Menu ngang

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

 

     Chén rượu đắng C317 TNXP Truông Bồn

                                        Ghi chép: GIAO HƯỞNG


Suốt bốn ngày đoàn Nhà văn Nhà báo đến Đô Lương, Hưng Nguyên, Yên Thành, Quỳnh Lưu, vào từng gia đình dâng hương viếng anh linh 13 liệt sĩ TNXP C317 hy sinh trên trọng điểm Truông Bồn 31.10.1968. Chiều 03.12.2010 trước khi rời huyện Yên Thành, đoàn nhờ ông Nguyễn Tâm Cớn-Chủ tịch Hội cựu TNXP huyện, dẫn đường đưa đoàn đến nhà thắp hương viếng ông Nguyễn Xuân Thỏa (1936-2010), nguyên Đại đội trưởng C317 TNXP Truông Bồn, quê xã miền núi Sơn Thành. Chúng tôi vào nhà chỉ gặp mỗi con gái ông Thỏa, cô cho biết lấy chồng xóm bên, mấy tháng nay phải gửi con nhờ ông bà nội chăm sóc, một mình cô về nhà túc trực khói hương cho cả bố và mẹ.

Đứng trước ban thờ của vợ chồng ông Thỏa cả hai chưa kỵ tiểu tường, tôi thầm thưa với linh hồn ông nội dung quan trọng mà đoàn chúng tôi vừa được Liệt sỹ Hoàng Thị Nhung cho phép mở “tàng thư”, đó là: Sáng 31.10.1968 (nhằm 10.9 Mậu Thân), từ 6h10 đến 10h10 trong 4 tiếng đồng hồ, Mỹ tiến hành 3 đợt oanh tạc chứ không chỉ 1 đợt, trút 170 quả bom tấn xuống phạm vi dài 120m, rộng 50m nhằm hủy diệt trọng điểm Truông Bồn! Với sức công phá của 170 quả bom tấn trên phạm vi 6.000 m2, bình quân 35m2 hứng trọn 1 quả bom, với mật độ dày đặc và cường độ công phá khủng khiếp như thế thì đến xương sắt da đồng cũng không nguyên vẹn!

Ông Tâm Cớn, Nhà văn Trần Huy Quang cùng tôi tìm trong bọc ni lông sinh thời ông Thỏa cất giữ tài liệu cẩn thận. Không còn giấy tờ gì liên quan thời kỳ C317, ngoài 2 bản phô tô 2 bài báo viết về sự kiện Truông Bồn bi hùng, được gia chủ  lưu giữ một đời, đó là Phóng sự Ngược Truông Bồn của tôi và bài Day dứt Truông Bồn của một Nhà thơ quê Nghệ nổi tiếng. Vì bản phô tô của bài Day dứt Truông Bồn không có măng sét nên tôi không biết bài này đăng trên tờ báo nào.

Rưng rưng nghĩ về ông Thỏa, tôi bơi về buổi chiều tháng 4.1997 lần đầu gặp nguyên Đại đội trưởng C317 TNXP Nghệ An-Nguyễn Xuân Thỏa giữa lam lũ đời thường. Sau khi tìm được chị Lê Thị Hường nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội 5 C317, anh Nguyễn Xuân Phương nguyên C phó phụ trách kỹ thuật C317, chiều ấy tôi nhờ anh Phương làm hoa tiêu ngồi sau xe máy dẫn đường, vòng vèo chừng 30 cây số đến nhà ông Thỏa. Trong nắng chiều đầu hè oi bức, khi đến trước cổng nhà ông Thỏa tôi giữ ý tắt máy để anh Phương vào trước, tôi dắt xe theo sau. Vừa bước vào sân anh Phương lên tiếng:

 -Báo cáo Đại đội trưởng có nhà báo tìm gặp!
Anh Thỏa quần đùi áo may ô đang lúi húi gia cố mái che của bể tích trữ nước mưa, anh ngừng tay:
          -Báo chí gì các anh, chúng tôi đang như cóc kêu trời không thấu. Tại sao viết bao nhiêu bài về Truông Bồn rồi nay mới tìm gặp tôi?
          Anh hằm hằm đi vào nhà bếp, tôi đứng giữa sân nói to cốt để anh nghe:
-Thưa anh! Em là PV Báo Lao động, bao nhiêu bài về Truông Bồn, đăng ở báo nào, do ai viết em không biết. Cũng vì một phần sự thật của sự kiện Truông Bồn chưa được phát lộ, hôm nay em muốn gặp anh, đề nghị anh kiểm tra thẻ Nhà báo của em. 
Không thèm xem thẻ, cũng chẳng mở lời mời khách vào nhà, anh Thỏa lẳng lặng đi vào phía nhà bếp. Tôi theo anh Phương vào nhà và bấm bụng ngồi chờ. Lát sau anh Thỏa bước ra với bộ quần áo TNXP quen thuộc, chủ nhà không nói không rằng khiến 2 ông khách đành im lặng, tôi không bỏ sót từng sắc thái biểu hiện trên gương mặt chưa hết tức giận của anh. Chủ nhà tự tay pha ấm trà rót ra 3 chén nhỏ. Dù đang khát nhưng vì giữ phép lịch sự tôi chưa vội nâng chén vì chờ anh mở lời đúng với phép “tiền chủ hậu khách”. Vẫn không nói không rằng, anh Thỏa đột ngột xoay người mở cánh tủ lôi ra chai rượu nút lá chuối còn chừng một nửa, cẩn thận rót nước sôi tráng sạch 3 cái chén rồi mới rót rượu đầy tràn. Vẫn không nói không rằng, chủ nhà giơ chén rượu của mình ra trước mặt 2 khách, anh Phương nhìn tôi ngầm ra hiệu cùng nâng chén. Dù chủ nhà không chịu mở lời tôi đành lòng cầm chén đứng dậy nhắm mắt nhắm mũi “khà” cạn chén đắng cay. Đúng hơn tôi đã uống sạch sành sanh thái độ “tức cá chém thớt” của nguyên Đại đội trưởng C317 Truông Bồn. Sự nhận nhịn của khách khiến gia chủ nhận ra nóng nảy không đúng lúc đúng chỗ, càng không đúng đối tượng để cho mình trút giận, mãi sau anh Thỏa mới chịu cầm thẻ nhà báo của tôi lên soi:
-Bây giờ cậu cứ ghi âm, nếu ai đó có “y án tử hình” thì trước khi chết tôi vẫn nói lên sự thật. Đau lắm Nhà báo ơi. Về hưu làm thằng thường dân, quyền không, tiền không, thân cô thế cô, là Đại đội trưởng mà không dũng cảm bảo vệ được sự thật cho đồng đội mới ra nông nỗi này !
Anh Thỏa gục đầu xuống mép bàn như để tạ lỗi đồng chí, đồng đội mình. Tôi nhìn anh Phương. Anh Phương xúc động hướng đôi mắt ngấn lệ lên phía cao xanh. Từng dự bao cuộc xã giao nhưng chưa khi nào tôi được/bị/phải cạn trăm phần trăm thứ rượu lắm đắng nhiều cay như chén rượu tại nhà riêng anh Thỏa chiều ấy. Bù đắp cho sự kiên trì nhẫn nhịn để tìm ra sự thật là mục đích tối thượng của một Nhà báo, anh Thỏa tin tưởng cởi mở hết cõi lòng. Sự nhẫn nhịn đúng lúc đã cho tôi là người viết đầu tiên tiếp cận “sự thật của sự thật”, biết được địa chỉ cư trú để tìm chị Trần Thị Thông-nhân chứng trực tiếp sống sót sau 29 năm (1968-1997) vẫn chưa phát lộ; Hoặc tìm ra nhân vật đã được “trên” phân công làm hồ sơ đề nghị Nhà nước phong tặng Danh hiệu cá nhân AHLLVTND, nhưng rất may là vừa xuất hiện trên ti vi trong phim Ký ức Truông Bồn thì “người đóng thế” bị các cựu TNXP C317 phản ứng dữ dội, nếu không phát hiện kịp dễ chừng Nhà nước trót vinh phong cho một “anh hùng đóng thế”. VTV buộc xếp cất bộ phim ấy vào kho. Buồn là cho đến khi phóng sự của tôi được đăng báo (10.5.1997) và cho đến nay (7.2014) tôi vẫn chưa xem bộ phim Ký ức Truông Bồn. Sau 1 tháng kể từ Phóng sự được đăng tôi càng buồn khi biết đạo diễn bộ phim ấy chính là người gắn bó với tôi 5 cái “đồng”: Đồng tộc (cùng đại chi dòng họ); Đồng môn (cùng khóa 70-73 trường Cấp 3 Nghi Lộc I). Đồng nhập ngũ (tháng 5.1972). Đồng học ngành Ngữ văn (tôi trước hắn sau cùng Tổng hợp Hà Nội); Đồng nghề báo (hắn nhà đài, tôi…nhà viết).
PS Ngược Truông Bồn tạo “tiếng bom dư luận”, góp phần giải tỏa bức xúc của hằng ngàn cựu TNXP Nghệ An về giữa đời thường, sau đó các cựu TNXP tổ chức mấy cuộc gặp mặt tại Vinh. Ban liên lạc nhờ chị Hoàng Thị Ngọc Điệp cựu TNXP trú thành phố Vinh đưa giấy mời đến tận nhà mời tôi tham dự. Lần gặp mặt ấy anh Thỏa nắm chặt tay tôi:
-Hôm anh Phương đưa chú đến nhà, vì đang “cóc kêu không thấu trời” nên anh có bức xúc nặng lời với chú. Chú thông cảm, anh đang đứng mũi chịu sào trước một phần sự thật đang dần sáng tỏ!
Rưng rưng cảm nhận hơi ấm từ lòng tay anh truyền sang, tôi nghe rõ lời xin lỗi ngổn ngang cõi lòng, qua đó hiện ra trách nhiệm của người chỉ huy C317 đối với những đồng chí, đồng đội hy sinh không thể nói cho mình về mình. Với hàng trăm cựu TNXP đang vẫy vùng giữa lam lũ đời thường, dù thấp cổ bé họng song họ là nhân chứng sống đã đang sát cánh cùng anh trong việc bảo vệ một phần sự thật đã bị biến dạng.
Ngày 06.10.2008 trước thềm kỷ niệm 40 năm sự kiện Truông Bồn bi hùng và đón nhận danh hiệu Đơn vị AHLLVTND cho tập thể 14 cán bộ chiến sỹ Tiểu đội 2, C317, Đội 65, Tổng đội TNXP Nghệ An thời kỳ kháng Mỹ cứu nước; anh Đinh Văn Ngư, Chủ tịch Công đoàn ngành GTVT Nghệ An cùng tôi đến thắp hương viếng các Liệt sỹ TNXP, tặng quà 9 gia đình Liệt sỹ TNXP C317 tại huyện Yên Thành. Sau khi thắp hương viếng Liệt sỹ Trần Thị Doãn xã Sơn Thành, chúng tôi đến nhà thăm anh Nguyễn Xuân Thỏa, buồn thay trước đó mấy hôm anh Thỏa đã vào điều trị bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Nghệ An. Năm 2010 anh Thỏa mất tại quê xã Sơn Thành vì bạo bệnh.
Ông Tâm Cớn cho biết: Đảng ủy, chính quyền xã Sơn Thành, các cựu TNXP C317 huyện Yên Thành phối hợp tổ chức lễ tang anh Thỏa chu đáo, trọng thể. Chuyện gia đình ông Thỏa họa vô đơn chí là sự thật, ông Thỏa ra đi chừng 3-4 tháng thì bà góa phụ theo chồng về cõi vĩnh hằng. Khi trên 2 ban thờ ông bà đang nghi ngút khói hương thì đến lượt vợ chồng cô con gái của họ cũng kẻ trước người sau ra đi trong vòng một tháng. Tiếp đến cô cháu gái làm ăn trong Nam bụng mang dạ chửa về quê chờ sinh nở, nhưng chưa kịp đến ngày khai hoa lại cũng ra đi. Chỉ trong vòng 2009, 2010 dồn dập tới 6 người nhà lần lượt ra đi vì ung thư và bệnh tật, căn nhà của vợ chồng ông Thỏa càng u ám, dân làng bán tín bán nghi bảo nhà có ma. Người con trai út của ông Thỏa là Nguyễn Văn Minh, nhà nghèo không được học hành đến nơi đến chốn, không nghề nghiệp, nay đây mai đó ai thuê làm gì làm nấy, sau một thời gian bám trụ tại quê không kiếm nổi cái ăn, cuối cùng Minh phải rời nhà rời đất Sơn Thành ra Hà Nội làm thuê kiếm sống. Ngôi nhà xập xệ rệu rã lại càng hoang lạnh, 3 năm trước các cựu TNXP C317 đến thắp hương viếng người Đại đội trưởng kiên cường, chứng kiến ngôi nhà cũ nát không đủ sức che nắng che mưa mà không cầm nổi nước mắt. Hội cựu TNXP Nghệ An đứng ra xin và được Sở LĐTB&XH hỗ trợ 10 triệu đồng cho việc tu sửa chỗ hương khói ông Nguyễn Xuân Thỏa. “Công trình” xây được cái móng, đổ được mấy cái chân cột thì hết tiền, Hội cựu TNXP tỉnh chưa biết nhìn vào đâu để hoàn thành công trình tâm nguyện với ông Nguyễn Xuân Thỏa.

Trăm cay ngàn đắng chất chứa trong chén rượu mà từ mười mấy năm trước tôi phải/bị uống tại nhà Đại đội trưởng C317 TNXP Truông Bồn. Chén rượu cay đắng ấy bổng tràn về trong kỷ niệm vui buồn của một người làm báo, nó tràn theo thời gian. phủ lên số phận một cuộc đời lắm hy sinh mất mát kể cả sau khi ông lặng lẽ mang nó sang thế giới người hiền phía bên kia./.

                                                        Vinh, 5.7.2014
                                                               GH




Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

Không có mắt xanh, lòng thành thì thảm đỏ chỉ đón được kẻ cơ hội


Nguyễn Trãi với những trang Cáo Bình Ngô bất hủ - Ảnh: TL
Nguyễn Trãi với những trang Cáo Bình Ngô bất hủ - Ảnh: TL
Đọc Bình Ngô Đại Cáo ta cảm nhận được nỗi lo của Lê Thái Tổ ngày khởi nghiệp (và có lẽ không chỉ ngày khởi nghiệp) ở hai câu: “Nhân tài như lá mùa thu – Hào kiệt như sao buổi sáng”. Đúng vậy, còn gì đáng lo đáng sợ cho một minh quân muốn trị quốc, bình thiên hạ hay khởi nghĩa đuổi giặc xâm lăng ra khỏi bờ cõi bằng thiếu người tài giúp giập?
Không có nhân tài không giữ được nước 
Thiếu lương chỉ nán đợi ngày mùa hay đoàn tiếp tế, thiếu quân vẫn có thể nhìn vào dân các vùng miền. Trần Nhân Tông hào sảng làm thơ trước ngày kháng chiến: “Hoan Diễn do tồn thập vạn binh” (Hoan Diễn vẫn còn (huy động được) mười vạn binh). Nhưng nhà vua vẫn âu lo. 
Chính vì thế mà vị anh hùng triều Trần đã vững tâm chống giặc khi nghe Trần Hưng Đạo nói: "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã". Và Trần Thủ Độ: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo". 
Hoan Diễn có thể huy động mười vạn quân trong chốc lát nhưng tài nguyên soái, tài chỉ huy và tài thống lĩnh nằm trong hai cái đầu kiệt xuất đang phò tá nhà vua. Trần Hưng Đạo hiến nhà vua một quyết tâm. Trần Thủ Độ hứa hẹn một chiến lược nhất định thắng. Không có hai cái đầu ấy thì Hoan Diễn dù còn mười vạn quân nhà vua vẫn phải phân vân trước thế giặc.
 
Trần Hưng Đạo - một danh tướng kiệt xuất - (Tượng của điêu khắc gia Phạm Thông)
Không có nhân tài thì không giữ được nước, không xây dựng lại được giang sơn. Triều đại suy vong, đô thành sụp đổ, nước mất nhà tan trước hết vì không còn người tài phò vua giúp nước. 
Đó là điều đáng sợ nhất của mọi thời. Như con người thoát dương, kiệt nguyên khí. Như suối cạn nguồn, như đêm tối không sao dẫn đường. Cho nên người xưa mới nói: “...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...” (Thân Nhân Trung - 1419 – 1499).
Đây cũng là mối lo, là điều đáng sợ nhất của ngày hôm nay!
Thiên tài thì dễ thấy vì đó là của Trời cho, là sao, là tinh tú, dù người trần mắt thịt cũng dễ nhận ra, kẻ bất tài cũng khó tiếm vị. Không gì tranh được ngôi vị của Mặt Trời hay sao Kim. Nguyễn Trãi có bị tru di oan uổng rồi vẫn sáng như sao Khuê. Nguyễn Du chỉ muốn mua vui một vài trống canh cho người đọc mà vẫn làm rạng danh giống nòi với kiệt tác Truyện Kiều.

Nguyễn Trãi có bị tru di oan uổng rồi vẫn sáng như sao Khuê
Nhưng người tài thì không “tự sáng” được như thiên tài mà lẩn khuất trong dân, tiềm ẩn khó lường như con rồng có có không không, chỉ khi được dùng thì mới có điều kiện thi thố cái tài của mình ra, lúc đó thiên hạ mới hay đó là người tài. 
Không được dùng thì giống như cái bát mẻ vứt bờ ao, ngay cả vợ con cũng khinh dễ. Khổng Tử khi bị thất sủng, không được ai dùng từng than: “Ta như con chó nhà người có tang”. Người tài có đủ mặt khắp mọi lĩnh vực, mọi tuổi tác, từ vị giáo sư đến người thợ, từ cụ già gần miệng lỗ đến em học sinh thần đồng, từ kẻ có bằng cấp hẳn hoi đến anh Hai Lúa mới thoát nạn mù chữ. 
Họ là những người dù có mặt ở đâu cũng đều bộc lộ chất “nguyên khí”. Hưng Đạo Vương là thiên tài quân sự. Nhưng Yết Kiêu, Dã Tượng là người tài thủy chiến. Cu Ba là nước trồng chuối xuất khẩu nhiều, người ta không mời giáo sư nước ta đến giúp mà từng thỉnh một bà nông dân Thái Bình sang dạy họ cách giấm chuối chín. Bà ấy là người tài, tạm gọi là có “tầm thế giới”.
Từ chiếc đũa đến cái gọt mướp vẫn không thấy dấu ấn người tài Việt
Tìm người tài khó vì họ là của hiếm, kẻ thực tài thường không có máu cơ hội “tự tiến cử” hay tìm cách quảng cáo cho mình. Tuy khó thế nhưng tạm có hai cách cơ bản để gọi là sàng lọc bước đầu là qua thi cử, phỏng vấn nghiêm ngặt hoặc kết quả thực tế của công việc. Tất nhiên, phải giả thiết rằng thi cử là nghiêm túc, không chạy không mua hoặc sự đánh giá thành tựu cũng khách quan như thế.
Nhân tài thì thời nào cũng hiếm (như lá mùa thu), đã hiếm thì quý, khó nhận ra, rất dễ vàng thau lẫn lộn, nhất là thời đại copy, dán mọi thứ trong nháy mắt y chang như thật. Khác với một thời chưa xa, khi nước ta vừa thoát vòng nô lệ, chỉ có dăm ông tiến sĩ, một nhúm kỹ sư, bác sĩ. 
Một Trần Đại Nghĩa, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Nguyễn khắc Viện, Nguyễn Xiển, Phan Anh, Đặng Phục Thông v.v. mà đã đủ để lại những dấu ấn không phai mờ trong ký ức dân tộc, phát quang được một đoạn khá dài con đường nâng cao dân trí, góp phần không nhỏ giành thắng lợi trong chiến tranh giải phóng, mở đường hướng tới khoa học kỹ thuật hiện đại. Trong tuổi thơ, tôi thấy họ cao sang, tâm huyết với đời làm sao! Thế hệ người tài ấy đúng là “nguyên khí” làm cho “thế nước mạnh mà hưng thịnh” như người xưa từng nói.
 
Trần Đại Nghĩa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và GS. Lê Văn Thiêm
Chúng ta không thiếu người có bằng cấp. Theo số liệu gần đây, cả nước có 13.500 TSKH, 1.094 GS, 4951 PGS. Cử nhân, kỹ sư thì vô kể, riêng số còn thất nghiệp đã lên tới trên 150 ngàn người. Nhưng sao nhiều năm lại đây không thấy sản phẩm hay chí ít thì cũng là dấu ấn của người tài. Không có công trình khoa học nào vang dội, có sức nặng trong  thực tế. Không có tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, sân khấu hay văn học nào lay động lòng người như đã từng có (dù rất hiếm hoi) trước đây.
Phim thì Hàn Quốc, Trung Quốc chiếm lĩnh, nhạc thì “thảm họa”, lai căng. Từ chiếc đũa đến cái gọt mướp vẫn không thấy dấu ấn người tài Việt. Mấy phát minh đình đám có hiệu quả kinh tế xã hội ít nhiều thì đều do “người tài” nông dân chân đất, nhiều khi chỉ mới đọc thông viết thạo. 
Đại học là nơi hun đúc nguyên khí quốc gia, có thể nhiều “thủ khoa”, nhiều học sinh giỏi, nhưng không thấy mấy người tài, bởi tài thì phải cho người ta sờ được sản phẩm, thực tế cho thấy như thế, không oan. 
Không có mắt xanh, lòng thành thì thảm đỏ chỉ đón được kẻ cơ hội
Có thể người tài vẫn có đó, vẫn còn nhiều đó nhưng tại sao “không phát hiện được người tài”? Vì người tài thường có phẩm chất tự trọng, tự tin, họ tin vào cái tài của mình như Lý Bạch luôn tin “thiên sinh ngã tài tất hữu dụng” (Trời cho ta cái tài này tất sẽ được dùng), họ không xin việc cũng có người mời, không có người mời cũng có thể tự sống khá, không như kẻ bất tài quỵ lụy xin từ cái giải thưởng đến huân chương! Bởi thế phải có “mắt xanh” mới nhìn ra họ.
Với cách sàng lọc được ưa chuộng hiện nay khi gộp hai chữ “đức tài” chung chung làm một, với tệ mua quan bán chức lan tràn thì người tài (thường có tật mà tật “nguy hiểm” nhất là hay hoài nghi, phản biện) đã rơi đài ngay khi chọn chức tổ trưởng lớp mẫu giáo!
Với cách sàng lọc được ưa chuộng hiện nay khi gộp hai chữ “đức tài” chung chung làm một, với tệ mua quan bán chức lan tràn thì người tài (thường có tật mà tật “nguy hiểm” nhất là hay hoài nghi, phản biện) đã rơi đài ngay khi chọn chức tổ trưởng lớp mẫu giáo!
Còn vì sao “chính sách đãi ngộ chưa thu hút được người tài”? Bởi vì hai bên chưa hiểu nhau. Người rải thảm đỏ nhầm tưởng rằng người tài thích đi trên thảm đỏ. Cũng nhầm tưởng họ ham lương cao bổng hậu, nhà cao cửa rộng. Không, người tài (từ anh Hai Lúa đến vị GS) tuy ai cũng mong có cuộc sống vật chất khá giả nhưng điều họ yêu quý hơn là sự tôn trọng, cởi mở và tri kỷ của người muốn dùng cái tài của mình. Họ mong những “ông chủ” có thể ít học nhưng phải tâm huyết vì dân, phải cho họ sự tự do suy nghĩ, sáng tạo và đặc biệt là biết lắng nghe những lời nghịch nhĩ, thẳng thắn từ trái tim chân thành và bộ óc “có tài” của họ.
Không có mắt xanh, lòng thành thì thảm đỏ chỉ đón được kẻ cơ hội mà thôi!
Người tài mọn, người tài lớn đều ở trong dân, từ trong dân mà ra, chẳng phải kiếm đâu xa, lúc nào cũng có. Lãnh đạo biết khơi nguồn, biết tôn trọng và sử dụng đúng cách để họ tự tin “trời cho ta có tài tất sẽ có chỗ dùng” mà không nản chí. 
Tôn trọng không phải chỉ nói suông, ve vuốt hay tâng bốc, lấy lòng chốc lát. Kẻ tâm không sáng, ham hố danh lợi, thường không phải người thực tài. Người thực tài thường chỉ muốn thi thố cái tài của mình để giúp đời. Nhưng họ cũng phải có chút quyền, đó là quyền được sáng tạo và độc lập suy nghĩ, quyền được công nhận giá trị thực của bản thân và quyền được giữ nhân cách. 
Họ cũng như người bình thường, muốn đủ sống và có mức sống xứng đáng với những gì tài năng họ đưa lại. Thành tâm tôn trọng người tài là biết dành cho họ không gian tự do sáng tạo, đúng thì nghe theo, sai cũng không kỳ thị. Đưa kẻ bất tài vô đức ngồi lên cổ lên vai người tài là thảm họa, bởi “ai mà chịu đựng được sự miệt thị của kẻ bất tài với đức tài nhẫn nhục?” (Shakespear – Hamlet)
Nguyễn Quang Thân

Bí ẩn lớn nhất trong “di chiếu” 

của Mao Trạch Đông

Giao Hưởng/ Một thế giới 
Giang Thanh tại “phiên tòa thế kỷ”
 Tại “phiên tòa thế kỷ” (tháng 11.1980), hơn 850 người ngồi ở ghế dự thính đã vỗ tay tán thưởng khi Giang Thanh bất ngờ tiết lộ thêm 6 chữ trong “mật chiếu” của Mao Trạch Đông viết cho Hoa Quốc Phong trước ngày qua đời... 

  Giang Thanh giữ thái độ cứng cỏi, một mực phủ nhận tội trạng của mình, có lúc dám cương giọng hô khẩu hiệu “đặc sản” của thời cách mạng văn hóa trước tòa làm mọi người bất bình. Khi bị vạch tội cướp quyền và công kích Hoa Quốc Phong, Giang Thanh lớn tiếng phản bác: 

“Tôi muốn cho các vị biết một việc, câu “đồng chí làm việc tôi yên tâm” Mao Chủ tịch viết cho Hoa Quốc Phong tối hôm đó không phải là toàn bộ nội dung Mao viết cho Hoa, ít nhất còn thiếu 6 chữ “có vấn đề, hỏi Giang Thanh”.

Mấy câu trên của Giang khiến phiên tòa đại loạn. Giang cười nhạt:

- Ta bất chấp phép nước, đạo trời ư?

Trong những hồi chuông dồn dập, Giang một lần nữa bị lôi ra khỏi phòng xử án, nhưng trên những hàng ghế dự thính, mọi người vỗ tay rầm rộ, đây là những lời khen chân tình, bởi Giang Thanh đã vạch ra một sự thật quan trọng nhất: Người kế tục mà Mao chỉ định là Giang, chứ không phải là Hoa Quốc Phong. Hoa chỉ là viên cận thần có việc cần thỉnh thị Nữ hoàng.

Hoa làm việc Mao yên tâm, nhưng không phải Hoa muốn làm gì thì làm, mà phải thỉnh thị Giang, làm theo chỉ thị của Giang” - theo Tân Tử Lăng. 

Sáu chữ trong mật chiếu của Mao “có vấn đề - hỏi Giang Thanh” mặc nhiên đặt vị trí Giang Thanh lên trên Hoa Quốc Phong (Thủ tướng - Phó Chủ tịch đảng thứ nhất). Sớm biết vị trí đó, khi Mao nằm trên giường bệnh, Giang Thanh đã dám đứng lên công khai phê bình Hoa Quốc Phong tại Hội nghị công tác kế hoạch toàn quốc ngày 1.8.1976. 
Các tuần lễ tiếp đó, Giang Thanh ôm “giấc mộng Nữ hoàng” của mình đi diễn giảng khắp nơi. Hồi ký của vệ sĩ Trần Trường Giang nhắc chuyện Giang Thanh đến Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh, nhà máy in Tân Hoa với “danh nghĩa thị sát” để “kích động phản cách mạng, nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng” (28.8)đến thăm liên đội anh hùng ở quân khu Tế Nam để “cổ xúy cho “chủ nghĩa đại nữ tử” không bắt tay với đàn ông, và còn nói: “Chủ tịch không còn nữa, tôi sẽ trở thành quả nhân”. 
Trong từ vựng của tiếng Trung, từ “quả nhân” có hàm nghĩa đặc biệt, đây là cách xưng hô của các vị vua. Bà Giang Thanh nói ra những lời này tại thời điểm đó (lúc Mao Trạch Đông sắp mất), tại địa điểm đó (quân khu Tế Nam)không phải là ngẫu nhiên hay vô ý, mà đã ngang nhiên bộc lộ tham vọng quyền lực của mình” qua cách “chơi chữ” hai mặt (30.8 ). Lúc Mao Trạch Đông rơi vào hôn mê  sâu (8.9), Giang Thanh “lấy lý do giúp Mao Chủ tịch trở mình” để lật người Mao trên giường bệnh dò soát lần cuối xem còn sót di thư nào không và “tìm chìa khóa tủ tài liệu của Mao Chủ tịch” - nửa khuya hôm ấy Mao qua đời. 
Đã có chuyện một số tỉnh “đua nhau gửi thư ủng hộ Giang Thanh làm chủ tịch đảng”. Sau này ban chuyên án cũng thu bản danh sách lãnh đạo trung ương theo dự kiến của Giang Thanh: Chủ tịch đảng: Giang ThanhPhó Chủ tịch đảng : Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên, Tôn Ngọc Quốc, Mao Viễn Tân. Thường vụ Bộ Chính trị: ngoài sáu  người trên, thêm: Tạ Tĩnh Nghi, Trương Thu Kiều, Vương Tú Trân. Chủ tịch Quốc hội: Vương Hồng Văn. Thủ tướng: Trương Xuân Kiều”. Danh sách trên gạt hẳn Hoa Quốc Phong ra ngoài. Ý đồ của Mao là đưa “Giang Thanh lên nắm quyền”,sau đó Giang Thanh sẽ “truyền ngôi” lại cháu ruột của Mao là Mao Viễn Tân.
Về Mao Viễn Tân, tài liệu Tân Tử Lăng ghi:

Trước khi vào Trung Nam Hải, Mao Viễn Tân là Bí thư Tỉnh ủy Liêu Ninh, Chính ủy Đại quân khu Thẩm Dương. Từ 10.10.1975, Mao Viễn Tân được cử làm “liên lạc viên” cho Mao. Bộ chính trị họp, Mao Viễn Tân ngồi trên ghế Chủ tịch truyền đạt “khẩu dụ” của Mao. Y coi các ủy viên Bộ chính trị như cấp dưới, đã có lần y nói: “Tôi thuận miệng nói vài câu, đủ để bọn họ học tập mấy tháng ròng”.
Điều bí ẩn lớn nhất nằm ở mục đích cuối cùng của Mao được che đậy khéo léo để mọi người không dễ nhận biết, đó là: “khoác chiếc áo lý luận hiện đại nhất, cách mạng nhất” đẩy nước Trung Hoa trở lại thời vua chúa, thiết lập trật tự của “chủ nghĩa xã hội phong kiến” - để làm gì? Tân Tử Lăng giải đáp từ “gốc rễ” của vấn nạn:

“Thông qua Đại cách mạng văn hóa, Mao hầu như đã trị hết các công thần danh tướng. Mười năm tai họa, các nhân vật trên vũ đài chính trị lớp này đến lớp khác như chạy tiếp sức trên một vòng cung lớn nhằm chuyển chiếc gậy “đại vương” đến tay Giang Thanh, để Giang kịp thời kế vị lúc Mao nhắm mắt xuôi tay. Âm mưu gia đình trị của Mao bị phơi trần đã làm nát vụn những phỏng đoán của các nhà trí thức lương thiện về động cơ “cao thượng” của cuộc Đại cách mạng văn hóa do Mao phát động. Nếu không có sai lầm của ba năm Đại tiến vọt, chưa chắc Mao phải dùng đến hạ sách này. Mao truyền ngôi cho Giang Thanh có phần bất đắc dĩ. Mao không tin vào ngàn đời vạn thế, mà tính toán chỉ cần hai thế hệ (Giang Thanh và Mao Viễn Tân) là đủ thời gian hoàn toàn viết lại lịch sử”, chối phắt trách nhiệm làm 37,55 triệu người chết đói Vì lịch sử xưa nay đều do kẻ thắng viết nên”  

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

TÂM SỰ TUỔI GIÀ

Đời người hối hả tháng ngày
Công danh chưa toại, đã hay mình già
Ngày qua như gió thoảng qua
Một ngày vui, để lãi ra một ngày
Hạnh phúc chẳng ở trên mây
Tìm trong công việc hàng ngày mà ra
Đồng tiền lương thiện của ta
Không hoang phí, chẳng xa hoa, hẹp hòi
Giúp được người – Thêm niềm vui
Là thêm hạnh phúc cho đời quản chi
Chẳng ai chết mà mang đi
Đừng làm nô lệ, cuồng si vì tiền
Nhiều tiền không phải là “Tiên”
Người khôn phải biết kiếm tiền, biết tiêu
Đồng tiền tráo trở bao điều
Làm nên vinh, nhục đã nhiều xưa nay
Tuổi già như áng mây bay
Hợp tan là việc thường ngày xảy ra
Một đời trải mấy phong ba
Cũng đừng nuối tiếc xót xa, ưu phiền
Còn ngày nào – Khỏe là “Tiên”
Địa vị là tạm, nhà, tiền của con
Qua rồi cái thuở vàng son
Thời gian còn lại, hoàng hôn tới rồi
Cần vui chơi, thì vui chơi
Nâng cao hưởng thụ, cho tươi tuổi già
Tự ta, lo liệu cho ta
Đừng chờ báo đáp để mà khổ tâm
Đâu rồi tri kỷ, tri âm
Đâu người đố kỵ, thâm trầm, ghét ghen?
Cõi đời là chốn bon chen
Sống cho ta, mặc ai khen ai cười
Đã sinh làm một kiếp người
Cầu toàn đâu dễ, trên đời mấy ai?!
Tuổi già đừng mất trí trai
Vẫn đam mê, vẫn miệt mài, tự tin
Đa tầng, đa sắc, đa nguyên…
Tình trong, tâm sáng là tiên cõi trần
Già thường “Ôn cố tri tân”
Với cháu con với người thân của mình
Ngọt ngào từ buổi bình minh
Đắng cay từ thuở mưu sinh cơ hàn
Thời gian trải nghiệm là vàng
Biết điều vinh, nhục, giàu sang, nghèo, hèn
Biết nhường dưới, biết kính trên
Thức thâu đêm, mới biết đêm thật dài…
Sân ga – Đã cuối đường đời
Vinh quang xưa, đã qua rồi còn đâu?
Ai còn nghĩa nặng, tình sâu
Thì mời đi nốt cùng nhau đoạn đường
Chẳng còn toan tính, vấn vương
Sống mà thanh thản, mọi đường thăng hoa…
Người già lo giữ nếp nhà
Gia đình con cháu thuận hòa là vui
Xưa nay trong đạo làm người
Hiếu, Trung, Tiết, Nghĩa, chẳng đời nào quên
Mong cho con cháu giữ gìn
Đừng vì đồng tiền, để mất sạch trong
Đời người “Sắc sắc, không không”
Sống cho cao thượng, để không thấp hèn
Bon chen được mấy mà chen
Lương tâm hổ thẹn, buồn phiền cháu con
Khi “còn” – nước nước, non non
Khi “về” – chấm hết, thật tròn là vui!…

                                    (NMĐ sưu tầm)
Ông lão viết blog Dương Trạch Tế
và những tâm sự tuổi già

Tâm sự tuổi già - đôi điều cảm ngộ Dương Trạch Tế (Trung Quốc) Trang Hạ dịch Tháng năm vội vã, đời người ngắn quá, chớp mắt đã già. Chúng ta nào dám nói đã thấu hết lẽ đời, nhưng ta cảm thấy, chỉ có hiểu đời, mới sống được ung dung, thanh thản. Tôi muốn viết đôi dòng “cảm nhận nhỏ nhoi” gửi tới những bạn già, để được mọi người chia sẻ những “cảm nhận lớn lao” hơn, để ta cùng cố gắng.

1. Cách sống: Qua một ngày, mất một ngày. Vui một ngày, lãi một ngày.
2. Hạnh phúc và niềm vui: Hạnh phúc không tự gọi cửa tìm đến ta, niềm vui cũng không tự rơi từ trên trời xuống, mà đều phải tự tay mình tạo dựng nên. Niềm vui là mục đích cuối cùng của đời mình, niềm vui ở ngay trong những việc vụn vặt của cuộc sống, ta phải tự mình tìm lấy. Hạnh phúc và niềm vui là một thứ cảm xúc và cảm nhận, quan trọng là ở tâm trạng mình.
3. Tiền bạc: Tiền không phải là vạn năng, tăng lực, nhưng không tiền thì vạn sự bất lực (*). Không nên quá coi trọng đồng tiền, lại càng không nên tính toán tiền bạc, nếu hiểu ra, sẽ thấy tiền chỉ là thứ đồ vật ở ngoài thân, khi ta chào đời ta đâu mang tới, khi ta chết đi lại chẳng mang theo. Nếu có người cần ta giúp đỡ, khảng khái mở hầu bao chính là một niềm vui lớn. Nếu tiền bạc mua được sức khỏe và niềm vui, cớ gì chần chừ nữa? Nếu bỏ tiền ra để được an nhàn tự tại, chẳng phải xứng đáng sao! Người hiểu biết là người biết cách kiếm tiền biết cách tiêu pha, làm chủ đồng tiền chứ đừng làm nô lệ cho nó.
4. Học cách hưởng thụ: “Phần đời còn lại ngắn ngủi, càng phải làm cho nó giàu có”. Người già phải biết đổi nếp nghĩ cũ, tạm biệt cách sống như tu hành, để làm loài chim vui. Cần ăn thì ăn, muốn mặc phải mặc, thèm chơi hãy chơi, không ngừng nâng cao chất lượng sống, đón nhận những thành quả của thời đại công nghệ, mới là mục đích sống của tuổi già.
5. Sức khỏe quan trọng nhất: Tiền bạc là của con mình, địa vị chỉ tạm thời giữ, vinh quang thuộc về quá khứ, sức khỏe mới là của ta.
6. Khác biệt: Tình yêu bố mẹ dành cho con là vô hạn, con yêu bố mẹ có hạn; Con cái bệnh tật bố mẹ lo âu, bố mẹ bệnh tật con cái hỏi han vài lời là thấy thỏa mãn; Con cái tiêu tiền bố mẹ thì dễ, bố mẹ tiêu tiền con cái thì khó; Nhà bố mẹ chính là nhà của con, nhà con lại chẳng phải nhà bố mẹ. Khác biệt là khác biệt. Người hiểu ra sẽ thấy lo liệu cho con chính là trách nhiệm và niềm vui, chẳng đòi con báo đáp, còn người cứ muốn được con báo đáp, là tự chuốc ưu phiền.
7. Bệnh tật trông cậy ai: Cậy con, bệnh nặng ốm lâu con mệt mỏi vắng bóng. Cậy bạn đời, người già tự lo thân chưa xuể, lấy đâu sức lực mà chăm nhau. Cậy tiền, có lẽ phải vậy.
8. Trân trọng những gì đã có: Ta thường coi nhẹ những gì trong tay, ta thường tiếc nuối những gì không có. Nhưng cuộc sống hạnh phúc đủ đầy lại bởi ta có biết cách cảm nhận cuộc sống chăng. Người hiểu đời sẽ trân trọng và nâng niu những gì đã có, cho nó thêm ý nghĩa trong đời mình, để sống tràn đầy và say mê vui sướng.
9. Cách nắm giữ niềm vui: Phải giữ tấm lòng rộng mở bao dung, để cảm ơn đời và tận hưởng sự sống. So với người trên nào bằng, ngoảnh xuống kẻ dưới thấy đủ, thấy đủ là thấy vui nhẹ nhõm; Nuôi dưỡng nhiều niềm say mê, vui thú ấy nào cạn, ta tự tìm lấy được niềm vui; Tốt với người đời, thường làm việc thiện, vui khi giúp người. Đó là những cách nắm giữ niềm vui, cũng mạnh khỏe trong tâm.
10. Dung dị mới là cốt lõi: Chức cao bổng lộc nhiều, địa vị hiển hách được mấy ai, số đông chúng ta chỉ là thường dân. Nhưng thiểu số ấy chưa chắc đã hạnh phúc, còn đám đông thường dân như chúng ta lại chưa chắc đã bất hạnh, nên ta cần gì nhìn lên đám thiểu số giàu sang đó mà tự ti, thèm muốn. Con người vốn không phân chia đẳng cấp giàu nghèo sang hèn, chỉ phân chia có tận tâm tận lực với sự nghiệp hay không mà thôi, là đã được coi có công với đời, lòng dạ thanh thản, không hổ thẹn với ai, nữa là con người ta đã lui về rồi thì đều giống nhau cả, chốn sau cùng của chúng ta đều là về với thiên nhiên. Kỳ thực, chức cao nào bằng thọ lâu, thọ lâu nào bằng sống vui lâu, sống vui mới chính là hạnh phúc.
11. Hãy sống đích thực cho chính mình: Con người quá nửa đời là hy sinh vì sự nghiệp, gia đình, con cái, thời gian giờ còn lại đâu nhiều, hãy sống đích thực cho chính mình, sống sao thấy vui thì sống, làm những gì mình muốn làm và mong làm, đừng ngại ngần người khác đàm tiếu, bởi ta đâu phải sống hộ người khác, mà ta đang sống cuộc đời của chính bản thân ta.
12. Không cầu toàn: Con người sống trên đời này làm sao có thể vạn sự như ý, tất sẽ có những điều thiếu sót tiếc nuối, càng mong hoàn hảo càng khổ sở, chi bằng thanh thản đối diện hiện tại, tùy hoàn cảnh mà sống.
13. Già và không già: Người già tâm hồn trẻ, tức là không già. Người chưa già nhưng tâm hồn già cỗi, vậy đã già nua. Nhưng mọi vấn đề vẫn cần nghe người già.
14. Chú ý điều độ: Sống là phải vận động, nhưng không nên quá sức; ăn uống đạm bạc thì không đủ dinh dưỡng nhưng thịt cá nhiều cũng không tiêu hóa nổi; Nhàn hạ quá thì quạnh quẽ, nhưng khách khứa lắm lại nhiều lo toan, cho nên việc gì cũng nên giữ lấy chữ “điều độ”.
15. Làm một người thông minh: Kẻ ngốc tự chuốc bệnh (vì hút thuốc, nghiện rượu, ăn uống vô tội vạ); kẻ thiếu kiến thức thì chờ bệnh tới (chờ ốm mới đi bệnh viện); còn người thông minh thì phòng bệnh; hãy tốt với chính mình, hãy giữ gìn sinh mệnh của mình.
16. Đừng lầm lẫn: Chờ khát mới uống, đợi đói mới ăn, phải mệt mới nghỉ, buồn ngủ mới ngủ, sinh bệnh mới đi viện, lúc đó đã muộn rồi.
17. Lạc quan và bi quan: Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp phụ thuộc vào cách họ nghĩ, lạc quan thì mọi việc đều suy nghĩ theo hướng có lợi, nếu lạc quan để quy hoạch quãng đời tuổi già, sẽ được sống đầy tự tin và đầy sức sống, ngày tháng trôi qua sẽ đầy màu sắc; nếu dùng cách nghĩ bi quan sẽ sống trong tâm trạng chán nản tiêu cực, tất già sớm chết sớm.
18. Học cách vui chơi: Chơi là một trong những nhu cầu của người già, hãy mang một trái tim thơ trẻ để chọn thú chơi mình thích, trải nghiệm những niềm vui khi chiến thắng, cũng không giận khi thua, không làm nư, từ góc độ tâm lý và sinh lý, người già cũng cần sự hào hứng vừa đủ, để giữ cho tuần hoàn tốt.
19. Làm một người già “mạnh khỏe toàn diện”: Mạnh khỏe toàn diện tức là khỏe về thể chất, tâm lý lẫn đạo đức. Mạnh khỏe về tâm lý tức là sức chịu đựng cao, sức kiềm chế tốt và có năng lực giao tiếp thân thiện; Mạnh khỏe về đạo đức tức là luôn có lòng yêu thương, vui vẻ giúp đỡ người khác, tính tình điềm đạm, lòng dạ rộng rãi, thiện tâm tất thọ lâu.
20. Hòa nhập với xã hội: Con người là người của xã hội, không được phép sống tách rời biệt lập, lãnh đạm với đời, phải chủ động tham gia hoạt động công ích tập thể, hoàn thiện bản thân từ trong hoạt động chung, thể hiện được giá trị bản thân, đó mới là một cách sống lành mạnh.
21. Kết giao rộng rãi: Cuộc sống cuối đời nên có nhiều tầng thứ đa dạng, phong phú đầy màu sắc. Một hai người bạn thâm giao nào thể đủ, phải có nhiều bạn bè mới làm cuộc sống tuổi già tươi mới. Để bạn sống mê say vui tươi, muôn hình vạn vẻ.
22. Nỗi đau: Khi con người phải đối diện nỗi đau, chịu đựng, giải thoát cũng như xóa nhòa nỗi đau, nói cho cùng vẫn phải dựa vào chính bản thân mình, thời gian là vị thầy thuốc tốt nhất, nhưng quan trọng là ở chỗ bạn sẽ chọn cách sống như thế nào trong quãng thời gian ấy.
23. Hoài niệm quá khứ: Vì sao người ta già rồi thường nhớ quá khứ? Con người về già, sự nghiệp đã đi đến chặng cuối, những huy hoàng dĩ vãng đã biến thành mây khói trong mắt, ta đang đứng ở ga cuối của cuộc đời,  gột sạch những dục vọng trong lòng, tinh thần cần thăng hoa, chỉ mong lại tìm thấy được chân tình. Lúc này, chỉ có quay về chơi chốn cũ, gặp gỡ người thân bạn bè, cùng ôn lại những giấc mơ thiếu thời, cùng bạn học cũ hàn huyên lại những niềm vui thời tuổi trẻ, mới cảm thấy được sức sống của thời trẻ. Trân trọng những chân tình, đón nhận những tình thân cũng là một niềm vui lớn của cuộc sống người già.
24. Thuận lẽ tự nhiên: Nếu bạn đã cố gắng hết mình nhưng vẫn không thay đổi được những gì bạn không mong muốn, vậy hãy để nó thuận theo lẽ tự nhiên thôi! Có lẽ đó cũng là một cách giải thoát. Mọi chuyện ở đời làm sao cưỡng ép theo ý muốn, những trái dưa ép chín cũng đâu có ngọt.
25. Thanh thản đối diện cái chết: Sinh lão bệnh tử, quy luật muôn đời, ai người trốn được. Khi cái chết sẽ không buông tha bạn, tại sao ta không đối diện nó, mỉm cười kiêu ngạo. Chỉ những người đã sống cương trực, không hổ thẹn lương tâm, mới có thể bình an thanh thản, cho mình một dấu chấm hết thật tròn vẹn.


Những dòng tâm sự về đạo lý con người này do một blogger Trung Quốc sinh năm 1937 tên là Dương Trạch Tế viết ra, khi viết, ông tròn 71 tuổi. Vốn tốt nghiệp ngành hàng hải năm 1960, phục vụ trong quân đội của Trung Quốc suốt 40 năm mới nghỉ hưu, tuổi già sống trong bệnh tật. Bạn già của Dương Trạch Tế nhận xét, ông là một người khiêm tốn.

Điều đáng chú ý là, entry “tâm sự tuổi già – đôi điều cảm ngộ” này được lưu truyền tại Việt Nam và được rất nhiều bạn đọc thích thú, tâm đắc, nhưng lại mang tên tác giả là cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ. Nhiều người tích cực lưu truyền, in ra giấy phân phát cho nhiều người già tại các thành phố với lời dặn dò, đây là lời dặn của cựu thủ tướng Chu Dung Cơ. Trong khi trên toàn bộ hàng triệu trang mạng tiếng Hoa không hề có bất kỳ một lần nào xuất hiện tên Chu Dung Cơ dưới bài này.
Tôi cho rằng, sự nhầm lẫn này là do dịch giả hoặc độc giả Việt Nam trước đây. Thật không vui gì khi dịch lại một bản dịch đã có người làm, nhưng tôi thích trả lại sự chính xác cho văn bản này, tôi cũng không thích những sự “sửa chữa” của người dịch cũ, tôi càng mong muốn trả lại tên đích thực cho tác giả và tác phẩm. Có thể tôi khó tính, nhưng tôi có lý.
(*)  Tạm dịch theo cách chơi chữ của tác giả: “vạn năng” đối lập với ”vạn vạn bất năng”).
Nguồn tin: http://trangha.vn/2010/06/18/tamsutuoigia/
Top of Form

Bottom of Form

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

Vũ Khoan - Giơ-ne-vơ để lại bài học gì?


Đăng bởi Hai Hoang Van vào Chủ Nhật, ngày 13 tháng 7 năm 2014

Thấm thoắt đã 60 năm kể từ khi diễn ra hai sự kiện lịch sử của nước ta liên quan mật thiết với nhau. Đó là chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông dương. Về hai sự kiện này đã có cơ man bài viết, cuốn sách; bổ sung điều gì mới mẻ thật khó.

Tuy nhiên mỗi người lại có thẻ rút ra điều gì đó có ích cho mình và tôi muốn chia xẻ vài suy ngẫm rất riêng tư về những bài học rút ra qua Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 qua một số tài liệu vừa đọc được.

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

            GS TRẦN QUỐC VƯỢNG
 – MẤY VẤN ĐỀ VỀ VUA GIA LONG


* PHẦN MỘT

0.1. Tôi không phải là một chuyên gia về lịch sử, đặc biệt là về nhà Nguyễn, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng có những nghĩ suy và thực ra là từ những năm giữa thập kỷ 70 cho đến gần đây, đầu xuân Bính Tý 1996. Tôi vẫn thường qua lại xứ Huế và viết dăm bẩy bài về vị thế địa – văn hóa của xứ Huế và vai trò của các chúa Nguyễn, bắt đầu từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613) đến các vua đầu nhà Nguyễn, mở đầu là vua Gia Long (1802-1820) và kết thúc là vua Bảo Đại (1925-1945).
Tôi đã nói và viết tản mạn nhiều vấn đề về xứ Đàng Trong, về thời Nguyễn và nhà Nguyễn.