xanh. 
Thu đã chết theo tháng năm tàn úa
Qua mỗi mùa lá rụng, em ơi!
Anh đi giữa những mùa xa vắng ấy
Tình em bay trong ảo giác tơi bời.

Cuộc sống trôi đi những ngày hoang lạnh
Như lá vàng rơi trên mồ lão Giăng Van Giăng    
Và anh sống trên đời côi cút
Lang thang bờ bãi của bóng đêm.

Lại nhớ đến bao nhiêu mùa trước
Người đàn bà từng thao thức bên anh
Thu trong em: Ôi, mùa thu rạo rực
Tình em như biển thẳm trời xanh.

Người đàn bà! Mùa thu, mùa thu...
Nàng có đôi mắt mơ hiền đẹp
Vòm ngực nàng như một bầu trái ngọt
Những đêm thâu nghe thổn thức bên hồ.

Anh viết về mùa thu
                   mà câu thơ lại không lối xô bồ
Dẫu trái tim còn tràn đầy cảm xúc,
Em có nghe! Tiếng của hàng cây đương nhắc
Trong hư vô hun hút quyện vào đêm..
  Hà Nội, thu 2014
Nhà thơ Phạm Ngọc Thái

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

       BIỂN
                                  Xuân Diệu

Anh không xứng là biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng,
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh nắng pha lê.

Bờ đẹp đẽ cát vàng
Thoai thoải hàng thông đứng
Như lặng lẽ mơ màng
Suốt ngàn năm bên sóng.

Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.

Ðã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời.
Dù tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt .

Cũng có khi ào ạt
Như nghiến nát bờ em
Và lúc triều yêu mến
Ngập bến của lòng tin.

Anh không xứng là biển xanh ,
Nhưng cũng xin làm sóng biếc,
Ðể hát mãi bên gành
Một tình chung không hết .

Có những khi bọt tung trắng xoá ,
Và gió vi bay tỏa nơi nơi
Như hôn mãi ngàn năm không thoả
Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi! 

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

                            THU XANH

 
                                                                      BÙI VĂN BỒNG     

Trong mắt nhớ mùa thu màu lá lúa
Sao mà ai thao thức với thu vàng?
Em mặc áo màu da trời huyền thoại
Mặt hồ xanh soi bát ngát thu xanh

Mùa thu chín thêm dịu dàng thảm cỏ
Gió vén mây
              hây hẩy nắng mơ màng
Anh không thể níu thời gian ở lại
Để bao niềm khao khát mãi lang thang

Em đắm đuối thu vàng ven ngõ trúc
Mơ những điều ảo vọng phía trời xa
Nếu như biết mùa thu xanh rất thực
Có cần chi nhiều son phấn lượt là?

Cứ đi mãi
          mùa gọi mùa theo mãi 
Dồn nén bao kỷ niệm xuân thì
Gió thời gian lật trang ngày thơ dại
Yêu thêm màu xanh thắm lối em đi

Nơi này lá rơi vàng lối nhớ
Chợt nơi kia non nõn búp cho đời
Em không nói mùa thu thay áo mới
Thêm một lần da diết với thu xanh.

                     B.V.B

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

GIẤY CHỨNG NHẬN LÀ NGƯỜI!


Trong toa tàu, cô soát vé xinh đẹp nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi ngồi khép nép trên ghế hành khách, hất hàm hỏi:

- Vé tàu!

Người đàn ông lớn tuổi lục khắp người từ trên xuống dưới một thôi một hồi, cuối cùng tìm thấy vé, nhưng cứ cầm trong tay không muốn chìa ra.

Cô soát vé liếc nhìn vào tay ông, cười trách móc :

- Ðấy là vé trẻ em.

Người đàn ông đứng tuổi đỏ bừng mặt, nhỏ nhẹ đáp :

- Vé trẻ em chẳng phải ngang giá vé người tàn tật hay sao ?

Giá vé trẻ em và người tàn tật đều bằng một nửa vé, đương nhiên cô soát vé biết. Cô nhìn kỹ người đàn ông lần nữa rồi hỏi :

- Ông là người tàn tật ?

- Vâng, tôi là người tàn tật!

- Vậy ông cho tôi xem giấy chứng nhận tàn tật.

Người đàn ông tỏ ra căng thẳng, đáp :

- Tôi… không có giấy tờ. Khi mua vé cô bán vé bảo tôi đưa giấy chứng nhận tàn tật, không biết làm thế nào, tôi đã mua vé trẻ em.

Cô soát vé cười gằn :

- Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được ông là người tàn tật ?

Người đàn ông đứng tuổi im lặng, khe khẽ tháo giầy, rồi vén ống quần lên : ông bị cụt nửa bàn chân.

Cô soát vé liếc nhìn, bảo :

- Tôi cần xem chứng từ, tức là quyển sổ có in mấy chữ “Giấy chứng nhận tàn tật”, có đóng con dấu của Hội người tàn tật !

Người đàn ông đứng tuổi đờ đẫn lúng búng giải thích :

- Tôi không có tờ khai gia đình của địa phương, người ta không cấp sổ tàn tật cho tôi. Hơn nữa, tôi làm việc trên công trường của tư nhân. Sau khi xảy ra tai nạn, ông chủ bỏ chạy, tôi cũng không có tiền đến bệnh viện giám định…

Trưởng tàu nghe tin, đến hỏi tình hình.

Người đàn ông đứng tuổi một lần nữa trình bày với Trưởng tàu, mình là người tàn tật, đã mua một chiếc vé có giá trị bằng vé của người tàn tật…

Trưởng tàu cũng hỏi :

- Giấy chứng nhận tàn tật của ông đâu ?

Người đàn ông đứng tuổi trả lời, không có giấy chứng nhận tàn tật. Sau đó, ông cho trưởng tàu xem nửa bàn chân của mình .

Trưởng tàu không thèm nhìn, cứ nhất quyết nói :

- Chúng tôi chỉ xem giấy chứng nhận, không xem thương tật trên cơ thể. Có giấy chứng nhận tàn tật mới chính là người tàn tật. Có giấy chứng nhận tàn tật mới được hưởng chế độ ưu đãi vé người tàn tật. Ông phải mau mau mua vé bổ sung.

Người đứng tuổi bỗng thẫn thờ, lục khắp lượt các túi trên người và hành lý, gom lại chỉ có hơn 50 ngàn đồng, hoàn toàn không đủ mua vé bổ sung. Anh nhăn nhó và nói với trưởng tàu như khóc :

- Sau khi bàn chân tôi bị máy cán đứt một nửa, không còn đi làm được nữa. Không có tiền, ngay đến về quê cũng không về nổi. Nửa vé này cũng do bà con đồng hương góp mỗi người một ít để mua giùm, xin ông mở lượng hải hà, giơ cao đánh khẽ, nương tay tha cho tôi.

Trưởng tàu tỏ ra kiên quyết :

- Không được.

Thừa dịp, cô soát vé nói với Trưởng tàu :

- Buộc ông ta xuống tàu ở ga tới. Vì với số tiền trên vé, ông ấy chỉ đủ đi chặng đường đã qua.

Tắp lự, Trưởng tàu đồng ý :

- Cũng được.

Chứng kiến cảnh đó, hành khách trên tàu tỏ ra bất bình với nhân viên tàu hỏa và ái ngại, thương xót người tàn tật mà chẳng biết làm sao. Chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện, một cụ già ngồi đối diện với người đàn ông đứng tuổi, đứng phắt lên nhìn quắc mắt nhìn chằm chằm vị Trưởng tàu, hỏi :

- Anh có phải đàn ông không ?

 Trưởng tàu tỏ ra không hiểu, hỏi lại :

- Chuyện này có liên quan gì đến tôi có là đàn ông hay không ?

- Anh hãy trả lời tôi: anh có phải đàn ông hay không ?

- Ðương nhiên tôi là đàn ông !

- Anh dùng cái gì để chứng minh anh là đàn ông ?

Anh đưa giấy chứng nhận đàn ông của mình cho mọi người ở đây xem xem ?

Mọi người chung quanh cười rộ lên.

Thừ người ra chốc lát, vị Truởng tàu nói :

- Một người đàn ông to lớn như tôi đang đứng đây, lẽ nào lại là đàn ông giả ?

Cụ già lắc đầu, nói :

- Tôi cũng làm theo cách của anh chị: chỉ xem chứng từ, không xem người. Có giấy chứng nhận đàn ông sẽ là đàn ông. Không có giấy chứng nhận đàn ông, thì  không phải đàn ông.

Vị trưởng tàu tịt ngóp, không biết ứng phó ra sao. Cô soát vé đứng ra giải vây cho Trưởng tàu. Cô nói với cụ già:

- Tôi không phải đàn ông. Có chuyện gì, ông cứ nói với tôi.

Cụ già chỉ vào mặt chị ta, nói thẳng thừng :

- Cô hoàn toàn không phải người !

Cô soát vé bỗng nổi cơn tam bành, nói the thé :

- Ông ăn nói đứng đắn một chút. Tôi không là người thì là gì ?

Cụ già vẫn bình tĩnh, cười nói:

- Cô là người ư? Cô đưa "Giấy chứng nhận là người” của cô ra xem nào?

Mọi hành khách chung quanh lại cười ầm lên một lần nữa.

Chỉ có một người không cười. Ðó là người đàn ông trung niên bị cụt nửa bàn chân. Anh ta cứ nhìn trân trân vào mọi thứ trước mặt. Không biết tự bao giờ, mắt anh đẫm lệ. Không rõ đó là những giọt nước mắt do tủi thân, xúc động, hay thù hận của anh...


Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Đoán tính cách qua bàn tay

Làm cách nào nhận biết nhanh tính cách của một người, nhất là người lạ? Rất đơn giản, bạn chỉ cần quan sát, cảm nhận qua đôi bàn tay của họ.
Đơn giản nhưng không kém phần chính xác vì đây là kinh nghiệm hàng nghìn năm của người phương Đông và phương Tây được lưu truyền qua thuật xem tướng tay. Trong cuốn Tiếng nói của bàn tay (NXB Văn hóa Thông tin 2002), nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc viết: “Aristote, 350 năm trước Công nguyên là người đã viết tác phẩm đầu tiên về cách xem bàn tay” (trang 27) và “Vậy, có thể nói là đôi bàn tay đại diện cho các nét cơ bản về một người. Người thế nào thì có đôi bàn tay thế ấy” (trang 28). Từ 2.500 năm trước, Tôn Tử nói: “Biết mình, biết người, trăm trận không nguy” luôn là chân lý. Một cái bắt tay, vài phút nhìn đôi bàn tay, ta đã biết được thái độ, tính cách cơ bản của một con người. Ai cũng làm được việc này và chẳng tổn hại, tốn kém gì.

Bắt tay

Bắt tay là cử chỉ thân thiện khi giao tiếp giữa hai người. Qua giây lát đó, ta còn biết tính cách, thái độ của người chủ đôi tay. Một bàn tay rộng, bề thế, chắc chắn: đó là người tháo vát, khéo xoay xở và có đầu óc phân tích đi tới kết quả. Bàn tay mềm, mỏng dẹt, yếu như không có sinh khí: đó là người thiếu ý chí phấn đấu, không kiên quyết, an phận thủ thường. Nếu bàn tay mềm nhão: lười nhác, mơ mộng, viển vông. Một bàn tay nung núc những thịt, mềm và bóng nhẫy thì đó là người có thú vui nhục dục, ăn uống, tiêu xài thoải mái. Bàn tay gầy, lủng củng xương: đó là người khô khan, ít quan tâm vật chất, tằn tiện dù giàu có. Hoặc ngược lại, đó là người đam mê nhiều thứ, kiêu hãnh, ghen tuông, đố kỵ. Bàn tay ấm áp: là người bình thường, có thể là người tốt. Bàn tay nóng: người dễ nóng tính. Bàn tay lạnh: người khô khan, lạnh lùng, ít muốn giao tiếp. Bắt một bàn tay thấy ẩm ướt: đó là người nhạy cảm. Nếu bàn tay quá ẩm ướt, thường xuyên ẩm ướt: là người có bệnh đột xuất hoặc kinh niên. Nếu không thì họ là người xa hoa, ủy mị, lười biếng, sắp xếp mọi việc kém, ưa nhục dục.
Nắm một bàn tay bất động, lạnh giá, không xúc cảm gì, chìa ra, đó là kẻ hấp hối hoặc là người chức quyền nịnh trên nạt dưới, sẵn sàng làm trâu ngựa cho cấp cao hơn một cách kín đáo, tế nhị. Khi cấp trên bắt tay cấp dưới bằng cách bóp chặt, có nghĩa là; mình đây nhé, cấp trên đầy quyền uy của cậu đây. Nếu kèm theo nụ cười nửa miệng, một cái nháy mắt nữa, đó là tín hiệu: mình vẫn chú ý tới cậu, đừng lo. Vừa bắt tay vừa hất hàm hỏi cấp dưới, có nghĩa là: thế nào, cậu nhớ chứ? Khi bắt tay cấp dưới không nhiệt tình lắm, mắt nhìn như đe dọa với cái đầu gật gật, có nghĩa: hãy coi chừng hoặc liệu hồn đấy. Sếp bắt tay thuộc cấp mà hất nhẹ ra, cằm hất lên đó là: thôi, đi đi, liệu đấy. Khi sếp bắt tay khá nhiệt tình và hơi lắc lắc, cái nhìn trìu mến, nụ cười bao dung và gật đầu hài lòng, nghĩa là: nhớ làm cái đó cho mình đi nhé; mình không quên cậu đâu, cậu khá lắm. Khi bắt tay, cấp dưới đưa cả hai tay ra nắm tay sếp, nghĩa là: thật vinh dự cho em quá, em không quên ơn anh đâu. Hoặc còn có nghĩa: anh chú ý giúp em nhé, em sẽ còn “chơi đẹp” hơn thế nữa, anh hãy tin ở em. Nếu bàn tay cấp dưới cứ nắm bàn tay cấp trên, không muốn rời ra, nghĩa là: em xin ghi nhớ, tạc dạ ghi lòng công ơn của anh với em. Nếu cấp dưới bắt tay cấp trên rồi, lại đi giật lùi, vừa cúi đầu, ngẩng đầu lên xuống, đó là người sẵn sàng nhảy vào lửa, nếu cần. Nếu họ có cái nhìn lấm lét, nhìn ngang hay nhìn trộm sếp rất nhanh với đôi mắt giảo hoạt: đó là dấu hiệu của kẻ phản chủ. Khi bắt tay cấp trên mà cười nhăn nhở, giọng lưỡi ba hoa, đó là kẻ xỏ lá ba que, dễ tâng bốc chủ và cũng sẵn sàng hạ nhục chủ. Một người có kỷ cương, trật tự, trung thành nhưng không có óc sáng tạo, khi bắt tay cấp trên với bàn tay và dáng điệu cứng đờ. Người thích khoa trương, ưa hình thức, sự phục tùng có mức độ, có điều kiện là người bắt tay cấp trên với dáng điệu kiểu cách, quá lịch sự, màu mè làm duyên.
Cái bắt tay ngoại giao, chặt mà thoải mái, là biểu hiện sự hài lòng hoặc sự cởi mở tự nguyện chờ đợi sự đáp lại của bên kia. Bắt tay mạnh với nét mặt đanh thép là muốn tỏ sự nghiêm nghị, dứt khoát, không thay đổi quan điểm, có thể cả sự không hài lòng. Cái bắt tay hờ hững, nhạt nhẽo không hứa hẹn điều gì tốt đẹp. Đó là biểu hiện của kẻ đang có thế mạnh hoặc là sự nghi ngờ, không hài lòng. Bắt tay xong lại hôn má bên này, bên kia; khi ôm hôn bàn tay lại vỗ vỗ ở sau lưng nghĩa là: hài lòng, tỏ ra sự thân thiện hợp tác. Bắt tay chặt, nhìn thẳng mặt nhau, mỉm cười lịch sự, có nghĩa là: nào ta làm thủ tục đi rồi đi vào việc (đàm phán, ký kết). Bắt tay dứt khoát, lạnh lùng rồi quay người đi, có nghĩa không hài lòng. Cùng đưa tay ra bắt, cười nói hồ hởi, khi từ biệt còn vẫy tay theo, đó là tình cảm thắm thiết trao cho nhau. Nhưng giơ tay cao hay thấp, vẫy nhiều hay ít, mạnh hay nhẹ là thước đo độ tình cảm và tư thế của mỗi bên.

Quan sát bàn tay

Ở cự ly gần, ta dễ dàng quan sát đôi bàn tay người khác mà họ không biết (vì không cầm tay họ để xem). Nhưng đặc điểm của đôi bàn tay nói lên nhiều điều về tính cách của người chủ nó.
Bàn tay vuông (còn gọi là bàn tay dùi đục) là bàn tay có các ngón với đầu đốt một (đốt có móng) vuông. Là người thiên về lý tính trong thực tế, ưa sự thật, sự công bằng, trật tự, kỷ cương, nguyên tắc, không mơ mộng hão huyền, ghét giả dối, sự mập mờ lấp lửng, không chịu cúi luồn nịnh bợ. Có óc suy diễn, có kế hoạch hành động và đủ kiên trì để thực hiện mục tiêu. Suy nghĩ chậm mà chắc. Đã quyết định thì khó thay đổi. Có thể là người bảo thủ, cứng nhắc, khô khan. Phụ nữ có bàn tay vuông sẽ hạn chế sự khéo léo, mềm mại, tế nhị nhưng rất chung thủy. Bàn tay vuông là người thích hợp với công việc đòi hỏi tính nguyên tắc, tỉ mỉ, cẩn trọng, kiên trì cao. Ví như người làm ở bộ máy chính quyền, làm công tác tổ chức, cơ quan bảo vệ pháp luật, kế toán, thủ quỹ, ngân hàng, nhà khoa học, kỹ thuật...
Bàn tay nhọn (còn gọi là bàn tay búp măng) là bàn tay có các ngón tay xuôi thon nhỏ dần và nhọn ở đầu đốt một. Là người thiên về cảm tính, giàu cảm xúc, thích điều kỳ lạ, lý tưởng cao siêu, ý nghĩ mới lạ, ưa mơ mộng. Họ xa thực tế, ngại lý luận, khó thích nghi với kỷ luật, nền nếp, nguyên tắc. Người có bàn tay nhọn rất phù hợp với văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, những công việc làm đẹp cho đời. Phụ nữ có bàn tay nhọn: thích làm duyên, bay bướm, không kiên định, ít thủy chung, thích làm theo ý mình, cần tự do và tình yêu, cần được vuốt ve, chiều chuộng. Nếu bàn tay nhọn mà đẹp, mũm mĩm như phồng lên với những lỗ chân lông rõ ở lưng bàn tay: đó là người lười nhác, ưa vui thú, khoái lạc. Nếu đàn bà có bàn tay nhọn, mũm mĩm, bàn tay đầy thịt lại có ngón tay cái to sẽ trở nên nguy hiểm vì họ có nghị lực, dẻo dai và lý sự. Người đó sẽ chinh phục, thôi miên, “nuốt chửng” người đàn ông yếu đuối không có nghị lực.
Bàn tay hình chóp nón: là bàn tay có các ngón với đầu đốt một lượn tròn (không nhọn, không bằng). Là người có trực giác, có cảm xúc nhưng không mơ mộng xa thực tế. Họ trọng chân lý, ưa nền nếp nguyên tắc nhưng không cứng nhắc bảo thủ. Họ hành động theo tiếng gọi của trái tim nhưng vẫn có sự kiểm soát chặt chẽ của lý trí. Đó là người rất linh hoạt, giỏi ứng biến. Người có bàn tay chóp nón thích hợp với loại công việc, sống hòa đồng với mọi người, nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh. Có thể họ là người do dự, thiếu quyết đoán khi cần thiết.
Bàn tay bè: là bàn tay có các ngón với đốt một bè rộng ra. Là người của hành động, thích lao động chân tay và làm việc ngoài trời, ghét làm việc bàn giấy, trọng sức mạnh, kiên định, rất tự tin nhưng hay sai. Họ trọng thực tế nhưng ích kỷ, kiêu ngạo, tự cho mình hơn người khác. Đặc biệt loại người này muốn chống lại tất cả và chống lại chính quyền. Họ lăn xả vào mọi cuộc đánh lộn và có mặt ở trong các nổi dậy. Nếu bàn tay bè có thêm ngón tay cái dài và rộng, họ dễ trở thành kẻ mưu phản, kẻ vô chính phủ. Người có bàn tay mềm, bè ra và nhẵn: là người bí hiểm, dị tướng, dễ trở thành người chống đối về mặt lý thuyết và nguy hiểm cho xã hội.
Bàn tay kết hợp là bàn tay với các đầu ngón không giống nhau: có ngón vuông, có ngón nhọn, lại có ngón bè, ngón hình nón. Đó là người không bình thường. Họ có thể là người tốt, cũng có thể là người xấu. Muốn biết chính xác tính cách của người này, phải kết hợp xem đặc điểm của các ngón tay, màu sắc, hình dáng kích thước bàn tay, các chỉ trong lòng bàn tay của họ.
Bàn tay sơ đẳng: Là bàn tay quá rộng, quá dày, quá rắn và chậm chạp, thô kệch với các ngón thường rụt lại. Đó là người có khả năng choán hết sự thông minh. Họ có các giác quan nặng nề và lười nhác, một tâm hồn bất động và hững hờ, chai lạnh. Họ sẵn sàng chịu sự sai khiến của người khác và có thể trở thành kẻ hung bạo mù quáng, là công cụ đắc lực cho kẻ xấu.
Ngón tay: Nếu ngón út ngắn không tới ngấn giữa đốt giữa và đốt một của ngón đeo nhẫn: là người hiểu rất nhanh, rất thông minh, có khả năng tiếp thu to lớn, ứng xử mau lẹ, có óc tổng hợp và cảm hứng mà không cần nghiên cứu sâu về một vấn đề nào đó. Nếu ngón tay út dài hơn ngấn giữa đốt một và đốt hai ngón đeo nhẫn: là người ham học, nghiên cứu khoa học, nghệ thuật nghiêm túc, có khả năng hùng biện. Là người khôn ngoan tuyệt vời và nếu là kẻ xấu thì lại là kẻ quỷ quyệt tột đỉnh nếu ngón út rất dài. Nếu ngón út khoèo gớm ghiếc, đốt một vẹo vào trong thì đó là người tuy thông minh, khéo léo nhưng ít may mắn hoặc là người nổi tiếng xấu.
Ngón tay đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ: có năng khiếu về nghệ thuật, có tình yêu trong sáng, lành mạnh. Nếu ngón đeo nhẫn nhọn: nhanh nhạy trong nghệ thuật và cái đẹp, mơ mộng và nhẹ dạ. Nếu tòe ra: có sức mạnh về nghệ thuật thực hành, về sự chuyển động: nghệ sĩ múa, nhạc công, nhạc sĩ sáng tác hành khúc... Nếu đầu ngón đeo nhẫn vẹo về phía ngón út: có thể là kẻ nổi tiếng xấu.
Ngón tay trỏ thẳng dài hơn ngón đeo nhẫn: kiêu ngạo, kiên quyết, khát khao danh vọng, ham muốn đầy đủ, lộng lẫy về mọi mặt. Nếu đầu ngón tay trỏ chùn lại, vẹo về ngón cái: là kẻ sẵn sàng bạo ngược để giành lợi về mình, kể cả với ân nhân.
Ngón tay cái là linh hồn của bàn tay. Khi xem tay, ta cần xem kỹ ngón cái. Ngón cái dài, rất to, rất khỏe. Là người có ý chí bao trùm người khác, có tham vọng, tìm cách ngoi lên địa vị ngày càng cao. Ngón cái ngắn nhỏ: thường bị trái tim điều khiển, ít tự chủ, thiếu ý thức khởi xướng, không bền bỉ, dễ a dua, xu nịnh. Ngón cái mỏng là ngón tay của người có sự mềm mỏng từ bản tính nếu không muốn nói là người tinh ma, ranh mãnh. Ngón cái tương đối dài, có đốt một và đốt hai dài bằng nhau: là người có sự cân bằng giữa tinh thần và thể chất, giữa lý lẽ và tình cảm, ý chí và lý luận. Nếu đốt một dài bằng đốt hai mà đầy đặn thịt da: là người mạnh mẽ, kiên quyết nhưng chậm chạp. Nếu đốt hai thon vào giữa: là người thông minh, nhanh nhẹn và nhạy cảm. Nếu đốt một dài và dày, đốt hai ngắn: là người có ý chí mà thiếu lý lẽ. Ngước lại, nếu đốt một ngắn, đốt hai dài khỏe: là người lắm lý lẽ mà thiếu quyết tâm, không dám khẳng định điều gì. Nếu đốt một ngón tay cái dài quá là người tự cao, thích thống trị, bạo ngược. Ta không nên tin tưởng người có đốt một ngón cái quá ngắn vì họ thiếu kiên quyết, thiếu công bằng, hoàn toàn vô tâm, buông xuôi, dễ để người khác xỏ mũi lôi đi, khóc cười như chơi. Nhưng đốt một ngắn và rộng, họ là người có ý chí kiên quyết, bền bỉ. Nếu đốt một tròn như bi: thô bạo, mù quáng, hay có ý nghĩ xấu. Đốt một ngón cái vẹo ra ngoài (không phải ngửa ra sau) là người kiên quyết đến lì lợm, khô khan, cứng nhắc.
Bình thường, ngón cái tách khỏi các ngón khác ở mức vừa phải: trung thực, thẳng thắn, quảng đại và năng động. Nếu ngón cái tách ra khá xa: người thích tự do, thoải mái thường theo hướng không tốt đẹp lắm. Ngón cái áp sát ngón trỏ, đốt một lại quặp vào như càng cua: là người hà tiện, ích kỉ. Ngón cái ngả ra sau quá mức: người luồn lách, xảo quyệt và hèn nhát. Với phụ nữ, ngón cái ngả ra sau vừa phải: họ là người trung thành mềm mỏng, thân ái, yêu đời. Nếu ngón cái ngả ra sau quá mức thì họ là người ngông cuồng, lố lăng và không chung thủy. Khi mở bàn tay ra cử động mà ngón cái ngắn với đốt một quặp lại, lại cứ để vào gần giữa lòng bàn tay: đó là kẻ bất cần đời, sẵn sàng làm mọi điều xấu. Nếu các ngón tay khác bóng nhẫy, không có nếp nhăn (các nếp nhăn ở mặt sau của ngón tay, chỗ ranh giới giữa các đốt): là kẻ ưa manh động. Bàn tay dày, rất cứng, các ngón sần sùi, ngón cái ngắn với đốt một tròn như bi, phình to ra thì đó cũng là kẻ dám giết người. Các ngón tay có móng đều vẹo sang một bên với đốt một thô to, đốt hai phình to ra, trông dị dạng thì đây cũng có thể là kẻ sát thủ.
Đây là những thông tin mang tính kinh nghiệm và khoa học. Bạn đọc có thể nắm bắt và tham khảo khi cần thiết.
PHẠM ĐẮC TÙY

Bí mật xung quanh cuộc tình nổi tiếng của Trần Hưng Đạo


Ít ai biết, Hưng Đạo Vương cũng là một tướng tiên phong đấu tranh cho tự do hôn nhân thời “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”.

Quan hệ éo le ngang trái
Trần Quốc Tuấn là con trai của Yên Sinh Vương Trần Liễu (anh trai của Trần Thái Tông). Tuy thế, tuổi thơ của Quốc Tuấn phải trải qua một biến cố dữ dội. Năm 1237, Trần Thái Tông và hoàng hậu Chiêu Thanh ở với nhau 12 năm mà không có con. Lo sợ vua không có con nối ngôi, Trần Thủ Độ mới bắt ép Trần Thái Tông lấy vợ của Trần Liễu lúc này đang có mang ba tháng. Phẫn uất, Trần Liễu họp quân nổi loạn. Vua Thái Tông cũng chán nản bỏ lên núi Yên Tử định đi tu.
Trần Hưng Đạo có tình cảm đặc biệt với công chúa Thiên Thành là em gái út của vua Trần Thái Tông.
Trần Hưng Đạo. Ảnh: Lao Động.  
Tuy nhiên quân của Trần Liễu không chống được bao lâu, ông phải đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá đến thuyền vua Thái Tông xin hàng. Thái Tông cho ông đất Yên Sinh, Yên Phụ… ở Đông Triều làm thái ấp và phong cho làm Yên Sinh Vương. Bất mãn với triều đình, Trần Liễu kén thày giỏi ở khắp nơi để dạy dỗ Quốc Tuấn đủ võ nghệ, binh pháp… cho thành bậc kỳ tài.
Tuy nhiên, Quốc Tuấn không ở Yên Sinh với cha lâu mà về Thăng Long làm con nuôi của công chúa Thụy Bà (là chị gái của vua Thái Tông và em gái Trần Liễu).
Tại Thăng Long, Quốc Tuấn lớn lên cùng với các con em hoàng tộc cùng trang lứa. Trong số đó có cả công chúa Thiên Thành là em gái út của vua Trần Thái Tông. Tình cảm giữa hai người cứ theo năm tháng lớn dần lên rồi thành tình yêu lúc nào không hay. Khi Thiên Thành đến tuổi cập kê, Nhân Đạo Vương muốn xin vua gả cho con trai mình là Trung Thành Vương. Hôn sự đã được nhà vua chuẩn y chỉ chờ ngày làm lễ. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: ngày 15 tháng Hai năm 1251, nhà vua lại ra lệnh mở hội kéo dài 7 ngày đêm, bày các tranh về lễ kết tóc và nhiều trò chơi cho người trong triều ngoài nội đến xem, ý muốn cho công chúa Thiên Thành làm lễ kết tóc với Trung Thành Vương.
Trước đó, vua đã cho công chúa Thiên Thành đến ở trong dinh Nhân Đạo Vương để chờ đến ngày làm lễ hợp cẩn.
Trong khi cả kinh thành đang vui vẻ náo nức trong không khí hội hè thì có hai người buồn bực, ủ rũ là công chúa Thiên Thành và Trần Quốc Tuấn. Vốn không yêu Trung Thành Vương lại đã đặt hết tình yêu nơi Trần Quốc Tuấn nhưng không thể chống được sự sắp đặt của bề trên, huống hồ lại là ý vua, công chúa buồn giận, bứt dứt không yên trong lòng.
Trần Quốc Tuấn cũng chẳng vui vẻ gì. Biết người yêu sắp phải đi lấy kẻ khác, tâm trạng ông thật rối bời, lòng nóng như lửa đốt. Từ sự bắt buộc của hoàn cảnh, cộng với sự liều lĩnh bồng bột của tuổi trẻ đã dẫn Trần Quốc Tuấn vào một hành động có thể nói là ngông cuồng thách thức lệnh vua.
Vua cũng thua sự đã rồi
Không cam tâm khoanh tay đứng nhìn người yêu đi lấy chồng, đang đêm, Quốc Tuấn trèo tường đột nhập vào phủ Nhân Đạo Vương. Vượt qua các toán quân canh gác, Quốc Tuấn đã tìm thấy phòng của công chúa Thiên Thành. Đang đau khổ vì sắp phải rời xa mối tình đầu để đi lấy một người mình không yêu, bất ngờ tình lang xuất hiện trước mặt, làm công chúa Thiên Thành bất ngờ và vui mừng rạng rỡ. Bên ngoài cả phủ Nhân Đạo Vương vẫn vui vẻ không hay biết về sự có mặt của kẻ “cướp dâu”.
Trần Hưng Đạo.  
Trần Quốc Tuấn không chỉ là dũng tướng trên mặt trận mà còn là một tướng tiên phong đấu tranh cho tự do hôn nhân.
Nhưng sự “liều lĩnh” này của Trần Quốc Tuấn sẽ trở thành một thảm án nếu như không có bàn tay của công chúa Thụy Bà ở ngoài giúp sức. Ở câu chuyện sự giúp đỡ của Thụy Bà, có thuyết nói rằng sau khi lọt vào phòng công chúa Thiên Thành, Quốc Tuấn sai nữ tì của công chúa về báo cho Thụy Bà.
Một thuyết khác nói rằng, một đêm Thụy Bà không thấy Quốc Tuấn về thì đoán ngay ra chàng ở đâu. Vốn thương yêu Quốc Tuấn như con đẻ lại nuôi chàng từ khi còn nhỏ nên bà từ lâu đã hiểu rõ tâm sự và mối tình của chàng với Thiên Thành. Nay cả kinh thành đang vui hội để chuẩn bị cho Thiên Thành đi lấy chồng mà chàng lại bỏ đi đâu lúc nửa đêm thì chỉ có thể là … Nghĩ đến đó Thụy Bà không khỏi rùng mình sợ hãi.
Mới năm nào anh bà là Trần Liễu khởi binh nổi loạn vì vụ vợ mình là Thuận Thiên bị ép gả cho Trần Thái Tông. Trong triều lúc này thiếu gì người vẫn còn để bụng chuyện cũ. Nếu vụ này không thu xếp ngay cho ổn để Nhân Đạo Vương phát giác ra thì Quốc Tuấn không thoát khỏi họa sát thân.
Bởi vậy, ngay trong đêm, Thụy Bà chạy vào cung tâu với Thái Tông: “Không ngờ Quốc Tuấn càn rỡ đang đêm lẻn vào chỗ của Thiên Thành. Nhân Đạo Vương đã bắt giữ hắn rồi, e sẽ giết hắn mất. Xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu”.
Vốn cũng khó xử vì nhà vua đã nhận lễ vật của nhà Nhân Đạo Vương rồi nhưng Thụy Bà nài nỉ khẩn khoản mãi nên nhà vua đành sai nội nhân đi ngay trong đêm đến phủ Nhân Đạo Vương. Đến nơi thì bốn bề vẫn yên lặng. Đám nội nhân tiến thẳng vào phòng công chúa Thiên Thành thì thấy Quốc Tuấn đang ở đấy. Bấy giờ phủ Nhân Đạo Vương mới biết có Quốc Tuấn ở trong phủ nhưng đành để nội nhân đưa chàng về.
Hôm sau, Thụy Bà vào cung dâng lên nhà vua 10 mâm vàng sống và nói khó: “Vì quá vội vàng nên không sắm được đủ lễ vật, xin nhà vua nhận cho”. Trước sự thể đã rồi, Trần Thái Tông đành gả công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn và xuống chiếu cắt 2.000 khoảnh ruộng ở huyện Ứng Thiên cho Nhân Đạo Vương để “đền bù thiệt hại”.
Ngay trong ngày, hôn lễ của Quốc Tuấn và Thiên Thành cử hành ngay. Sử sách viết về sự kiện này cũng có khi chê rằng đời nhà Trần việc chung chạ đã thành cái nếp từ Thái Tông nên không tránh khỏi. Tuy vậy, ở thời đại chúng ta mà nhìn nhận thì lại thấy hành động của Hưng Đạo Vương là một sự dũng cảm dám đấu tranh cho tình yêu của mình.
Tội của Quốc Tuấn lúc ấy vừa là khi quân phạm thượng vừa là tư thông với người đã được định đoạt hôn sự. Tuy vậy, ngài đã thoát nạn vì có Thụy Bà khéo sắp xếp và cũng bởi Thái Tông xét tình chứ không truy cứu việc chống lệnh vua. Dù sao thì đó cũng là một may mắn cho lịch sử. Nhờ thế mới có Quốc công Hưng Đạo Vương làm nên chiến công hiển hách đánh bại quân Nguyên sau này.
Theo Phunutoday