Menu ngang

Thứ Ba, 27 tháng 7, 2021

 

CÓ MỘT NGƯỜI THƯƠNG BINH NHƯ THẾ

 

                                                     NGUYÊN THANH

 

 

Anh, một người lính xuất thân từ một vùng quê nghèo miền Trung gió lào, cát trắng. Từ giã tuổi học trò khi đang học dở Lớp chín, trốn cha và nhờ bạn khám tuyển thay, Anh xung phong nhập ngũ khi vừa tròn 16 tuổi, ra đi mang theo nhiệt huyết của lớp trẻ Việt Nam trong những năm đánh Mỹ:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
        Mà lòng phơi phới dậy tương lai

 

Anh từng là người lính trinh sát rồi đặc công dũng cảm, đầy mưu trí có mặt trên các chiến trường Nam Lào, Quảng Trị Thừa Thiên Huế trong những năm chống Mỹ cam go, ác liệt nhất từ năm 1964 - 1971. Với trí nhớ đặc biệt và sự thông minh trời phú cùng với tính gan góc của người dân xứ Nghệ, Anh đã nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận, có vai trò quyết định khi chỉ huy nhiều trận đánh trên chiến trường Trị Thiên.  Cũng như bao người lính cùng thời, Anh đã nếm trải những gian khổ, hiểm nguy  nơi chiến trường khốc liệt, từng vào ra sinh tử chiến đấu cùng với đồng đội .

Anh, một người lính đã từng viết Di Chúc trong những ngày cam go ác liệt nhất, khi vừa tròn hai mươi tuổi để gửi Cha mình như một lời hứa danh dự kế thừa truyền thống gia đình, dòng họ: Sống hết mình vì Tổ quốc, quê hương. Anh đã sống và chiến đấu đúng như lý tưởng của mình, những trận địa trinh sát gay go nhất Anh đều có mặt, những trận đánh ác liệt nhất Anh đều tham gia trong vai trò vừa chỉ huy, vừa chiến đấu. Hòn tên mũi đạn chẳng chừa ai. Sau bảy năm chiến đấu, năm 1971, Anh bị thương nặng trong một trận chiến đấu ở chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Một viên đạn của kẻ thù đã chui sâu vào lá phổi của Anh. Do bị mất máu nhiều và vết thương quá nặng, tưởng chừng không qua khỏi, anh đã nói lời trăng trối cùng đồng đội, nói lời chào từ biệt mọi người.  Với tia hi vọng hết sức mong manh, đồng đội đã chuyển Anh về tuyến sau cứu chữa. Sau nhiều tháng vật lộn với tử thần, Anh đã được hồi sinh nhờ sự tận tâm của các y, bác sỹ quân y, và có lẽ  cũng nhờ sự che chở của Tổ tiên linh thiêng hướng tới người con ưu tú của dòng họ Nguyễn Đình. Anh được chuyển về Quân y viện 108 với một cơ thể suy nhược, gầy gò, nặng chỉ còn 36 kg, và không thể tự phục vụ được mình, cùng với viên đạn nằm vĩnh viễn trong cơ thể. Tỷ lệ thương tật của Anh lên tới 63% ( sau này cộng thêm 35%  nhiễm chất độc da cam ). Tính ra, Anh đã để lại nơi chiến trường phần lớn sức khỏe của mình. Anh trở thành một thương binh! Hồi đó, Anh có thể được giải ngũ trở về quê hương như bao nhiêu người thương binh khác. Thế nhưng, Anh vẫn muốn được tiếp tục theo đuổi con đường binh nghiệp mà Anh đã lựa chọn. Phải chăng, đây là số phận của Anh?  Anh đã chọn binh nghiệp hay binh nghiệp lựa chọn Anh - một con người TRÍ DŨNG SONG TOÀN.

Rời chiến trường, Anh được điều về công tác ở Cục Chính sách TCCT.  Cố quên đi những  nỗi đau đớn của thương tật, bằng  ý chí, nghị lực và sức trẻ , anh đã miệt mài làm việc và hối hả học tập như để bù đắp lại những năm tháng chiến đấu ở chiến trường đã phải gác bút nghiên.  Khi không còn tuổi học sinh nữa, Anh tham gia học bổ túc văn hóa.  Mặc dù nghỉ học đã ngót mười năm, nhưng khi đi học lại bổ túc chương trình Cấp ba,  Anh đã  đọat giải trong kỳ thi học sinh giỏi Toán BTVH của Thủ đô Hà Nội.  Thật đáng nể cho trí tuệ và ý chí của Anh.  Sau đó, Anh đã bền chí học hành có hai tấm bằng tốt nghiệp đại học ở Hà Nội

 Trên chặng đường công tác của mình, Anh đã trải qua nhiều cương vị khác nhau: Là Cục trưởng Cục Chính sách TCCT ; là Phó hiệu trưởng về Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1; Là Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật - Bộ Quốc phòng… Ở cương vị nào, Anh cũng cống hiến  hết mình và để lại dấu ấn đặc biệt cùng với sự tin tưởng của cấp trên và lòng kính trọng, khâm phục của anh em, đồng đội.

          Về tài năng, đức độ và cống hiến của Anh trong chặng đường Binh nghiệp thì đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng cấp bậc quân hàm Trung tướng và các tấm huân chương Chiến công, Quân công cao quý. Một sự đánh giá công lao xứng đáng và một vinh dự lớn lao không chỉ cho cuộc đời Anh mà còn là niềm kiêu hãnh, tự hào cho Gia đình, Dòng tộc, Quê hương. Điều tôi muốn nói tới trong bài viết này là sự trọn nghĩa, vẹn tình của Anh - một người thương binh đối với đồng chí, đồng đội và quê hương.  

  Là một người từng trực tiếp cầm súng chiến đấu ở chiến trường , từng vào ra sinh tử nơi trận mạc, Anh hiểu những mất mát đau thương cũng như những tâm tư, nguyện vọng của người lính. Do vậy, Anh đã tham mưu và đề đạt nên những chính sách thích hợp và thỏa đáng cho những người có công với cách mạng. Trong đó, không thể không nhắc đến việc phong tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Một việc làm hết sức cao cả, có ý nghĩa nhân văn, thể hiện được đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, sống trọn nghĩa thủy chung của dân tộc ta, góp phần xoa dịu nỗi đau cho các Mẹ và hương hồn các liệt sĩ.

Chiến tranh đã qua đi, nhưng trong  Anh luôn khắc khoải nỗi đau đớn, xót thương những người đồng đội vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Anh đã gửi lòng mình vào những lời thơ như xé ruột trong những trang thơ viết về đồng đội:

 

Đất nước ta bao năm ròng binh lửa

“ Ai đếm nổi khăn tang

Ai đong màu chiến trường”

Ai tính hết số làng quê chìm dưới đạn bom

Chiến thắng- hi sinh, quyện hòa cùng lịch sử

 

Bao mẹ già đau đáu ngóng tin con

Người  vợ trẻ trông mong chồng mòn mỏi

Biết bao người ra đi

Xiết bao người chờ đợi.

Chiến thắng rồi...

Ngày đoàn tụ lùi xa!

 

           ( Trích “Đất nước ta”- In trong tập: Một chữ tình).

                         

      Đồng đội có thấu cho chăng, Anh đã giải tỏa nỗi day dứt, nhớ thương của mình vào hồn cốt từng bài thơ như chuyển lời tri âm tới hương linh các anh hùng, liệt sĩ.

       Khi đã nghỉ hưu, Anh  vẫn không cho phép mình được nghỉ ngơi, Anh lại miệt mài “ cày xới trên cánh đồng chữ nghĩa” để sáng tác văn chương. Chỉ trong mấy năm mà Anh đã cho ra đời hai tập thơ với hàng trăm bài thơ để trải lòng mình với anh em, bè bạn. Anh đã ôn lại những năm tháng trong cuộc đời binh nghiệp bằng tập hồi ký : “ Những nẻo đường thời gian ” như  những lời ghi nhớ công lao và tri ân đồng đội.  Để quê hương  không lãng quên những người có đóng góp nhiều cho Cách mạng, Anh đã tẩn mẩn sưu tầm và viết về “ Những tướng lĩnh, anh hùng quê hương Nghi Lộc - Nghệ An”.

  Anh còn  thể hiện những quan điểm, những chính kiến  sâu sắc của mình về nhân sinh, thế thái qua những bài viết trong tập: “ Suy ngẫm Luận bàn”. Không chỉ dừng lại ở đó, Anh còn tham gia thẩm bình, đánh giá các tác phẩm văn chương một cách hết sức xuất sắc. Thật đáng kính nể cho năng lực và cường độ làm việc của một thương binh như Anh!

  Chiến tranh đã lùi xa, Anh đã từ giã cuộc đời binh nghiệp trở về nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Nhưng di chứng của chiến tranh vẫn còn hằn sâu trên cơ thể Anh. Đó là nỗi đau nhức nhối do vết thương hành hạ mỗi khi trái gió, trở trời, khiến Anh nhiều đêm thao thức không ngủ:

 

                                        Em hỏi, đêm qua ngủ được chăng

                               Anh rằng, vẫn vậy suốt bao năm

                               Mỗi bận trở trời y chang thế

                               Vết thương lại nhức- thức tròn canh !

                           

                               Thỉnh thoảng trở trời , chẳng có sao

                               Đã quen nhức nhối vết thương đau

                               Nhớ bao đứa bạn cùng trang lứa

                              Chẳng có ngày về- để thức đâu !

                                                                             

                                                            ( Đêm không ngủ)

           

 Anh hình như đã quên đi tỷ lệ thương tật và tỷ lệ mắc chất độc da cam trong cơ thể mình để vui sống và tiếp tục làm việc trong quãng đời còn lại. Trong tâm niệm của Anh: So với đồng đội mình còn may mắn hơn nhiều. Như  Anh đã thổ lộ trong một bài thơ :  « Thuở cả nước hành quân ra trận- Mất mát hi sinh đâu chỉ có riêng mình ». Nghĩ sao làm vậy.  Anh đã sống với cái  tâm coi trọng ân nghĩa bằng tất cả sự thủy chung với quá khứ, với đồng đội.   Điều đó được thể hiện bằng hành động đáng trân trọng ở Anh là những chuyến viếng thăm thường xuyên hàng năm của Anh tới các Nghĩa trang liệt sĩ, tới những nơi mà Anh đã từng tham gia chiến đấu. Anh muốn hàng năm được tới viếng thăm đồng đội như một sự trả nghĩa cho đời và tri ân đồng đội. Giờ đây, đã bước qua tuổi “ cổ lai hi”,  nhưng trong những ngày hè nắng như đổ lửa, gió lào hầm hập như thiêu đốt,  không quản ngại đường sá xa xôi, Anh vẫn tiếp tục rong ruổi vào miền Trung, tới nghĩa trang Việt Lào, nghĩa trang Trường Sơn hay đi thăm lại chiến trường Thừa Thiên. Người  người đã nghẹn lòng khi nghe đọc những lời văn khấn anh linh đồng đội từ tâm mình viết ra :

 

                        Mấy mươi năm sinh tử biệt ly

                         Đôi ngả âm dương cách trở

                         Vĩnh hằng đồng đội thấu chăng

                         Ân tình khôn bề giải tỏ

                       

                          Xin cúi mình tưởng nhớ tri ân

                          Đồng đội một thời binh lửa

                           Hỡi vong hồn liệt sĩ anh linh

                          Tình nặng nghĩa sâu

                                            ngàn sau còn đó

 

                                          Kính cẩn dâng hương.

                                          ( Trích : «  Văn tế các liệt sĩ ....» 

  

Động lực nào đã tạo nên sức mạnh như vậy cho một người thương binh? Phải chăng, đó là ý chí, là bản lĩnh của người lính chiến xông pha trên chiến trường năm xưa cộng với tình người mang nặng ân nghĩa với cuộc đời. Cho nên, Anh muốn sống hết mình để trả nghĩa cho Đời. Để xứng đáng với sự hi sinh của lớp lớp đồng đội đã đổ xương máu cho Độc lập của Tổ Quốc hôm nay.

 

 Anh rời xa quê khi chỉ mới tròn 16 tuổi, là một thương binh đã có nhiều cống hiến và đóng góp cho đất nước trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước…  Ngót 60 năm xa quê, nhưng lòng Anh vẫn đau đáu một nỗi niềm thương nhớ, day dứt khi nghĩ về vùng quê nghèo khó của mình. Anh vẫn băn khoăn mình chưa đóng góp được gì cho quê hương. Anh thương những đứa trẻ vùng thôn quê không đủ sách vở tới trường nhưng vẫn ráng vươn lên học hành chăm chỉ. Trong mỗi chuyến trở về thăm quê, nhìn lại mái trường xưa, Anh như thấy lại tuổi thơ của mình. Để khơi dậy lòng hiếu học cho các cháu học sinh, Anh đã dùng 1 tỷ đồng tiền tiết kiệm của mình để lập Quỹ khuyến học mang tên Anh, gửi cho trường Tiểu học xã nhà. Nghĩa tình sâu nặng của Anh dành cho quê hương thật đáng trân trọng !

          Người Thương binh đó không những tài năng và nghị lực mà anh còn là một con người LỊCH LÃM, HÀO  HOA, VĂN VÕ SONG TOÀN. Anh, một người lính- một vị Tướng phong trần, lãng tử lại giỏi văn thơ, đàm luận thì khúc triết, sâu sắc, nói năng thấu tình, đạt lý. Ai đã tiếp xúc với Anh thì khó có thể không ấn tượng về Anh. Hơn nữa, ở Anh lại còn có cách sống quan tâm chu đáo tới mọi người, sống vô tư, hết mình, chí tình chí nghĩa, giàu lòng trắc ẩn. 

 

Tôi thực sự khâm phục Anh - Một thương binh giàu ý chí và nghị lực, sống xứng đáng với danh hiệu Anh bộ đội Cụ Hồ, xứng đáng với  gia đình, dòng họ  giàu truyền thống yêu nước từ bao đời nay.

  Người thương binh đó là : Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, người Nghi Lộc quê tôi.

Nhân Ngày 27/7, xin chúc Anh mạnh khỏe, hạnh phúc !

         

 

 

 

                                   

 

NÉN HƯƠNG TƯỞNG NIỆM

Kính tặng: Trung tướng, AHLLVTND

                    Nguyễn Quốc Thước 


Vị tướng già trải một đời trận mạc 

Vẫn hành hương trở lại chiến trường xưa

Bao đồng đội cùng một thời binh lửa

Hàng dọc, hàng ngang lặng ngắt như tờ.


Ông đã đi về mười mấy nghĩa trang

Từ Tây Nguyên, Tây Ninh ra Côn Đảo

Nắng núi mưa ngàn kèm theo giông bão 

Khó khăn nào ngăn nổi nghĩa thủy chung.


Vị tướng già đã ngoại chín mươi xuân 

Ra Bắc vào Nam dặm trường năm tháng 

Chân lặng bước giữa những hàng mộ trắng 

Nén hương thơm giãi tỏ tấm lòng son !


                                      N M Đ 

 ĐÊM KHÓ NGỦ

Đêm qua trời đổ mưa
Lại khó vào giấc ngủ
Đau nhức vết thương xưa
Dứt day bao điều nữa ...

Khuya - đầu óc vật vờ
Lang thang trong bộ nhớ
Chuyện nay, chuyện xa xưa
Đan buồn vui ... dang dở.
Những đêm dài thao thức
Lãng du nẻo phương trời
Phiêu diêu miền ký ức
Bao hoài niệm đầy vơi !


Mỹ Đình, đêm 26/7/2021

 PHONG VŨ BIỂU

Đêm qua người nhức mỏi
Ắt hẳn sẽ trở trời
Sáng nay nghe Đài nói
Bão đang ở ngoài khơi.

Từ ngày mang vết thương
Tôi thành “ Phong Vũ Biểu “
Khi trằn trọc canh trường
Y chang sắp mưa bão.

Vừa tròn nửa thế kỷ
Đêm bị thương công đồn
Từ chiến binh trai trẻ
Giờ, đã một lão ông.
Trải qua mấy cuộc chiến
Đất nước giành vinh quang
Với biết bao cống hiến
Hơn triệu người hy sinh.

Chiến tranh đã lùi xa
Vết thương còn nhức nhối
Sự gắng gỏi lặng thầm
Giữa dòng đời trôi nổi.

Ấy là “ Phong Vũ Biểu “
Thương nhớ biết bao người
Hoá thân vào Đất Nước
Giữa tuổi đời đôi mươi.


22/7/2021

 HÀ NỘI, NGÀY ĐẦU GIÃN CÁCH XÃ HỘI

Thương biết bao phận đời
Đường mưu sinh trầy trật
Thương những người ốm đau
Nhập viện mùa Covid.

Các cháu không vui chơi
Quẩn quanh nhà suốt buổi
Các cụ già cao tuổi
Nhức nhối thêm bệnh nền.

Gái trai đến hồi cưới
Đành tạm dừng ngày vui
Những ai vĩnh biệt đời
Vắng thưa người đưa tiễn.

Mọi thứ đang chững lại
Cuộc sống phải lặng trầm
Ngoài kia phố phường vắng
Nhà với nhà cách ngăn.

Phong tỏa ngừa Covid
Suốt ngày bám mặt bàn
Nếu không Enternet
Già hưu làm gì hơn!

Vì tương lai phía trước
Vì an sinh cộng đồng
Mọi người phòng Covid
Ấy là mục tiêu chung !


Mỹ Đình, 9 h 25 ngày 24/7/2021

 GÓP MẶT TRÊN BÁO VĂN NGHỆ, NHÂN DỊP KN 27/7

Đại tá, Nhà báo, Nhà thơ Mai Nam Thắng - người bạn thân quý từ nhiều năm - đã có cuộc phỏng vấn tôi và đăng lên báo Văn Nghệ số ra ngày hôm qua, 21/7/2021.
Tôi đăng toàn văn lên đây để bạn bè
Fb đọc.
Xin cám ơn thiện ý của Nhà thơ Mai Nam Thắng và Nhà văn, Tổng biên tập Khuất Quang Thụy - những đồng đội cũ !
ĐI MỸ LÀM CHÍNH SÁCH
MAI NAM THẮNG thực hiện
Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu - nguyên Cục trưởng Cục chính sách, thuộc Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam - là Cựu chiến binh mặt trận Trị Thiên những năm 1966-1971, từng được thưởng 2 Huân chương Chiến công vì thành tích chiến đấu. Thời kỳ tại chức vào những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, ông là sĩ quan cao cấp đầu tiên của Bộ Quốc phòng đi Mỹ để sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu từ phía Mỹ để thực hiện các chính sách về liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và cựu chiến binh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Báo Văn Nghệ đã có cuộc trò chuyện với Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu về chuyến công tác đặc biệt trên đây.
Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU cho biết:
- Từ khi hai Nhà nước Hoa Kỳ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ vào tháng 7-1995, đến giữa năm 1999, Bộ Quốc phòng 2 nước đã có các hoạt động thăm viếng, hội đàm, trao đổi hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Bộ Quốc phòng nước ta đã cử hai đoàn cán bộ cấp cao sang Mỹ công tác. Đó là đoàn của Trung tướng Trần Hanh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và của Đại tá Vũ Tần, Cục trưởng Cục Đối ngoại. Như vậy, chúng tôi là đoàn thứ ba của Bộ Quốc phòng Viêt Nam đi Mỹ, nhưng là đoàn đầu tiên đi thực thi công tác về chính sách cho liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và cựu chiến binh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
* Trước chuyến đi của các ông, 2 bên đã có những hoạt động trao đổi, hợp tác gì về lĩnh vực này?
Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU: - Ngay cả trước khi 2 nhà nước chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ, các tổ chức cựu chiến binh 2 nước đã có những hoạt động “ngoại giao nhân dân” khá ấn tượng và có tác dụng tích cực thúc đẩy tiến trình bình thướng hóa quan hệ ngoại giao nhà nước. Đặc biệt từ năm 1995, Hội Cựu Chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam (VVA) đã tổ chức nhiều đoàn sang thăm và làm việc tại nước ta. Nhằm khai thác thêm các kênh thông tin góp phần giải quyết những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh chống Mỹ, lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã giao cho tôi với cương vị Cục trưởng Cục Chính sách, đã nhiều lần gặp gỡ tiếp xúc với các đoàn Đại biểu Cựu chiến binh trên đây để tiếp nhận các tài liệu, hiện vật có liên quan đến bộ đội ta bị bắt, bị hi sinh mà các cựu chiến binh Mỹ tham chiến Việt Nam nắm được. Theo đó, Cục Chính sách đã triển khai khai nghiên cứu, khai thác và đạt được một số kết quả nhất định trong công tác tìm kiếm cất bốc qui tập mộ liệt sĩ, xác minh một số trường hợp còn “ẩn khất” trong chiến tranh. Từ những kết quả đó, Việt Nam đã cử Đoàn công tác liên ngành sang làm việc tại Mỹ từ ngày 20-8 đến ngày 29-8-1999; nhằm nghiên cứu hồ sơ liên quan đến việc tìm kiếm chiến sĩ ta hy sinh, mất tích trong chiến tranh chống Mỹ. Đoàn gồm có tôi là Cục trưởng Chính sách của Bộ Quốc phòng; Thiếu tá Huỳnh Trọng Tuấn là cán bộ Cục Bảo vệ An ninh thuộc Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Trung tá Nguyễn Thế Công là cán bộ Cục A35 của Bộ Công an (sau này là Thiếu tướng, Cục trưởng A35) và anh Vũ Việt Dũng là cán bộ Vụ Châu Mỹ của Bộ Ngoại giao. Tôi được cấp trên phân công làm Đoàn trưởng.
* Ông có thể kể đôi điều về chuyến công tác đặc biệt trên đây?
Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU: - Đoàn chúng tôi xuống sân bay Washington / Reagan lúc 21 giờ ngày 21-8-1999. Ra đón chúng tôi, ngoài Tùy viên quân sự Việt Nam tại Mỹ còn có ông Destas đại diện cho Văn phòng người Mỹ mất tích (DPMO) và đại úy Huy Tuấn là Việt kiều phục vụ trong quân đội Mỹ. Chúng tôi về nghỉ tại khách sạn Embassy Suite.
Ngày 22-8, tại Văn phòng tìm kiếm người mất tích của Mỹ (DPMO), chúng tôi đã nghe thuyết trình về việc tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong các cuộc chiến tranh. Sau đó, gặp và làm việc với ông Robert Jones là Phó Trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ. Robert Jones nói rằng, trên cương vị đương nhiệm, ông sẽ đề nghị Bộ Quốc phòng Mỹ hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam trong việc cung cấp thông tin và cung cấp trang-thiết bị tìm kiếm chiến sĩ ta mất tích, hy sinh trong chiến tranh.
Hôm sau, chúng tôi làm việc với Trung tâm lưu trữ Quốc gia của Mỹ (NARA). Trung tâm này ở trên một khu đồi, được bao quanh những cánh rừng cây cối rậm rạp, cách Lầu Năm Góc khá xa, mất vài tiếng đồng hồ di chuyển bằng ô tô. Tại đây, ông J.Carlin là Giám đốc Trung tâm đã đón tiếp và giới thiệu về chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm và những vấn đề mà Trung tâm có thể cung cấp cho phía Việt Nam trong khai thác hồ sơ lưu trữ. Suốt 2 ngày tiếp theo, Đoàn nghiên cứu hồ sơ tại Trung tâm NARA. Ngày 26-8, Đoàn làm tại Viện Lịch sử Thủy quân lục chiến Mỹ (USMC) và Viện Lưu trữ hồ sơ Hải quân Mỹ. Tại 2 cơ sở này, chúng tôi đã tìm hiểu cách thức lưu trữ và số lượng hồ sơ. Chúng tôi đã nhận được 42 đĩa mềm vi tính sao chụp 65.000 trang tài liệu về hoạt động của lực lượng Thủy quân lục chiến Mỹ ở Việt Nam. Hôm sau chúng tôi tới thăm và làm việc với Trung tâm nhận dạng gien ADN của Bộ Quốc phòng Mỹ. Ông James Canik, Giám đốc Trung tâm, tiếp đón chúng tôi rất nhiệt tình. Ông nói rằng, 30 năm trước, ông là phi công lái may bay trực thăng cấp cứu thương binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Ông tỏ ý sẵn sàng giúp đỡ đào tạo về mặt kỹ thuật cho quân đội ta, nếu ta có yêu cầu.
* Nghe ông kể thì thấy công việc của chuyến công tác được tiến hành khá thuận lợi trong không khí hợp tác và thiện chí. Vậy có những khó khăn trở ngại nào không, thưa ông?
Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU: - Có chứ, và chủ yếu là những vấn đề kỹ thuật. Hồ sơ về chiến tranh ở Việt Nam được lưu trữ ở Mỹ dưới nhiều dạng: Dạng nguyên bản như nhật ký tác chiến, hồ sơ tù binh,… Dạng phim ảnh tư liệu chiến trường; dạng đưa vào phần mềm vi tính… Tất cả hồ sơ mà Đoàn đã tiếp xúc đều bằng tiếng Anh và quản lý bằng công nghệ tin học, là những kỹ năng mà chúng tôi hết sức hạn chế. Đã vậy, nội qui chung là chỉ được đọc – xem trực tiếp và ghi chép thủ công, cấm sao chụp dưới mọi hình thức. Những tài liệu nào cần sao chụp, nếu được phía Mỹ đồng ý thì họ sẽ sao chụp và chuyển giao sau… Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ là khi bắt gặp tệp tài liệu về trận ABia ở Tây Thừa Thiên, tôi đề nghị họ sao chụp cho chúng tôi xin luôn tại chỗ và hướng dẫn trực tiếp cách truy cập hồ sơ tài liệu ở dạng này. Đề nghị này đã được phía Mỹ đáp ứng. Ngoài ra chúng tôi còn được sao chụp 578 trang hồ sơ khác và trực tiếp mang về nước. Còn lại hàng chục vạn trang tài liệu khác thì sau đó Văn phòng DPMO chuyển về Việt nam cho chúng tôi thông qua con đường ngoại giao...
* Ông vừa nhắc đến trận ABia, có phải là Humbrager Hill (Đồi Thịt băm) một thời nóng rẫy trên báo chí Mỹ?
Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU: - Đúng rồi, đó là Chiến dịch diễn ra từ ngày 10 đến ngày 20 -5-1969 ở vùng núi miền Tây Thừa Thiên. Hồi đó, tôi là Chính trị viên Đại đội đặc công thuộc Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, tham gia Chiến dịch này. Tất nhiên lúc đó Đại đội chúng tôi chỉ tác chiến trong một khu vực nhất định, nay được nhìn thấy những thước phim tư liệu quay toàn cảnh chiến trường, càng thấy rõ hơn ý nghĩa của chiến công và mức độ ác liệt của Chiến dịch. Thú thật, tôi đã cố kìm nén để giấu những giọt nước mắt khi nhìn lại những hình ảnh hi sinh của đồng đội…
* Còn có tài liệu nào được ông “nhận dạng tại chỗ” như vậy không?
Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU: - Sau này về nước gỡ ra biên dịch sắp xếp lại thì cũng có, nhưng thời gian tra cứu, sưu tầm bên đó thì chỉ “gặp” một vài sự kiện liên quan thôi. Chẳng hạn như sáng 26-8-1999, trong khi làm làm việc với Viện Lịch sử Thủy quân Lục chiến Mỹ, họ đưa cho tôi xem bức ảnh chụp một đại úy Mỹ đang bám đánh cầu Đông Hà, ghi là tháng 5-1972. Thấy thế, tôi đính chính ngay: Đây có thể là bức ảnh tạo dựng, hoặc nhầm lẫn về ngày tháng. Vì tháng 5-1972 thì thị xã Đông Hà đang bị quân giải phóng chúng tôi chiếm đóng, làm sao lại có bức ảnh này được. Trao qua đổi lại vài câu nữa, cuối cùng họ công nhận tôi nói đúng.
* Thưa ông, cùng với những trường hợp bị thương, bị bắt, hi sinh, mất tích… thì di chứng của chất độc da cam/dioxin do đế quốc Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam cũng đang là vấn đề nhức nhối của hàng vạn cựu chiến binh chống Mỹ cứu nước. Hồ sơ lưu trữ của Bộ Quốc phòng Mỹ mà các ông được tiếp cận, có những tài liệu về vấn đề này không và có được các ông đè cập trong chuyến công tác kể trên?
Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU: - Theo đề nghị của chúng tôi, phía Mỹ đã dành một buổi chiều ngày 25-8 để chúng tôi được nghe bà Tiến sĩ Susan Mather, đại diện cho Bộ Cựu binh Mỹ, giới thiệu về chất độc màu da cam/Điôxin và tác hại của chúng đối với binh lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Tại cuộc trao đổi trên đây, tôi đã nêu các câu hỏi: Trong chiến tranh Việt Nam, người Mỹ đã sử dụng chất độc Dioxin từ bao giờ? Số lượng bao nhiêu? Khi dùng chất độc này, người Mỹ có lường đến tính chất cực kỳ nguy hiểm của nó? Quân nhân Mỹ tham chiến ở Việt Nam bị nhiễm độc Dioxin khoảng bao nhiêu người và thường bị những căn bệnh gì? Chính sách của Chính phủ Mỹ đối với những quân nhân Mỹ bị nhiễm chất độc… Bà Sunan Mather đã trả lời khá cụ thể những câu hỏi trên và cho biết đây là một trong những vấn đề “hậu chiến Việt Nam” mà nước Mỹ phải đối mặt và giải quyết. Hiện nay, mức trợ cấp thường xuyên cho mỗi nạn nhân tùy theo mức độ ảnh hưởng, cao nhất là 25.000 USD/năm.
Tôi đã nói với bà Sunan Mather và những người Mỹ có mặt hôm đó rằng: Tỉnh đến thời điểm lúc đó (8-1999), ước tính ở Việt Nam có khoảng 4 vạn người tham gia chiến tranh bị nhiễm độc, gây ra các bệnh tật rất nặng nề cho bản thân và con cháu của họ. Ước tính trong cả nước có khoảng 76.000 cháu sinh ra bị ảnh hưởng do chất độc da cam/dioxin. Đến thời điểm đó, qua báo cáo chưa đầy đủ của 21 tỉnh đã có 16.445 người tham gia chiến tranh sinh ra 20.766 trẻ dị tật, dị dạng; Trong đó có 3.562 cháu bị liệt hoàn toàn; 4.579 cháu bị tâm thần; 5.549 cháu bị dị dạng; 1.185 cháu bị mù, và cac dạng khác... Đây là nỗi đau nhức nhối lâu dài. Mặc dù Chính phủ Mỹ đã có chính sách đối với binh lính Mỹ và các nước chư hầu tham gia chiến tranh Việt Nam bị nhiễm chất độc hóa học do chính Mỹ gây ra, nhưng chưa có trách nhiệm đối với nạn nhân chất độc da cam/dioxin là người Việt Nam. Cuộc đấu tranh vì công lý và lương tâm còn tiếp diễn…
* Là người lính đã trực tiếp cầm súng đánh giặc Mỹ xâm lược trên chiến trường, ông suy nghĩ như thế nào về việc tiếp tục trao đổi, hợp tác với “cựu thù” để giải quyết những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh, trong đó có vấn đề chính sách đối với liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và nạn nhân chiến tranh trong thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước?
Trung tướng NGUYỄN MẠNH ĐẨU: - Cũng cần nhắc lại rằng: Trong một thời gian dài, xuất phát từ tinh thần nhân đạo, thiện chí và thực hiện những cam kết trong Hiệp định Paris về Việt Nam, chúng ta hoặc đã nỗ lực đơn phương tìm kiếm, hoặc đã phối hợp với phía Mỹ tìm kiếm thu hồi và trao trả cho Mỹ nhiều đợt, với hàng trăm bộ hài cốt quân nhân Mỹ, cùng nhiều tài liệu, hiện vật quan trọng liên quan đến lính Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam.
Là người trực tiếp chỉ đạo và thực hiện công tác chính sách, tôi nhận thấy các cơ quan chuyên trách của phía Mỹ khi tiếp xúc và làm việc với chúng tôi về công việc này đều tỏ ra lịch sự, thân thiện, hợp tác. Còn nhớ, ngày 18-5-1994, trong lần tiếp xúc đầu tiên giữa Cục Chính sách Bộ Quốc phòng Việt Nam với Đoàn VVA tại Hà Nội, ông Jimbradi trưởng đoàn VVA đã nói với tôi: Trong chiến tranh, chúng ta là kẻ thù của nhau. Còn bây giờ, mong các ông đừng coi chúng tôi là kẻ thù nữa. Và tôi đã trả lời: Dân tộc Việt Nam chúng tôi có một quá khứ được đắp bồi bằng xương máu, công tích của biết qua bao thế hệ. Đó là truyền thống oanh liệt, là niềm tự hào, là bài học vô giá, là điểm tựa của muôn đời cho con cháu. Với ý nghĩa đó, chúng tôi không bao giờ khép lại quá khứ. Nhưng đó là chuyện đại sự. Còn bây giờ, gặp nhau ở đây, trên cương vị mới, trong khung cảnh khác, chúng ta cần gác lại quá khứ để trao đổi cung cấp thông tin cho nhau từ hai phía nhằm tìm được hài cốt, di vật, tin tức của đồng đội các ông và đồng đội chúng tôi. Đây không chỉ là vấn đề chính trị, mà trước hết là vấn đề nhân đạo, nhân văn và nhân bản. Hơn một phần tư thế kỷ trước tôi đã nghĩ như thế. Và bây giờ tôi vẫn nghĩ như thế!
* Xin cảm ơn Trung tướng về cuộc trao đổi thú vị hôm nay!

Thứ Năm, 15 tháng 7, 2021

 

      VÀI KỶ NIỆM VỀ MẤY TRẬN CHIẾN ĐẤU

ĐẦU TIÊN TRONG ĐỜI TRÊN CHIẾN TRƯỜNG LÀO

 

                                                                    N M Đ

 

Vài điều phí lộ : Tối ngày 03/4/2019, Trung tướng Nguyễn Tiến Long - một người anh, người bạn - Phó Trưởng ban thường trực Ban Liên lạc Hội Quân tình nguyện và Chuyên gia quan sự Việt Nam tại Lào, gọi điện đề nghị tôi viết bài để kịp đăng trong Tập 9 Ký Ức Người Lính. Tôi vui vẻ nhận lời và hồi tưởng lại những Kỷ niệm không bao giờ quên cách đây hơn nửa thế kỷ. Trong cuộc đời quân ngũ 45 năm của mình, tôi chỉ tham gia trực tiếp chiến đấu ở chiến trường Lào chưa đầy 2 năm ( từ tháng 01 năm 1965 đến tháng 6 năm 1966 ). Nhưng đó là một một trang đẹp trong đời tôi - Quãng thời gian bắt đầu tham gia trực tiếp chiến đấu với tư cách là một chiến sỹ bộ binh, một chiến đấu viên thực thụ.

Tháng 12 năm 1964, trên đường hành quân vào miền Nam chiến đấu ( đi B ), tôi bị sốt rét phải nằm lại điều trị tại một Bệnh xá của Đoàn 559 trên tuyến giao liên. Hết thời gian điều trị, tôi được bổ sung về Tiểu đoàn 929 Quân khu 4 lúc bấy giờ đang chiến đấu ở tỉnh Savanakhet ( Lào ) với nhiệm vụ bảo vệ hành lang phía tây của Tuyến 559. Và mở đầu cuộc đời binh nghiệp gắn bó với tôi bằng những trận chiến đấu từ đây. Tôi xin ghi lại làm Kỷ niệm.

                                               *

                                            *    *

 

1 - Hồi ấy, ngoài trang bị chiến đấu như súng CKC, lựu đạn, xẻng, bao gạo, ba lô, tôi được anh Cao Đức Tính Tiểu đội phó giao cho mang hai cái nồi. Nồi to dùng để nấu cơm đủ ăn 7 người. Nồi nhỏ dùng để nấu thức ăn. Tôi đặt cái nồi nhỏ trong nồi to, dùng giây vải buộc chặt vào ba lô mang sau lưng. Chính hai cái nồi này, với tôi, có một kỷ niệm không bao giờ quên.

Sự thể là, trong trận đánh quân địch ở ngoài công sự ở gần Huội Mua, ngày 22 tháng 2 năm 1965. Lúc khoảng 3 giờ chiều, cả Tiểu đoàn chúng tôi đang tiến vào địa bàn quân địch thường hoạt động. Đội hình hành quân chiến đấu trinh sát tiểu đoàn đi trước, theo cách sâu đo để thăm dò địch. Sau trinh sát là Đại đội 2 chúng tôi. Trung đội tôi đi trước, Tiểu đội 4 dẫn đầu. Đến một khu rừng khộc, thấy phía trước có nhiều ụ khói bốc lên. Khả nghi có quân địch, trinh sát báo cáo về phía sau. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Nhiên đầu cắt trọc, người đỏ au, quàng một mảnh dù nhỏ, không mang vũ khí, chạy vội lên trước. Chạy theo anh là anh Xiểm liên lạc. Anh Nhiên  lệnh cho toàn đơn vị dừng lại triển khai chiến đấu. Giao cho trinh sát vào  phía trong bám địch. Khoảng nửa tiếng sau, anh Cao Sỹ Nguyên, Tiểu đội trưởng trinh sát quay ra báo cáo với Tiểu đoàn trưởng. Anh Nhiên giao cho anh Xiểm liên lạc chạy về phía sau đội hình mời anh Khuốc chính trị viên tiểu đoàn lên hội ý. Thấy hai anh hội ý chừng 5 phút, anh Nhiên cho triệu tập các đại đội trưởng lên giao nhiệm vụ. Anh Tèo đại đội trưởng nhận nhiệm vụ Đại đội 2 làm mũi tấn công chủ yếu.

Chúng tôi được lệnh tiếp tục tiềm nhập để rút ngắn cự ly với địch. Được chừng 100 mét thì dừng lại chờ hỏa lực Tiểu đoàn khai hỏa. Cối 82ly và ĐKZ75 ly của Tiểu đoàn bắn cấp tập khoảng 10 phút thì dừng. Chúng tôi bắt đầu nổ súng tấn công. Với tôi, đây là trận chiến đấu đầu tiên trong đời. Tôi hồi hộp lắm. Nghe tiếng đạn bắn ra tới tấp, ràn rạt, tôi cũng hoảng. Nói không hoảng là tự dối lòng mình. Nhìn sang bên phải, tôi thấy anh Nguyễn Văn Liệu đã bắn được một quả B40, nòng còn bốc khói. Nhìn sang bên trái, thấy anh Đinh Xuân Các đã xiết được mấy tràng trung liên, vỏ đạn bay rào rào. Cạnh tôi, anh Đinh Xuân Bài Tiểu đội trưởng đang ghì khẩu AK vào gốc cây khộc, xiết cò từng điểm xạ ngắn. Mới khoảng 4 giờ chiều, giữa rừng khộc đã cháy trụi, ở cự ly không tới 100 mét, tôi nhìn quân địch rõ lắm. Tôi bắn liền một kẹp đạn CKC, đã thay sang kẹp khác, thì nghe một tiếng choang rất đanh, tôi tưởng mình đã bị thương nhưng chẳng thấy đau mà sờ xung quanh người cũng không có máu. Anh Bài hô:

- Tất cả Tiểu đội chuẩn bị xung phong !

Tôi đưa tay dương lê lên vì cho rằng, sắp đánh nhau giáp la cà, phải dùng đến lưỡi lê để đâm. Thấy thế, anh Bài hét to:

 -  Đẩu gấp lê lại ngay !

 Như một cái máy, tôi gấp lê lại, dẫu chẳng hiểu vì sao. Mấy phút sau, cả Trung đội chúng tôi chiếm lĩnh toàn bộ trại địch. Một bãi chiến trường ngổn ngang nhà cháy, vách đổ, đất cát bị cày xới bởi những hố đạn đen ngòm. Mấy xác chết, cái thì cháy đen, cháy sạm, cái  thì loang lổ bê bết máu. Trong tay có đứa còn cầm súng. Nhìn vào bếp, thấy mấy tuýp (liễn) xôi còn nóng hôi hổi, tôi cầm luôn. Lệnh của chỉ huy, đơn vị phải thu dọn chiến lợi phẩm và rút ra ngay đề phòng pháo địch oanh kích.

Xuyên rừng độ hai tiếng đồng hồ sau, đến chỗ dừng lại trú quân, anh Tính Tiểu đội phó bảo tôi cởi nồi ra để nấu cơm tối. Tôi vừa hạ xuống thì thấy cả hai cái nồi bị một viên đạn xuyên thủng từ bên nọ sang bên kia. Cả tiểu đội xúm lại nhìn. Anh Bài nói:

- Như vậy là số cậu cao đấy. May mà thằng địch Phu Mi bắn hơi chếch lên một chút. Nếu viên đạn hạ xuống 10 cm thôi, thì hôm nay Đẩu nhà mình đã thành Liệt sỹ rồi.

 Anh còn giải thích với tôi rằng, sở dĩ chiều nay thấy tôi dương lê lên bị anh quát, là vì, lúc xung phong cự ly cách địch còn chừng 100 mét, dương lê lên sẽ bị vướng. Tối đó, may mà có hai liễn xôi tôi lấy được trong trại địch, không thì cả tiểu đội nhịn đói sau một ngày chiến đấu căng thẳng. Trận đó tiểu đôi tôi không ai việc gì. Tiểu đội 5 có anh Duyến và anh Thoại hy sinh.

Mấy chục năm sau, tôi gặp lại anh Đinh Xuân Bài lúc anh đã là Đại tá, Trung đoàn trưởng, nghỉ hưu ở Hà Nội. Chúng tôi cười vui ôn lại chuyện xưa. Anh trìu mến dùng hai bàn tay vỗ nhẹ vào hai bên má tôi và ôm ghì chặt lấy tôi:

- Trời ơi, thằng em út của Tiểu đội ta ngày nào mặt búng ra sữa, bây giờ đã thành ông Tướng rồi ư!

Rồi như sực nhớ ra điều gì, anh trêu đùa tôi:

- Này, Đẩu ơi ! Em sờ lại sau lưng xem hai cái nồi còn không ? !

Anh Đinh Xuân Bài là người chiến đấu dũng cảm, chỉ huy quyết đoán, gương mẫu về mọi mặt. Tôi nhớ trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, anh giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3, bị thương và bị địch bắt được đưa lên trực thăng. Khi máy bay mới rời mặt đất được dăm mét, anh lao mình ra cửa nhảy xuống thoát được nhưng bị chân thương cột sống, đau lưng một thời gian khá dài. Trong đời sống anh giản dị, khiêm nhường mà thẳng thắn, chân thành, được đồng đội quí mến. Anh là người trưởng thành từ chiến sĩ lên tới trung đoàn trưởng trong cùng một đơn vị cho đến khi nghỉ hưu. Anh Bài mất năm 2001 do bị ung thư phổi, không biết có phải do nhiễm chất độc ở chiến trường không. Khi nghe tin anh Bài mất, từ Trường Sĩ quan Lục quân 1 ở Sơn Tây tôi đến viếng anh tại nhà riêng. Nhiều đồng đội đã về hưu, phục viên tận trong Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã ra viếng anh. Trước đó mấy hôm, khi anh ốm nặng tôi đến thăm ở Viện Quân y 108. Anh thều thào nói với tôi:

- Anh đau lắm em ạ! Trong đời anh, chưa bao giờ đau thế này. Chắc không được mấy ngày nữa đâu. Điểm danh lại, tiểu đôi ta đã mất hết cả rồi. Chỉ còn em, đứa em út của tiểu đội ngày nào còn bé nhỏ 16, 17 tuổi đầu thôi.

Nghe anh tâm sự, tôi cảm thương anh vô cùng, nước mắt lã chã rơi. Biết rằng, tôi sắp phải vĩnh biệt người anh, người thầy của mình trong chặng đầu tiên của cuộc đời quân ngũ mà đành bó tay chẳng  làm được gì cho anh.

                                

2 - Sau khi hoàn thành nhiệm vụ của trận tập kích quân địch ngoài công sự, tiểu đội 4 chúng tôi được tăng cường cho Đại đội 3 của Tiểu đoàn đang làm nhiệm vụ phòng ngự ở Sê-Con-Cam. Sê-Con-Cam cách thị trấn Mường Phìn không xa. Địch ở Pờ Lan, Pắc Sế thường nống ra lấn chiếm, nhằm thọc sườn uy hiếp chặt đứt hành lang chiến lược Bắc-Nam của ta. Tiểu đội làm lực lượng cơ động ngoài công sự để chi viện cho Trung đội 1 Đại đội 3. Phương án tác chiến được xác định là khi địch đánh vào trận địa phòng ngự của trung đội 1, thì tùy hoàn cảnh cụ thể , đại đội sẽ dùng tiểu đội tôi tăng cường lên trận địa phòng ngự hoặc đánh vu hồi vào phía sau, hoặc đánh thọc bên sườn quân địch. Nhận nhiệm vụ xong, mấy ngày đầu, anh Bài dẫn tiểu đội đi địa hình xung quanh trận địa phòng ngự vừa để thuộc địa hình, địa vật, vừa kết hợp tuần tra khu vực. Sau đó lập phương án đánh địch. Chuẩn bị đường xuất kích,… Địa hình ở đây bằng phẳng trống trải. Bên triền sông là những vạt rừng tre xen lẫn những cánh đồng nứt nẻ đang giữa mùa khô. Ở đây không có địa thế hiểm yếu nên không thật thuận lợi cho bố trí phòng ngự. Nhưng lại thuận cho lực lượng cơ động phản công. Trước trận địa phòng ngự, Đại đội 3 đã bố trí các bãi mìn dày đặc và cắm chông tua tủa.

Thời gian làm nhiệm vụ phòng ngự ở Sê-Con-Cam, Tiểu đội chúng tôi đánh được 5 trận qui mô nhỏ, đều theo đúng như phương án tác chiến đã xác định. Mỗi lần địch đánh vào chốt phòng ngự của Trung đội 1, lệnh của đại đội, tiểu đội chúng tôi xuất kích đánh thọc vào ngang mạng sườn ép địch dạt vào bãi mìn. Bọn địch vừa bị đạn  thẳng, cối và mìn nên thương vong nhiều, buộc phải rút chạy về phía sau.

Có một kỷ niệm nhỏ,  một hôm cả tiểu đội xuất kích đánh địch về đang ngồi ăn cơm. Trời tối đen nhưng không được thắp đèn. Bất thần pháo 105 của địch bắn tới tấp vào trận địa. Mọi người lao vội xuống hầm. Anh Lê Văn Sơ chân đang đi đôi giày vải cao cổ, cuống cuồng bước vào nồi nước sôi vừa bắc từ trên bếp xuống. Nóng quá, anh kêu toáng lên. Tôi vội lấy dao cắt đứt dây tháo giày ra, chân anh vẫn bị bỏng nhẹ. Sau này gặp lại, anh Sơ đùa:

- Bữa đó tại chú mày mà anh hỏng mất đôi giày đẹp đấy.

Tôi đùa lại:

- Bữa đó không có em nhanh trí thì anh vẫn còn nguyên giày nhưng không còn đôi chân lành lặn như bây giờ đâu.

Hai anh em ôm nhau cười.

                                        

3 - Kết thúc nhiệm vụ phòng ngự ở Sê-Con-Cam, chúng tôi trở về đội hình cũ. Cả Tiểu đoàn đang tham gia vận chuyển lương thực, làm đường và kéo pháo vào chuẩn bị đánh lớn ở Huội Mua. Không khí chuẩn bị chiến trường rầm rộ. Chặt cây, san đường xong thì kéo pháo vào trận địa. Anh Bài, anh Tính nói với cả tiểu đội rằng từ ngày đi chiến trường đến bây giờ, chưa bao giờ có lực lượng tham gia hùng hậu đến như vậy. Có bộ binh, công binh, pháo binh, nghe đâu có cả xe bọc thép nữa.

Trung đội chúng tôi được giao nhiệm vụ kéo một khẩu pháo 105 ly từ phía bắc Mường Phìn vào gần Sê-Con-Cam. Tuy không vượt dốc, trèo đèo như người ta vẫn nói về việc kéo pháo vào, pháo ra ở Điên Biên Phủ trước đây, nhưng quả thật kéo pháo là rất mệt. Người mỏi nhừ, tay phồng rộp. Những ngày kéo pháo vào trận địa chúng tôi vui và tin tưởng. Vậy là trong trận chiến đấu tới đây, bộ binh chúng tôi được pháo binh chi viện. Pháo 105 ly sẽ bắn sập công sự và tiêu hao sinh lực địch, uy hiếp găm quân địch xuống, tạo điều kiện cho bộ binh tấn công, hoặc là chế áp pháo binh địch bắt chúng phải câm họng.

Ngày đó, tôi thấy cả ông Xổm Xắc, Tổng Tham mưu phó Quân đội Pa thét Lào xuống thăm hỏi và động viên chúng tôi trong  khi kéo pháo. Ông là người Lào Thưng, hoạt động chủ yếu ở Trung Hạ Lào. Các anh cán bộ trong tiểu đoàn tôi rất thân thiết với ông, coi ông như người cùng đơn vị. Ông  và đại đội địa phương tỉnh Savanakhet đã cùng ăn, cùng ở, cùng hoạt động, cùng sát cánh chiến đấu trên một chiến hào với bộ đội tình nguyện Việt Nam. Đúng là tình hữu nghị đặc biệt hiếm có.

Theo trinh sát Tiểu đoàn báo cáo và thông báo của trên, đồn Huội Mua của địch đóng trên một ngọn đồi thấp, có công sự gỗ đất với mấy lớp lô cốt, được nối với nhau bằng chiến hào và giao thông hào; có một lớp hàng rào thép gai và bên ngoài là một lớp cây rừng cưa đổ bao quanh làm chướng ngại vật; lực lượng địch có một đại đội tăng cường. Khi Huội Mua bị tấn công, pháo binh địch ở Pà Lan, Đồng Hến sẽ bắn chi viện.

 Tiểu đoàn 929 chúng tôi là lực lượng chủ yếu tấn công vào đồn Huội Mua. Ngoài hỏa lực vốn có trong biên chế là cối 82ly, ĐKZ 75ly, đại liên, Tiểu đoàn được trên chi viện là 4 khẩu 105ly, 4 khẩu cối 120 ly, một đại đội súng cao xạ 12,7 ly. Nghe nói còn có cả 4 xe bọc thép sẵn sàng xuất kích. Nghe nói, vì khi chuẩn bị chiến trường tôi không nhìn thấy và cũng không được cấp trên chính thức phổ biến.

Theo phương án tác chiến của Tiểu đoàn được cấp trên thông qua, Đại đội 1 là lực lượng chủ công đánh vào hướng chủ yếu, Đại đội 2 chúng tôi đánh vào hướng thứ yếu, Đại đội 3 làm lực lượng thê đội 2, sẵn sàng ứng phó các tình huống. Trong khi pháo binh ta bắn cấp tập vào trận địa địch, lực lượng bộ binh nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí xuất phát tấn công, đào hố cá nhân ẩn nấp, chờ sẵn. Khi pháo binh chuyển làn, bộ binh các mũi thực hành phá rào mở cửa tấn công quân địch trong công sự. Hiệu lệnh tác chiến là súng pháo hiệu do tiểu đoàn trưởng quyết định.

Đúng 5 giờ chiều ngày 15 tháng 4 năm 1965, Tiểu đoàn 929 xuất kích vào chiếm lĩnh vị trí tập kết. Dưới nắng chiều, cả đoàn quân vòng lá ngụy trang phấp phới, trông khí thế rất hùng dũng. Mấy anh Điện ảnh Quân đội trực tiếp quay phim. Máy trên vai chạy sè sè, ghi hình bộ đội hành quân và thực hành chiến đấu. Trước đó các anh cũng đã ghi hình chúng tôi kéo pháo vào trận địa.

Đúng 6 giờ tối, pháo 105ly và cối 120ly, đặt cách trận địa chừng 5 km, đồng loạt khai hỏa. Lần đầu tiên được nghe tiếng nổ đầu nòng (tiếng đề-pa) tiếng đạn rít trên không và tiếng nổ giòn to đanh, rất trúng đích, chúng tôi mừng vô cùng. Có người không kìm được, nhảy kiễng lên hô lớn:

- Tiên sư mấy thằng Phu Mi nhé, phen này cho chúng mày chết. Thắng đến nơi rồi, anh em ơi!

Chúng tôi vào đến vị trí xuất phát tấn công, cách đồn địch chừng 200 mét,  dừng lại dùng xẻng đào hố cá nhân. Pháo binh vẫn dồn dập nã đạn. Trong đồn nhiều đám cháy bốc lên cao. Chắc quân địch cho rằng, ta chỉ tập kích bằng hỏa lực, không có bộ binh, nên chưa thấy động tĩnh gì. Thỉnh thoảng trong đồn bắn vu vơ ra xung quanh trận địa mấy quả cối và mấy loạt đại liên như thể thăm dò. Cả một vùng rực sáng. Anh Bài bảo tôi chú ý giữ khoảng cách kẻo lạc. Mọi người trong tư thế sẫn sàng nổ súng. Chừng 10 phút, pháo chuyển làn, từ phía sau hai phát pháo hiệu đỏ rực vút lên không trung. Anh Quí hô toàn trung đội vượt qua hàng rào, đánh thẳng vào tiền duyên địch. Chúng tôi vừa vượt qua hàng rào bằng cây khô, băng qua lớp hàng rào thép gai, cách chiến hào tiền duyên của địch chừng 100 mét, thì các họng súng trong đồn bắn tới tấp vào đội hình. Vừa nhô lên có mấy người bị trúng đạn, gục tại chỗ. Trong giây lát tất cả các hướng tấn công đều bị khựng lại, chững lại.

Anh Bài hô:

- Liệu dùng B40 bắn vào lô cốt đầu cầu !

Anh Liệu phóng liền hai quả mà vẫn không trúng. Anh Các xả tiếp một tràng trung liên vào đó cũng chẳng ăn thua. Từ dưới nhìn lên, các hỏa điểm của địch bắn ra đỏ rực, đạn bay chíu chíu, cày xới xung quanh chúng tôi. Thực sự, lúc đó tôi cũng hoảng. Nói không sợ là tự dối lòng mình.

Từ phía sau đội hình, anh Nguyễn Văn Dương Đại đội trưởng điều khẩu đội ĐKZ 75ly được Tiểu đoàn tăng cường cho đại đội, đặt ngắm bắn trực tiếp mấy phát liền. ĐKZ vừa bắn xong, anh lao lên, hô lớn:

- Nào các đồng chí, dừng lại đây là chết, tất cả xung phong !

Đáp lời anh, cả Trung đội 2 chúng tôi vừa chạy thốc lên vừa cặp súng bắn trong làn đạn địch. Anh Liệu bắn tiếp một quả B40, chúng tôi nhìn rõ quả đạn lao vút cắm phập vào lô cốt đầu cầu nổ rầm lên, khẩu đại liên địch bị tiêu diệt. Cả Trung đội lao lên chiếm được chiến hào ngoài cùng.

Nhìn lại đội hình, tôi đã thấy thưa dần. Theo lệnh anh Lê Đôn Quí Trung đội trưởng, các tiểu đội xốc lại lực lượng, bám chắc tiền duyên đánh lấn vào trong. Tiếng lựu đạn nổ chát chúa.Tiếng súng bộ binh các loại nổ liên hồi, đanh rát. Anh Bài chỉ huy chúng tôi đánh thốc vào sườn bên phải. Tôi ném 2 quả lựu đạn, bắn liền cả kẹp đạn CKC.

Trong vòng 1 giờ đồng hồ, từ chiến hào tiền duyên địch, Đại đội chúng tôi đánh chiếm được mỏm đồi thấp phía ngoài. Cả trận địa mịt mù khói đạn, khét lẹt, cay xè. Từ đây phát triển vào tung thâm phải qua một cái yên ngựa. Đồi phía trong cao hơn. Từ trên cao hai khẩu đại liên địch bắn chéo cánh sẻ, đạn bay xối xả,chi chít. Thêm vào đó là các loại súng phóng lựu, cối 81 ly, ĐKZ của địch bắn ra dữ dội. Giằng co mãi hàng tiếng đồng hồ, không sao dứt điểm được. Mấy lần Đại đội tổ chức tấn công đều bị đánh bật lại, do bị tổn thất quá nhiều. Anh Dương không chịu lùi, trực tiếp dẫn Trung đội 1 đánh thốc lên lần nữa, lại cũng bị thương vong quá nửa. Bản thân anh Dương bị thương vào đầu và chân, anh em phải cõng ra.

Phía bên kia, Đại đội 1 là hướng tấn công chủ yếu của Tiểu đoàn cũng gặp khó khăn, thưa dần tiếng súng, chỉ đánh chiếm được non một nửa trận địa địch. Ta thương vong lớn. Địch co cụm chống trả quyết liệt, chờ viện binh. Nếu tình trạng này kéo dài, trời sáng địch sẽ cho máy bay đến oanh kích và cho bộ binh đến chi viện. Lệnh của trên cho tiểu đoàn rút lui.

Đề phòng địch phản công, Đại đội bố trí thực hành rút theo kiểu cuốn chiếu. Đưa thương binh, liệt sỹ ra trước, các trung đội lần lượt rút dần ra. Đến 7 giờ sáng hôm sau, cả tiểu đoàn mới về đến hậu cứ. Trong trận này tôi có mấy người bạn hy sinh. Trong đó tôi thương nhất là Cồng, 18 tuổi, cao to, trắng trẻo, đẹp trai, quê Tĩnh Gia - Thanh Hóa, bị thương nặng cụt cả hai chân, còn tỉnh táo, nhưng khiêng ra đến được nửa đường về hậu cứ thì hy sinh vì mất quá nhiều máu. Trên đường ra, hai chiếc máy bay T28 của địch quần đảo bắn phá dữ dội nhưng cách đội hình hàng trăm mét, không ai bị thương vong.


Sau này tôi được biết rẳng, cùng phối hợp tác chiến với  trận Huội Mua của Tiểu đoàn 929 chúng tôi, còn có trận đánh vào căn cứ địch ở Đồng Hến do Trung đoàn 9 - Sư đoàn 304 đảm nhiệm với qui mô to hơn nhưng cũng không giành được thắng lợi trọn vẹn. Tổn thất thương vong nhiều. Hướng chủ yếu do anh Mai Hiền, Tham mưu trưởng Sư đoàn ( sau này là Sư đoàn phó Sư đoàn 324 của chúng tôi hồi chiến đấu ở tây Thừa Thiên ) trực tiếp chỉ huy. Anh Mai Hiền là người trưởng thành từ chiến sĩ đã dạn dày trận mạc, trải qua nhiều cương vị chỉ huy chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp lên tới Trung đoàn trưởng. Nhưng đến khi đánh trận Đồng Hến thì anh lại không hoàn thành nhiệm vụ, gây hậu quả nghiêm trọng. Chính trận Đồng Hến như một cái lá chắn, cản trở con đường công danh sự nghiệp của anh.

Vậy đấy, đừng ai nghĩ rẳng đánh giặc bao giờ cũng thắng, dù người cầm quân là ai đi nữa. Thành bại là việc thường của binh gia. Vấn đề là, phần thắng cuối cùng thuộc về ai. Chính Tôn Tử - Nhà quân sự lỗi lạc của Trung Quốc thời cổ đại - đã tổng kết rằng: tri kỷ, tri bỉ, bách chiến vô nguy. Nghĩa là: biết địch, biết ta, trăm trận không nguy. Không nguy là không bị thất bại lớn, không bị tiêu diệt. Chứ không phải như nhiều người giải thích không thật đúng là: biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng. Cổ, kim, đông, tây, có lẽ chưa có danh tướng nào trăm trận, trăm thắng!

                                          

Nhân Kỷ niệm 70 năm Ngày Thành lập Quân đội nhân dân Lào ( 20/01/1949 – 20/01/2019 ), nhận lời mời của Bộ Quốc phòng Lào, tôi được tham gia Đoàn Đại biểu Cựu Chiến binh Quân Tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào sang Viêng Chăn dự Lễ Kỷ niệm. Đoàn do Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương nguyên Chính ủy Đoàn 959, nguyên Đoàn trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào làm Trưởng đoàn. Tham gia Đoàn còn có : Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Trung tướng AHLLVTND Tiêu Văn Mẫn nguyên Chính ủy Quân khu 5, Trung tướng Nguyễn Tiến Long nguyên Chính ủy Quân khu 3, Trung tướng Trần Thụ nguyên Chính ủy Quân khu 2, Trung tướng Vũ Văn Kiểu nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Lê Huy Mai nguyên Phó Chánh thanh tra Quân đội, Đại tá Nguyễn Quốc Túy & Đại tá Nguyễn Quốc Tuấn nguyên Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, Đại tá Trần Đình Dần CCB Quân Tình nguyện Việt Nam tại Lào cùng một số đồng chí khác. Thực ra, trong Danh sách ban đầu của Đoàn không có tên tôi. Sắp đến ngày lên đường, Đoàn thiếu một người do Thiếu tướng Lê Thanh, 96 tuổi, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316 tham gia chiến đấu ở Lào trong thời kỳ chống Mỹ, nay sức khỏe không bảo đảm. Trong cuộc họp Đoàn, anh Nguyễn Tiến Long đề nghị tôi thay thế và được các thành viên hoàn toàn nhất trí. So với các bậc trưởng lão trong đoàn cao tuổi đời, nhiều tuổi Đảng, tuổi quân và có bề dày cống hiến, thì tôi chỉ xứng bậc con cháu, em út.

Trong thời gian sang dự Lễ Kỷ niệm, chúng tôi được lãnh đạo và cơ quan Bộ Quốc phòng tiếp đón rất trọng thị, chu đáo. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào Chăn Xa Mỏn Chăn Nha Lạt đã dành thời gian tiếp thân mật và chiêu đãi Đoàn. Cùng dự với Bộ trưởng, có lãnh đạo các cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân Lào. Đoàn đã tham gia dự Lễ Kỷ niệm tại Quảng trường, xem Lễ duyệt binh với quy mô rất hoành tráng,…

Hơn nửa thế kỷ đã qua, nay trở lại đất nước Triệu Voi, kỷ niệm xưa và hiện thực nay quyện vào nhau trong tâm trí tôi. Điều cốt tủy đọng lại trong tôi là tấm lòng thủy chung, son sắt của các bạn Lào. Trải qua mấy chục năm, trong điều kiện có nhiều đổi thay trong phát triển, nhưng tình nghĩa giữa những người cùng chung chiến hào năm xưa vẫn nguyên vẹn đong đầy. Các buổi gặp gỡ tiếp xúc giữa ta và Ban toát lên một điều thống nhất là : Liên minh chiến đấu Việt - Lào là một tất yếu lịch sử khách quan có tính quy luật. Quan hệ đoàn kết Đặc biệt Việt - Lào là tài sản tinh thần vô giá của hai dân tộc, hai quân đội. Điều hệ trọng này phải được mãi mãi trân trọng giữ gìn, lưu truyền, tiếp nối trong các thế hệ mai sau ./.