Menu ngang

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2019


      VÀI KỶ NIỆM VỀ MẤY TRẬN CHIẾN ĐẤU
ĐẦU TIÊN TRONG ĐỜI TRÊN CHIẾN TRƯỜNG LÀO

                                                               N M Đ

Vài điều phí lộ : Tối ngày 03/4/2019, Trung tướng Nguyễn Tiến Long - một người anh, người bạn - Phó Trưởng ban thường trực Ban Liên lạc Hội Quân tình nguyện và Chuyên gia quan sự Việt Nam tại Lào, gọi điện đề nghị tôi viết bài để kịp đăng trong Tập 9 Ký Ức Người Lính. Tôi vui vẻ nhận lời và hồi tưởng lại những Kỷ niệm không bao giờ quên cách đây hơn nửa thế kỷ. Trong cuộc đời quân ngũ 45 năm của mình, tôi chỉ tham gia trực tiếp chiến đấu ở chiến trường Lào chưa đầy 2 năm ( từ tháng 01 năm 1965 đến tháng 6 năm 1966 ). Nhưng đó là một một trang đẹp trong đời tôi - Quãng thời gian bắt đầu tham gia trực tiếp chiến đấu với tư cách là một chiến sỹ bộ binh, một chiến đấu viên thực thụ.
Tháng 12 năm 1964, trên đường hành quân vào miền Nam chiến đấu ( đi B ), tôi bị sốt rét phải nằm lại điều trị tại một Bệnh xá của Đoàn 559 trên tuyến giao liên. Hết thời gian điều trị, tôi được bổ sung về Tiểu đoàn 929 Quân khu 4 lúc bấy giờ đang chiến đấu ở tỉnh Savanakhet ( Lào ) với nhiệm vụ bảo vệ hành lang phía tây của Tuyến 559. Và mở đầu cuộc đời binh nghiệp gắn bó với tôi bằng những trận chiến đấu từ đây. Tôi xin ghi lại làm Kỷ niệm.
                                               *
                                            *    *

1 - Hồi ấy, ngoài trang bị chiến đấu như súng CKC, lựu đạn, xẻng, bao gạo, ba lô, tôi được anh Cao Đức Tính Tiểu đội phó giao cho mang hai cái nồi. Nồi to dùng để nấu cơm đủ ăn 7 người. Nồi nhỏ dùng để nấu thức ăn. Tôi đặt cái nồi nhỏ trong nồi to, dùng giây vải buộc chặt vào ba lô mang sau lưng. Chính hai cái nồi này, với tôi, có một kỷ niệm không bao giờ quên.
Sự thể là, trong trận đánh quân địch ở ngoài công sự ở gần Huội Mua, ngày 22 tháng 2 năm 1965. Lúc khoảng 3 giờ chiều, cả Tiểu đoàn chúng tôi đang tiến vào địa bàn quân địch thường hoạt động. Đội hình hành quân chiến đấu trinh sát tiểu đoàn đi trước, theo cách sâu đo để thăm dò địch. Sau trinh sát là Đại đội 2 chúng tôi. Trung đội tôi đi trước, Tiểu đội 4 dẫn đầu. Đến một khu rừng khộc, thấy phía trước có nhiều ụ khói bốc lên. Khả nghi có quân địch, trinh sát báo cáo về phía sau. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Nhiên đầu cắt trọc, người đỏ au, quàng một mảnh dù nhỏ, không mang vũ khí, chạy vội lên trước. Chạy theo anh là anh Xiểm liên lạc. Anh Nhiên  lệnh cho toàn đơn vị dừng lại triển khai chiến đấu. Giao cho trinh sát vào  phía trong bám địch. Khoảng nửa tiếng sau, anh Cao Sỹ Nguyên, Tiểu đội trưởng trinh sát quay ra báo cáo với Tiểu đoàn trưởng. Anh Nhiên giao cho anh Xiểm liên lạc chạy về phía sau đội hình mời anh Khuốc chính trị viên tiểu đoàn lên hội ý. Thấy hai anh hội ý chừng 5 phút, anh Nhiên cho triệu tập các đại đội trưởng lên giao nhiệm vụ. Anh Tèo đại đội trưởng nhận nhiệm vụ Đại đội 2 làm mũi tấn công chủ yếu.
Chúng tôi được lệnh tiếp tục tiềm nhập để rút ngắn cự ly với địch. Được chừng 100 mét thì dừng lại chờ hỏa lực Tiểu đoàn khai hỏa. Cối 82ly và ĐKZ75 ly của Tiểu đoàn bắn cấp tập khoảng 10 phút thì dừng. Chúng tôi bắt đầu nổ súng tấn công. Với tôi, đây là trận chiến đấu đầu tiên trong đời. Tôi hồi hộp lắm. Nghe tiếng đạn bắn ra tới tấp, ràn rạt, tôi cũng hoảng. Nói không hoảng là tự dối lòng mình. Nhìn sang bên phải, tôi thấy anh Nguyễn Văn Liệu đã bắn được một quả B40, nòng còn bốc khói. Nhìn sang bên trái, thấy anh Đinh Xuân Các đã xiết được mấy tràng trung liên, vỏ đạn bay rào rào. Cạnh tôi, anh Đinh Xuân Bài Tiểu đội trưởng đang ghì khẩu AK vào gốc cây khộc, xiết cò từng điểm xạ ngắn. Mới khoảng 4 giờ chiều, giữa rừng khộc đã cháy trụi, ở cự ly không tới 100 mét, tôi nhìn quân địch rõ lắm. Tôi bắn liền một kẹp đạn CKC, đã thay sang kẹp khác, thì nghe một tiếng choang rất đanh, tôi tưởng mình đã bị thương nhưng chẳng thấy đau mà sờ xung quanh người cũng không có máu. Anh Bài hô:
- Tất cả Tiểu đội chuẩn bị xung phong !
Tôi đưa tay dương lê lên vì cho rằng, sắp đánh nhau giáp la cà, phải dùng đến lưỡi lê để đâm. Thấy thế, anh Bài hét to:
 -  Đẩu gấp lê lại ngay !
 Như một cái máy, tôi gấp lê lại, dẫu chẳng hiểu vì sao. Mấy phút sau, cả Trung đội chúng tôi chiếm lĩnh toàn bộ trại địch. Một bãi chiến trường ngổn ngang nhà cháy, vách đổ, đất cát bị cày xới bởi những hố đạn đen ngòm. Mấy xác chết, cái thì cháy đen, cháy sạm, cái  thì loang lổ bê bết máu. Trong tay có đứa còn cầm súng. Nhìn vào bếp, thấy mấy tuýp (liễn) xôi còn nóng hôi hổi, tôi cầm luôn. Lệnh của chỉ huy, đơn vị phải thu dọn chiến lợi phẩm và rút ra ngay đề phòng pháo địch oanh kích.
Xuyên rừng độ hai tiếng đồng hồ sau, đến chỗ dừng lại trú quân, anh Tính Tiểu đội phó bảo tôi cởi nồi ra để nấu cơm tối. Tôi vừa hạ xuống thì thấy cả hai cái nồi bị một viên đạn xuyên thủng từ bên nọ sang bên kia. Cả tiểu đội xúm lại nhìn. Anh Bài nói:
- Như vậy là số cậu cao đấy. May mà thằng địch Phu Mi bắn hơi chếch lên một chút. Nếu viên đạn hạ xuống 10 cm thôi, thì hôm nay Đẩu nhà mình đã thành Liệt sỹ rồi.
 Anh còn giải thích với tôi rằng, sở dĩ chiều nay thấy tôi dương lê lên bị anh quát, là vì, lúc xung phong cự ly cách địch còn chừng 100 mét, dương lê lên sẽ bị vướng. Tối đó, may mà có hai liễn xôi tôi lấy được trong trại địch, không thì cả tiểu đội nhịn đói sau một ngày chiến đấu căng thẳng. Trận đó tiểu đôi tôi không ai việc gì. Tiểu đội 5 có anh Duyến và anh Thoại hy sinh.
Mấy chục năm sau, tôi gặp lại anh Đinh Xuân Bài lúc anh đã là Đại tá, Trung đoàn trưởng, nghỉ hưu ở Hà Nội. Chúng tôi cười vui ôn lại chuyện xưa. Anh trìu mến dùng hai bàn tay vỗ nhẹ vào hai bên má tôi và ôm ghì chặt lấy tôi:
- Trời ơi, thằng em út của Tiểu đội ta ngày nào mặt búng ra sữa, bây giờ đã thành ông Tướng rồi ư!
Rồi như sực nhớ ra điều gì, anh trêu đùa tôi:
- Này, Đẩu ơi ! Em sờ lại sau lưng xem hai cái nồi còn không ? !
Anh Đinh Xuân Bài là người chiến đấu dũng cảm, chỉ huy quyết đoán, gương mẫu về mọi mặt. Tôi nhớ trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, anh giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3, bị thương và bị địch bắt được đưa lên trực thăng. Khi máy bay mới rời mặt đất được dăm mét, anh lao mình ra cửa nhảy xuống thoát được nhưng bị chân thương cột sống, đau lưng một thời gian khá dài. Trong đời sống anh giản dị, khiêm nhường mà thẳng thắn, chân thành, được đồng đội quí mến. Anh là người trưởng thành từ chiến sĩ lên tới trung đoàn trưởng trong cùng một đơn vị cho đến khi nghỉ hưu. Anh Bài mất năm 2001 do bị ung thư phổi, không biết có phải do nhiễm chất độc ở chiến trường không. Khi nghe tin anh Bài mất, từ Trường Sĩ quan Lục quân 1 ở Sơn Tây tôi đến viếng anh tại nhà riêng. Nhiều đồng đội đã về hưu, phục viên tận trong Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã ra viếng anh. Trước đó mấy hôm, khi anh ốm nặng tôi đến thăm ở Viện Quân y 108. Anh thều thào nói với tôi:
- Anh đau lắm em ạ! Trong đời anh, chưa bao giờ đau thế này. Chắc không được mấy ngày nữa đâu. Điểm danh lại, tiểu đôi ta đã mất hết cả rồi. Chỉ còn em, đứa em út của tiểu đội ngày nào còn bé nhỏ 16, 17 tuổi đầu thôi.
Nghe anh tâm sự, tôi cảm thương anh vô cùng, nước mắt lã chã rơi. Biết rằng, tôi sắp phải vĩnh biệt người anh, người thầy của mình trong chặng đầu tiên của cuộc đời quân ngũ mà đành bó tay chẳng  làm được gì cho anh.
                                            *
                                         *     *

2 - Sau khi hoàn thành nhiệm vụ của trận tập kích quân địch ngoài công sự, tiểu đội 4 chúng tôi được tăng cường cho Đại đội 3 của Tiểu đoàn đang làm nhiệm vụ phòng ngự ở Sê-Con-Cam. Sê-Con-Cam cách thị trấn Mường Phìn không xa. Địch ở Pờ Lan, Pắc Sế thường nống ra lấn chiếm, nhằm thọc sườn uy hiếp chặt đứt hành lang chiến lược Bắc-Nam của ta. Tiểu đội làm lực lượng cơ động ngoài công sự để chi viện cho Trung đội 1 Đại đội 3. Phương án tác chiến được xác định là khi địch đánh vào trận địa phòng ngự của trung đội 1, thì tùy hoàn cảnh cụ thể , đại đội sẽ dùng tiểu đội tôi tăng cường lên trận địa phòng ngự hoặc đánh vu hồi vào phía sau, hoặc đánh thọc bên sườn quân địch. Nhận nhiệm vụ xong, mấy ngày đầu, anh Bài dẫn tiểu đội đi địa hình xung quanh trận địa phòng ngự vừa để thuộc địa hình, địa vật, vừa kết hợp tuần tra khu vực. Sau đó lập phương án đánh địch. Chuẩn bị đường xuất kích,… Địa hình ở đây bằng phẳng trống trải. Bên triền sông là những vạt rừng tre xen lẫn những cánh đồng nứt nẻ đang giữa mùa khô. Ở đây không có địa thế hiểm yếu nên không thật thuận lợi cho bố trí phòng ngự. Nhưng lại thuận cho lực lượng cơ động phản công. Trước trận địa phòng ngự, Đại đội 3 đã bố trí các bãi mìn dày đặc và cắm chông tua tủa.
Thời gian làm nhiệm vụ phòng ngự ở Sê-Con-Cam, Tiểu đội chúng tôi đánh được 5 trận qui mô nhỏ, đều theo đúng như phương án tác chiến đã xác định. Mỗi lần địch đánh vào chốt phòng ngự của Trung đội 1, lệnh của đại đội, tiểu đội chúng tôi xuất kích đánh thọc vào ngang mạng sườn ép địch dạt vào bãi mìn. Bọn địch vừa bị đạn  thẳng, cối và mìn nên thương vong nhiều, buộc phải rút chạy về phía sau.
Có một kỷ niệm nhỏ,  một hôm cả tiểu đội xuất kích đánh địch về đang ngồi ăn cơm. Trời tối đen nhưng không được thắp đèn. Bất thần pháo 105 của địch bắn tới tấp vào trận địa. Mọi người lao vội xuống hầm. Anh Lê Văn Sơ chân đang đi đôi giày vải cao cổ, cuống cuồng bước vào nồi nước sôi vừa bắc từ trên bếp xuống. Nóng quá, anh kêu toáng lên. Tôi vội lấy dao cắt đứt dây tháo giày ra, chân anh vẫn bị bỏng nhẹ. Sau này gặp lại, anh Sơ đùa:
- Bữa đó tại chú mày mà anh hỏng mất đôi giày đẹp đấy.
Tôi đùa lại:
- Bữa đó không có em nhanh trí thì anh vẫn còn nguyên giày nhưng không còn đôi chân lành lặn như bây giờ đâu.
Hai anh em ôm nhau cười.
                                             *
                                          *     *

3 - Kết thúc nhiệm vụ phòng ngự ở Sê-Con-Cam, chúng tôi trở về đội hình cũ. Cả Tiểu đoàn đang tham gia vận chuyển lương thực, làm đường và kéo pháo vào chuẩn bị đánh lớn ở Huội Mua. Không khí chuẩn bị chiến trường rầm rộ. Chặt cây, san đường xong thì kéo pháo vào trận địa. Anh Bài, anh Tính nói với cả tiểu đội rằng từ ngày đi chiến trường đến bây giờ, chưa bao giờ có lực lượng tham gia hùng hậu đến như vậy. Có bộ binh, công binh, pháo binh, nghe đâu có cả xe bọc thép nữa.
Trung đội chúng tôi được giao nhiệm vụ kéo một khẩu pháo 105 ly từ phía bắc Mường Phìn vào gần Sê-Con-Cam. Tuy không vượt dốc, trèo đèo như người ta vẫn nói về việc kéo pháo vào, pháo ra ở Điên Biên Phủ trước đây, nhưng quả thật kéo pháo là rất mệt. Người mỏi nhừ, tay phồng rộp. Những ngày kéo pháo vào trận địa chúng tôi vui và tin tưởng. Vậy là trong trận chiến đấu tới đây, bộ binh chúng tôi được pháo binh chi viện. Pháo 105 ly sẽ bắn sập công sự và tiêu hao sinh lực địch, uy hiếp găm quân địch xuống, tạo điều kiện cho bộ binh tấn công, hoặc là chế áp pháo binh địch bắt chúng phải câm họng.
Ngày đó, tôi thấy cả ông Xổm Xắc, Tổng Tham mưu phó Quân đội Pa thét Lào xuống thăm hỏi và động viên chúng tôi trong  khi kéo pháo. Ông là người Lào Thưng, hoạt động chủ yếu ở Trung Hạ Lào. Các anh cán bộ trong tiểu đoàn tôi rất thân thiết với ông, coi ông như người cùng đơn vị. Ông  và đại đội địa phương tỉnh Savanakhet đã cùng ăn, cùng ở, cùng hoạt động, cùng sát cánh chiến đấu trên một chiến hào với bộ đội tình nguyện Việt Nam. Đúng là tình hữu nghị đặc biệt hiếm có.
Theo trinh sát Tiểu đoàn báo cáo và thông báo của trên, đồn Huội Mua của địch đóng trên một ngọn đồi thấp, có công sự gỗ đất với mấy lớp lô cốt, được nối với nhau bằng chiến hào và giao thông hào; có một lớp hàng rào thép gai và bên ngoài là một lớp cây rừng cưa đổ bao quanh làm chướng ngại vật; lực lượng địch có một đại đội tăng cường. Khi Huội Mua bị tấn công, pháo binh địch ở Pà Lan, Đồng Hến sẽ bắn chi viện.
 Tiểu đoàn 929 chúng tôi là lực lượng chủ yếu tấn công vào đồn Huội Mua. Ngoài hỏa lực vốn có trong biên chế là cối 82ly, ĐKZ 75ly, đại liên, Tiểu đoàn được trên chi viện là 4 khẩu 105ly, 4 khẩu cối 120 ly, một đại đội súng cao xạ 12,7 ly. Nghe nói còn có cả 4 xe bọc thép sẵn sàng xuất kích. Nghe nói, vì khi chuẩn bị chiến trường tôi không nhìn thấy và cũng không được cấp trên chính thức phổ biến.
Theo phương án tác chiến của Tiểu đoàn được cấp trên thông qua, Đại đội 1 là lực lượng chủ công đánh vào hướng chủ yếu, Đại đội 2 chúng tôi đánh vào hướng thứ yếu, Đại đội 3 làm lực lượng thê đội 2, sẵn sàng ứng phó các tình huống. Trong khi pháo binh ta bắn cấp tập vào trận địa địch, lực lượng bộ binh nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí xuất phát tấn công, đào hố cá nhân ẩn nấp, chờ sẵn. Khi pháo binh chuyển làn, bộ binh các mũi thực hành phá rào mở cửa tấn công quân địch trong công sự. Hiệu lệnh tác chiến là súng pháo hiệu do tiểu đoàn trưởng quyết định.
Đúng 5 giờ chiều ngày 15 tháng 4 năm 1965, Tiểu đoàn 929 xuất kích vào chiếm lĩnh vị trí tập kết. Dưới nắng chiều, cả đoàn quân vòng lá ngụy trang phấp phới, trông khí thế rất hùng dũng. Mấy anh Điện ảnh Quân đội trực tiếp quay phim. Máy trên vai chạy sè sè, ghi hình bộ đội hành quân và thực hành chiến đấu. Trước đó các anh cũng đã ghi hình chúng tôi kéo pháo vào trận địa.
Đúng 6 giờ tối, pháo 105ly và cối 120ly, đặt cách trận địa chừng 5 km, đồng loạt khai hỏa. Lần đầu tiên được nghe tiếng nổ đầu nòng (tiếng đề-pa) tiếng đạn rít trên không và tiếng nổ giòn to đanh, rất trúng đích, chúng tôi mừng vô cùng. Có người không kìm được, nhảy kiễng lên hô lớn:
- Tiên sư mấy thằng Phu Mi nhé, phen này cho chúng mày chết. Thắng đến nơi rồi, anh em ơi!
Chúng tôi vào đến vị trí xuất phát tấn công, cách đồn địch chừng 200 mét,  dừng lại dùng xẻng đào hố cá nhân. Pháo binh vẫn dồn dập nã đạn. Trong đồn nhiều đám cháy bốc lên cao. Chắc quân địch cho rằng, ta chỉ tập kích bằng hỏa lực, không có bộ binh, nên chưa thấy động tĩnh gì. Thỉnh thoảng trong đồn bắn vu vơ ra xung quanh trận địa mấy quả cối và mấy loạt đại liên như thể thăm dò. Cả một vùng rực sáng. Anh Bài bảo tôi chú ý giữ khoảng cách kẻo lạc. Mọi người trong tư thế sẫn sàng nổ súng. Chừng 10 phút, pháo chuyển làn, từ phía sau hai phát pháo hiệu đỏ rực vút lên không trung. Anh Quí hô toàn trung đội vượt qua hàng rào, đánh thẳng vào tiền duyên địch. Chúng tôi vừa vượt qua hàng rào bằng cây khô, băng qua lớp hàng rào thép gai, cách chiến hào tiền duyên của địch chừng 100 mét, thì các họng súng trong đồn bắn tới tấp vào đội hình. Vừa nhô lên có mấy người bị trúng đạn, gục tại chỗ. Trong giây lát tất cả các hướng tấn công đều bị khựng lại, chững lại.
Anh Bài hô:
- Liệu dùng B40 bắn vào lô cốt đầu cầu !
Anh Liệu phóng liền hai quả mà vẫn không trúng. Anh Các xả tiếp một tràng trung liên vào đó cũng chẳng ăn thua. Từ dưới nhìn lên, các hỏa điểm của địch bắn ra đỏ rực, đạn bay chíu chíu, cày xới xung quanh chúng tôi. Thực sự, lúc đó tôi cũng hoảng. Nói không sợ là tự dối lòng mình.
Từ phía sau đội hình, anh Nguyễn Văn Dương Đại đội trưởng điều khẩu đội ĐKZ 75ly được Tiểu đoàn tăng cường cho đại đội, đặt ngắm bắn trực tiếp mấy phát liền. ĐKZ vừa bắn xong, anh lao lên, hô lớn:
- Nào các đồng chí, dừng lại đây là chết, tất cả xung phong !
Đáp lời anh, cả Trung đội 2 chúng tôi vừa chạy thốc lên vừa cặp súng bắn trong làn đạn địch. Anh Liệu bắn tiếp một quả B40, chúng tôi nhìn rõ quả đạn lao vút cắm phập vào lô cốt đầu cầu nổ rầm lên, khẩu đại liên địch bị tiêu diệt. Cả Trung đội lao lên chiếm được chiến hào ngoài cùng.
Nhìn lại đội hình, tôi đã thấy thưa dần. Theo lệnh anh Lê Đôn Quí Trung đội trưởng, các tiểu đội xốc lại lực lượng, bám chắc tiền duyên đánh lấn vào trong. Tiếng lựu đạn nổ chát chúa.Tiếng súng bộ binh các loại nổ liên hồi, đanh rát. Anh Bài chỉ huy chúng tôi đánh thốc vào sườn bên phải. Tôi ném 2 quả lựu đạn, bắn liền cả kẹp đạn CKC.
Trong vòng 1 giờ đồng hồ, từ chiến hào tiền duyên địch, Đại đội chúng tôi đánh chiếm được mỏm đồi thấp phía ngoài. Cả trận địa mịt mù khói đạn, khét lẹt, cay xè. Từ đây phát triển vào tung thâm phải qua một cái yên ngựa. Đồi phía trong cao hơn. Từ trên cao hai khẩu đại liên địch bắn chéo cánh sẻ, đạn bay xối xả,chi chít. Thêm vào đó là các loại súng phóng lựu, cối 81 ly, ĐKZ của địch bắn ra dữ dội. Giằng co mãi hàng tiếng đồng hồ, không sao dứt điểm được. Mấy lần Đại đội tổ chức tấn công đều bị đánh bật lại, do bị tổn thất quá nhiều. Anh Dương không chịu lùi, trực tiếp dẫn Trung đội 1 đánh thốc lên lần nữa, lại cũng bị thương vong quá nửa. Bản thân anh Dương bị thương vào đầu và chân, anh em phải cõng ra.
Phía bên kia, Đại đội 1 là hướng tấn công chủ yếu của Tiểu đoàn cũng gặp khó khăn, thưa dần tiếng súng, chỉ đánh chiếm được non một nửa trận địa địch. Ta thương vong lớn. Địch co cụm chống trả quyết liệt, chờ viện binh. Nếu tình trạng này kéo dài, trời sáng địch sẽ cho máy bay đến oanh kích và cho bộ binh đến chi viện. Lệnh của trên cho tiểu đoàn rút lui.
Đề phòng địch phản công, Đại đội bố trí thực hành rút theo kiểu cuốn chiếu. Đưa thương binh, liệt sỹ ra trước, các trung đội lần lượt rút dần ra. Đến 7 giờ sáng hôm sau, cả tiểu đoàn mới về đến hậu cứ. Trong trận này tôi có mấy người bạn hy sinh. Trong đó tôi thương nhất là Cồng, 18 tuổi, cao to, trắng trẻo, đẹp trai, quê Tĩnh Gia - Thanh Hóa, bị thương nặng cụt cả hai chân, còn tỉnh táo, nhưng khiêng ra đến được nửa đường về hậu cứ thì hy sinh vì mất quá nhiều máu. Trên đường ra, hai chiếc máy bay T28 của địch quần đảo bắn phá dữ dội nhưng cách đội hình hàng trăm mét, không ai bị thương vong.

Sau này tôi được biết rẳng, cùng phối hợp tác chiến với  trận Huội Mua của Tiểu đoàn 929 chúng tôi, còn có trận đánh vào căn cứ địch ở Đồng Hến do Trung đoàn 9 - Sư đoàn 304 đảm nhiệm với qui mô to hơn nhưng cũng không giành được thắng lợi trọn vẹn. Tổn thất thương vong nhiều. Hướng chủ yếu do anh Mai Hiền, Tham mưu trưởng Sư đoàn ( sau này là Sư đoàn phó Sư đoàn 324 của chúng tôi hồi chiến đấu ở tây Thừa Thiên ) trực tiếp chỉ huy. Anh Mai Hiền là người trưởng thành từ chiến sĩ đã dạn dày trận mạc, trải qua nhiều cương vị chỉ huy chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp lên tới Trung đoàn trưởng. Nhưng đến khi đánh trận Đồng Hến thì anh lại không hoàn thành nhiệm vụ, gây hậu quả nghiêm trọng. Chính trận Đồng Hến như một cái lá chắn, cản trở con đường công danh sự nghiệp của anh.
Vậy đấy, đừng ai nghĩ rẳng đánh giặc bao giờ cũng thắng, dù người cầm quân là ai đi nữa. Thành bại là việc thường của binh gia. Vấn đề là, phần thắng cuối cùng thuộc về ai. Chính Tôn Tử - Nhà quân sự lỗi lạc của Trung Quốc thời cổ đại - đã tổng kết rằng: tri kỷ, tri bỉ, bách chiến vô nguy. Nghĩa là: biết địch, biết ta, trăm trận không nguy. Không nguy là không bị thất bại lớn, không bị tiêu diệt. Chứ không phải như nhiều người giải thích không thật đúng là: biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng. Cổ, kim, đông, tây, có lẽ chưa có danh tướng nào trăm trận, trăm thắng!
                                             *
                                          *    *

Nhân Kỷ niệm 70 năm Ngày Thành lập Quân đội nhân dân Lào ( 20/01/1949 – 20/01/2019 ), nhận lời mời của Bộ Quốc phòng Lào, tôi được tham gia Đoàn Đại biểu Cựu Chiến binh Quân Tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào sang Viêng Chăn dự Lễ Kỷ niệm. Đoàn do Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương nguyên Chính ủy Đoàn 959, nguyên Đoàn trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào làm Trưởng đoàn. Tham gia Đoàn còn có : Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Trung tướng AHLLVTND Tiêu Văn Mẫn nguyên Chính ủy Quân khu 5, Trung tướng Nguyễn Tiến Long nguyên Chính ủy Quân khu 3, Trung tướng Trần Thụ nguyên Chính ủy Quân khu 2, Trung tướng Vũ Văn Kiểu nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Lê Huy Mai nguyên Phó Chánh thanh tra Quân đội, Đại tá Nguyễn Quốc Túy & Đại tá Nguyễn Quốc Tuấn nguyên Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, Đại tá Trần Đình Dần CCB Quân Tình nguyện Việt Nam tại Lào cùng một số đồng chí khác. Thực ra, trong Danh sách ban đầu của Đoàn không có tên tôi. Sắp đến ngày lên đường, Đoàn thiếu một người do Thiếu tướng Lê Thanh, 96 tuổi, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316 tham gia chiến đấu ở Lào trong thời kỳ chống Mỹ, nay sức khỏe không bảo đảm. Trong cuộc họp Đoàn, anh Nguyễn Tiến Long đề nghị tôi thay thế và được các thành viên hoàn toàn nhất trí. So với các bậc trưởng lão trong đoàn cao tuổi đời, nhiều tuổi Đảng, tuổi quân và có bề dày cống hiến, thì tôi chỉ xứng bậc con cháu, em út.
Trong thời gian sang dự Lễ Kỷ niệm, chúng tôi được lãnh đạo và cơ quan Bộ Quốc phòng tiếp đón rất trọng thị, chu đáo. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào Chăn Xa Mỏn Chăn Nha Lạt đã dành thời gian tiếp thân mật và chiêu đãi Đoàn. Cùng dự với Bộ trưởng, có lãnh đạo các cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân Lào. Đoàn đã tham gia dự Lễ Kỷ niệm tại Quảng trường, xem Lễ duyệt binh với quy mô rất hoành tráng,…
Hơn nửa thế kỷ đã qua, nay trở lại đất nước Triệu Voi, kỷ niệm xưa và hiện thực nay quyện vào nhau trong tâm trí tôi. Điều cốt tủy đọng lại trong tôi là tấm lòng thủy chung, son sắt của các bạn Lào. Trải qua mấy chục năm, trong điều kiện có nhiều đổi thay trong phát triển, nhưng tình nghĩa giữa những người cùng chung chiến hào năm xưa vẫn nguyên vẹn đong đầy. Các buổi gặp gỡ tiếp xúc giữa ta và Ban toát lên một điều thống nhất là : Liên minh chiến đấu Việt - Lào là một tất yếu lịch sử khách quan có tính quy luật. Quan hệ đoàn kết Đặc biệt Việt - Lào là tài sản tinh thần vô giá của hai dân tộc, hai quân đội. Điều hệ trọng này phải được mãi mãi trân trọng giữ gìn, lưu truyền, tiếp nối trong các thế hệ mai sau ./.     


KÝ ỨC VỀ CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI 
PHÍA BẮC, THÁNG 2 - 1979

                                                          N M Đ

Ngày 17/02/2019, nhà cầm quyền Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế, bất ngờ dùng 12 vạn quân ồ ạt tấn công trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung. Thời điểm cao nhất chúng huy động tới 60 vạn .
Trong cuộc chiến hơn 1 tháng, quân xâm lược Trung Quốc đã dã man bắn giết biết bao người và tàn phá rất nhiều cơ sở vật chất của ta.
Quân dân ta đã kiên cường đánh trả, tiêu diệt và làm bị thương hàng vạn tên địch. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc, biết bao cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng. Tổ quốc & nhân dân ta đời đời nhớ ơn các Liệt sĩ.
Khi quân Trung Quốc xâm lược ồ ạt tấn công vào lãnh thổ biên giới phía Bắc nước ta, tháng 02/ 1979, tôi đang công tác ở Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị. Tin tức từ các hướng mặt trận từ Hoàng Liên Sơn đến Quảng Ninh ngày đêm dội về cơ quan Bộ Quốc phòng. Sau mấy năm hòa bình, không khí thời chiến đang trở lại. Nếp công tác, sinh hoạt rộn rã khẩn trương hơn. Cơ quan tiến hành báo động nhiều lần. Cán bộ các cơ quan luôn luôn trong tâm thế sẵn sàng đợi lệnh lên đường nhận nhiệm vụ.
Chiều ngày 23 /02/1979, tôi cùng một số cán bộ thuộc các cơ quan được Thủ trưởng Tổng cục Chính trị triệu tập giao nhiệm vụ làm Phái viên xuống các đơn vị đang trực tiếp chiến đấu ở biên giới thuộc: Quân khu 1, Quân khu 2 và Đặc khu Quảng Ninh.
Vừa bước sang tuổi 31, bậc quân hàm Đại úy, tôi lại hăm hở nhận nhiệm vụ lên đường ra mặt trận tựa như mùa Đông năm 1964 - mới chẵn 16 tuổi đã nhập ngũ vào chiến trường Miền Nam chiến đấu.
Theo phân công, tôi cùng anh Đào Thắng, Trung úy, Nhà văn, cán bộ Cục Tuyên huấn xuống Trung đoàn 567 thuộc Quân khu 1 đang chiến đấu tại mặt trận Cao Bằng. ( Sau này, anh Đào Thăng là Đại tá, chuyển ngành làm Chánh Văn phòng Hội Nhà văn ).
Nhận nhiệm vụ xong rời phòng họp, tôi bất chợt gặp Đại tướng Chu Huy Mân ở dãy hành lang tòa nhà Văn phòng Tổng cục Chính trị. Ông dừng lại ôn tồn hỏi tôi:
- Cháu được cử đi đâu ?
- Dạ, cháu được cử lên mặt trân Cao Bằng - Tôi hăng hái trả lời .
Ông nói tiếp :
- Thế là tốt. Chiến tranh do kẻ địch phát động diễn ra trên diện rộng, với qui mô lớn. Cả nước ta lại phải đương đầu với một cuộc chiến tranh mới, với kẻ thù mới. Cháu đã qua chiến đấu ở chiến trường thời đánh Mỹ. Nay, cần tiếp tục phấn đấu rèn luyện qua thực tiễn chiến đấu, công tác ở đơn vị cơ sở. Này! Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, bác đã từng chỉ huy chiến đấu ở Cao Bằng đấy. Bây giờ lên đó, cháu phải xuống hẳn một Trung đoàn đang chiến đấu, trực tiếp nắm tình hình và giúp lãnh đạo chỉ huy đơn vị giải quyết những vấn đề đặt ra. Nhớ phải có báo cáo kịp thời về Tổng cục.
Chia tay ông, tôi vui vẻ trở về cơ quan chuẩn bị mấy thứ cần thiết để sáng mai lên đường.
Sáng sớm ngày 24/ 02, tôi dùng xe Hon Đa đưa nhà tôi và Nguyễn Trần Quang, con trai đầu ( ngày đó mới hơn 3 tuổi, chúng tôi chưa sinh Nguyễn Trần Thùy Vinh) từ nhà tôi ở 1A Hoàng Văn Thụ vào nhà 30 Lý Nam để chia tay ông bà ngoại.
Từ nhà ông bà ngoại, tôi khoác ba lô đi bộ sang cơ quan Tổng cục Chính trị. Liễu và cháu Quang đi tiễn. Từ trong nhà ra gần tới cổng 30 Lý Nam đế, đến đầu cổng nhà ông Đồng Sỹ Nguyên có lối nhỏ rẽ tắt qua Đại đội 2 vệ binh thuộc Lữ đoàn 144 sang cơ quan TCCT - Lối đi này chỉ những người có Giấy ra vào Thành mới qua được. Tôi dừng lại giang tay bế con trai lên ghì chặt vào lòng, ôm hôn con. Quang hỏi, Ba ơi, Ba đi chống Tàu bao giờ về? ( Trước đó, nghe người lớn nói với nhau là vậy, nên cháu biết ). Tôi nói, chưa biết trước, nhưng không lâu lắm đâu con ạ. Liễu nhà tôi bịn rịn, tay cầm tay, rồi lẳng lặng ngoảnh mặt đi, đưa tay nghẹn ngào gạt nước mắt. Trong phút giây xúc đông, tôi vội nói lời chia tay rồi đi thẳng, đầu không dám ngoảnh lại. Hoàn cảnh khác nhau, nhưng mọi cuộc chia tay lưu luyến của bao cặp vợ chồng trong thời chiến từ xưa đến nay đều diễn ra như vậy.
Vào tập trung ở sân bóng đá Tổng cục Chính trị, các cơ quan có một số người đến chia tay một cách nhẹ nhàng. Tôi và anh Đào Thắng lên chiếc xe com - măng - ca Bắc Kinh đít tròn, do anh Nguyễn Văn Mỹ quê ở Hải Dương lái. Tôi và Mỹ quen nhau đã nhiều năm, nên dễ vào chuyện. Với anh Đào Thắng, đây là lần gặp đầu tiên. Qua câu chuyện bước đầu, tôi biết anh Thắng hơn tôi hai tuổi, là chồng cô Như, con gái Nhà văn nổi tiếng Nguyễn Đình Thi. Thời chống Mỹ, anh Thắng ở đơn vị Phòng không đã tham gia rất nhiều trận chiến đấu ác liệt ở vùng Khu Bốn. Anh thuộc nhiều địa danh quê tôi. Anh Thắng cũng đã có nhiều tác phẩm viết về những trận chiến đấu ác liệt bắn máy bay Mỹ trên bầu trời Khu 4.
Từ Hà Nội, theo Quốc lộ 3, chúng tôi lên Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đóng ở Thái Nguyên, với cự ly khoảng hơn 80 cây số. Đến Quân khu, chúng tôi vào làm việc với Cục Chính trị. Anh Nguyễn Hức, Cục phó Chính trị cùng anh Ban cán bộ Phòng Tuyên huấn tiếp và làm việc với chúng tôi. Sau đó, xe chúng tôi đi lên Bắc Kạn với cự ly khoảng 90 cây số, rồi đi tiếp lên Cao Bằng.
Hôm đó là Thứ Bảy, ngày 20 tháng Giêng năm Kỷ Mùi. Tiết Xuân đang lúc gió mùa đông bắc, mưa phùn lất phất, trời se lạnh. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi lên Cao Bằng. Hai bên đường trên các triền núi, có nhiều vạt lau khá cao, bông lau phất phơ trong gió xuân. Thỉnh thoảng có cây đào phai, trông khá đẹp. Đường đi qua nhiều đèo cao khúc khuỷu : Đèo Giàng, Đèo Gió, Đèo Ngân Sơn, … Đèo Gió là đèo cao và dài nhất, rất nguy hiểm. Trời mù sương, đường trơn trượt, nếu lái xe không cẩn thận dễ xảy ra tai nạn. Trên đường khá tấp nập xe cộ. Người ra mặt trân. Người về phía hậu phương. Lúc này quân Trung Quốc vừa chiếm xong Thị xã Cao Bằng. Tỉnh đội Cao Bằng đã lùi về Ngân Sơn. Trong số đoàn người lui về về sau, phần đông là dân đi sơ tán và cũng có nhiều xe chở thương binh từ mặt trận về.
Khi đến Ngân Sơn, chúng tôi vào Tỉnh đội Cao Bằng xuất trình giấy tờ. Cơ quan Tỉnh đội bố trí cho tôi, anh Thắng và Mỹ ngủ ở một nhà dân trong bản. Dân ở đây đã sơ tán về phía sau. Nhà trống, đồ đạc vứt lại ngổn ngang. Đêm đến miền núi cao trời rét đậm, nấu cơm ăn xong, chúng tôi ngồi sưởi ấm bên bếp lửa hồng đến tận khuya rồi mới thu xếp sửa soạn chỗ ngủ.
Theo phân công, sáng mai, chúng tôi hành quân bộ cùng với anh Nông Văn Nhung, Trung tá, Chính ủy Trung đoàn 567 và mấy cán bộ, chiến sĩ lên nhận nhiệm vụ ở Tỉnh đội Cao Bằng quay về đơn vị. Tôi nhìn vào bản đồ tác chiến thì thấy Trung đoàn 567 đang nằm sau lưng địch. Nói cách khác, quân Trung Quốc đã tiến khá sâu vào lãnh thổ Việt Nam mà Trung đoàn 567 đã nằm trong vòng vây của chúng. Việc liên lạc từ Trung đoàn 567 về Tỉnh đội và Mặt trận Cao Bằng rất khó khăn, chỉ có từng toán nhỏ xuyên cắt rừng, tránh địch để đi.
Với tôi, bằng kinh nghiệm từ hồi chống Mỹ khi còn là chiến sĩ trinh sát, đặc công. Lần nay, việc cắt rừng tránh địch để đi là nguy hiểm, nhưng không thật khó. Vì đường rừng mênh mông có nhiều lối tránh. Thêm nữa, được các chiến sĩ của Trung đoàn 567 quen thuộc địa hình dẫn đường thì chúng tôi yên tâm.
Sáng dậy, cơm nước xong, vai khoác ba lô, lưng đeo khẩu súng ngắn K 59, từ Ngân Sơn chúng tôi đi cắt đường rừng vào Trung đoàn 567 đang hoạt động ở Đường số 4. Trên đường đi, hỏi chuyện tôi biết anh Nông Văn Nhung, người dân tộc Tày, hơn tôi độ dăm tuổi, người đậm chắc, đầu hơi bị hói. Thời chống Mỹ, anh Nhung ở Sư đoàn 312 đi chiến trường Tây Nguyên, rồi vào chiến đấu ở Đông Nam Bộ.
Cuốc bộ đường rừng, leo nhiều dốc cao, lội qua nhiều con suối, tôi cảm thấy khá mệt. Đang trời rét mà mồ hôi tôi cứ túa ra ướt cả áo. Dưới chân thì từng đàn vắt cứ ngoe nguấy bám theo. Thật chẳng khác nào việc xuyên rừng, vượt suối tôi đã trải qua thời đánh Mỹ. Khoảng 5 giờ chiều, đoàn chúng tôi về tới Trung đoàn bộ đóng cạnh một bản dân tộc ở chân núi, phía dưới có con suối, xa hơn là mấy thửa ruộng bậc thang. Sở Chi huy Trung đoàn gồm mấy căn hầm, phía trên có mấy cái bàn làm bằng tre ghép lại, xung quanh là mấy dãy lán nứa. Người đầu tiên tiếp chúng tôi là anh Hứa Văn Kính, Thiếu tá, Trung đoàn trưởng - Một cán bộ khá trẻ so với cấp bậc và độ tuổi, dáng tầm thước, da trắng, tác phong vui vẻ, nhanh nhẹn, xởi lởi. Qua câu chuyện, tôi được biết anh Kính mới được điều động từ Trường Quân sự Quân đoàn 1 về Trung đoàn mấy tháng trước khi xẩy ra chiến tranh.
Trung đoàn 567 là trung đoàn độc lập trực thuộc Quân khu 1. Khi chiến tranh biên giới xẩy ra, Trung đoàn 567 đã chiến đấu nhiều trận, lập công xuất sắc ở Thach An, Hà Quảng.
Ngày đầu tiên, 17/02/1979, Quân Trung Quốc mở đầu là pháo bắn dữ dội, tiếp theo là xe tăng và bộ binh tấn công. Trung đoàn 567 đã cùng Đồn Biên phòng Tà Lùng và dân quân tự vệ địa phương chặn đánh địch quyết liệt ở Đèo Khâu Chỉa ( Phục Hòa ). Mấy ngày sau, địch tập trung quân dồn dập tấn công vào Thị xã Cao Bằng. Do tương quan lực lương chênh lệch, ngày 24 / 02 / 1979, địch chiếm được Thị xã. Nhiều đơn vị của ta bị tổn thất, rơi vào thế bị chia cắt, bao vây. Lúc này quân số và vũ khí trang bị của Trung đoàn 567 đã bị tiêu hao, lương thực, thực phẩm khó khăn.
Với tư cách là Phái viên của Tổng cục Chính trị, nhiệm vụ của chúng tôi là nắm tình hình mọi mặt của đơn vị, tư vấn cho chỉ huy lãnh đạo đơn vị xử lý các tình huống. Qua nắm tình hình, chúng tôi nhận thấy, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn nhận thức khá đầy đủ về âm mưu thủ đoạn của địch và nhiệm vụ của đơn vị. Qua mấy ngày chiến đấu đơn vị có thương vong, nhưng mọi người không hề nao núng tinh thần. Cùng với việc nắm tình hình và tư vấn với Ban chỉ huy Trung đoàn xử lý các tình huống chiến đấu, tôi còn đi sâu kiểm tra thực hiện công tác chính sách trong chiến đẩu: việc an táng liệt sĩ, cấp cứu thương binh và giải quyết giấy tờ cho thương binh về phía sau điều trị; việc bình bầu khen thưởng những tập thể cá nhân lập thành tích trong chiến đấu.
Là nhà văn quân đội đang tác nghiệp như một phóng viên chiến trường đích thực, anh Đào Thắng đã đi sâu gặp gỡ các cá nhân và tập thể điển hình xuất sắc trong chiến đấu, kịp viết bài đăng Tạp chí Văn nghệ quân đội và Báo QĐND. Hằng ngày, chúng tôi cùng ăn ở với bộ đội ở trận địa.
Bằng vốn sống thực tế nhiều năm ở chiến trường miền Nam, tôi sớm quen với mọi việc, được anh em từ lãnh đạo chỉ huy Trung đoàn đến chiến sĩ tin tưởng, thân thiết gần gũi, công việc thuân lợi. Anh Đào Thắng cũng vậy. Như phần trên đã nói, trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, là bộ đội pháo cao xạ, anh Thắng đã nếm trải bao ác liệt, khó khăn trên các địa bàn trọng điểm ở Khu Bốn.
Ở Trung đoàn 567 được hơn 1 tuần, có Điện gọi chúng tôi về Bộ Tư lệnh Mặt trân Cao Bằng báo cáo tình hình. Phút chia tay anh em Trung đoàn thật bùi ngùi. Chỉ ngót mười ngày thôi mà tình cảm thật gắn bó. Chúng tôi lưu luyến chia tay, hẹn ngày gặp lại. Ban Chỉ huy Trung đoàn cho 2 chiến sĩ cắt đường rừng dẫn chúng tôi trở ra Ngân Sơn.
Lúc này, theo chỉ thị của trên, Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đã Quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Cao Bằng. Đại tá , AHLLVT Đàm Văn Ngụy , Phó Tư lệnh Quân khu 1 được phân công làm Tư lệnh Mặt trận. Đại tá Ngô Bằng Khê làm Chính ủy Mặt trận. Sở Chi huy BTL Mặt trận Cao Bằng đặt ở Bằng Khẩu. Khi về tới BTL thì tôi gặp và báo cáo với Thủ trưởng trực tiếp là Thiếu tướng Hùng Phong, Cục trưởng Cục Tổ chức TCCT mới từ Hà Nội lên đang làm Phái viên của Bộ tại Mặt trận. ( Một thời gian sau, ông Hùng Phong được cấp trên điều động làm Bí thư Đảng ủy Quân khu, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1).
Khi chúng tôi chuẩn bị ra về, thì có một việc đột xuất : Mặt trận dùng máy bay trực thăng Mi6 để tiếp tế vũ khí đạn dược, lương thực phẩm cho Trung đoàn 567 đang nằm trong vòng vây của địch. Vì tổ lái máy bay không xác định được địa điểm, tọa độ đóng quân của Trung đoàn. Vậy là, tôi và anh Đào Thắng được giao nhiệm vụ ngồi lên máy bay để dẫn đường như hoa tiêu. Dù biết chắc địa điểm đơn vị đóng quân, lại là người cũng có ít nhiều kinh nghiệm xác định tọa độ trên bản đồ, nhưng quả thật địa hình rừng núi, lại ngồi trên máy bay nhìn xuống, mây mù dày đặc. Bay cao nhìn xuống dưới thì không thấy gì, bay thấp thì sợ đâm vào các ngọn núi cao. Hơn nữa, được biết hồi đó Trung Quốc đã đưa pháo cao xạ vào đất ta, kể cả thị xã Cao Bằng. Ngồi vào buồng lái, bằng mắt thường nhìn qua kính máy bay, tôi loay hoay chỉ trỏ cho máy bay vòng đi vòng lại cả một vùng khá rộng, đến mấy lượt, nhưng đều không thấy. Cuối cùng, sau vài chục phút dò dẫm không tìm được chỗ đóng quân của Trung đoàn 567. Qua bộ đàm, tổ lái xin ý kiến và được cấp trên lệnh cho máy bay quay về căn cứ.
Khi tiếp đất, nhìn những lô hàng vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm đang xếp sẵn trong khoang hạnh lý máy bay, lòng tôi áy náy xót xa vô cùng. Tôi tự cảm thấy mình như có lỗi lớn với anh em. Trong kia, giữa vòng vây quân thù, bộ đội ta thiếu thốn mọi điều, phải hằng ngày dè xẻn chắt chiu để sống và chiến đấu.
Tôi được biết, sau đó mấy hôm, BTL Mặt trận Cao Bằng lệnh cho Trung đoàn 567 vượt vòng vây rút ra phía sau để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị tập trung phản kích địch.
Hai hôm sau, có Điện yêu cầu chúng tôi về Hà Nội gấp để tổng hợp đánh giá tình hình các hướng và kịp xét đề nghị khen thường. Nhân có máy bay trực thăng Mi6 chở hàng lên Mặt trận Cao Bằng quay về Hà Nội, chúng tôi được phép cho ô tô lên máy bay để cùng về. Hơn một giờ sau, trực thăng hạ cánh sân bay Bạch Mai. Chúng tôi lên ô tô về đơn vị.
Trong cuộc đời quân ngũ 45 năm, tôi có nhiều chuyến công tác. Nhưng có thể nói, chuyến thâm nhập Trung đoàn 567 Quân khu 1 đang trực tiếp chiến đấu ở biên cương Cao Bằng mùa Xuân năm 1979 - trong thời điểm cả Dân tộc ta đang sục sôi hào khí chống quân Trung Quốc xâm lược - là một trong chuyến công tác có nhiều ý nghĩa với bao kỷ niệm không quên.
Thấm thoắt thời gian trôi nhanh, mới ngày nào đó mà nay đã tròn 40 năm. Lâu nay, trên các phương tiện thông tin, tuyên truyền và cả trong các văn bản pháp qui đều gọi là :" Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc ".
Tôi trộm nghĩ, gọi thế e không đúng ! Gọi là “ chiến tranh biên giới “ thì phải là cuộc chiến tranh xâm lấn giành giật lãnh thổ lẫn nhau của cả hai bên biên giới. Đằng này, đây là cuộc chiến tranh xâm lược lãnh thổ Việt Nam được phát động đơn phương từ Trung Quốc. Phía Việt Nam không hề cho quân xâm lấn đất đai Trung Quốc.
Tên gọi một cuộc chiến tranh là căn cứ vào bản chất của nó, chứ không phụ thuộc vào qui mô, thời gian, không gian và tính chất của cuộc chiến.
Từ cách nghĩ đó, tôi cho rằng, cần nói thẳng là :" Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc".
Và điều này nữa là : Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc, tổ tiên chúng ta đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống lại sự xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc : Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh mà lịch sử mãi mãi khắc ghi.
Mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789, Quang Trung - Nguyễn Huệ thiên tài đã lãnh đạo dân ta đánh tan 29 vạn quân Thanh. Cuộc chiến chỉ diễn ra mấy ngày, nhưng Chiến công đó mãi mãi chói lọi trong Lịch sử vinh quang của dân tộc. Vậy mà, mới có 40 năm thôi, trên phương tiện tuyên truyền không đề cập tương xứng ./.




CHUYỆN 40 NĂM TRƯỚC - KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN

                                                                 N M Đ

Ngày 17/02/2019, nhà cầm quyền Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế, bất ngờ dùng 12 vạn quân ồ ạt tấn công trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung. Thời điểm cao nhất chúng huy động tới 60 vạn .
Trong cuộc chiến hơn 1 tháng, quân xâm lược Trung Quốc đã dã man bắn giết biết bao người và tàn phá rất nhiều cơ sở vật chất của ta.
Quân dân ta đã kiên cường đánh trả, tiêu diệt và làm bị thương hàng vạn tên địch. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc, biết bao cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng. Tổ quốc & nhân dân ta đời đời nhớ ơn các Liệt sĩ.
Khi quân Trung Quốc xâm lược ồ ạt tấn công vào lãnh thổ biên giới phía Bắc nước ta, tháng 02/ 1979, tôi đang công tác ở Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị. Tin tức từ các hướng mặt trận từ Hoàng Liên Sơn đến Quảng Ninh ngày đêm dội về cơ quan Bộ Quốc phòng. Sau mấy năm hòa bình, không khí thời chiến đang trở lại. Nếp công tác, sinh hoạt rộn rã khẩn trương hơn. Cơ quan tiến hành báo động nhiều lần. Cán bộ các cơ quan luôn luôn trong tâm thế sẵn sàng đợi lệnh lên đường nhận nhiệm vụ.
Chiều ngày 23 /02/1979, tôi cùng một số cán bộ thuộc các cơ quan được Thủ trưởng Tổng cục Chính trị triệu tập giao nhiệm vụ làm Phái viên xuống các đơn vị đang trực tiếp chiến đấu ở biên giới thuộc: Quân khu 1, Quân khu 2 và Đặc khu Quảng Ninh.
Vừa bước sang tuổi 31, bậc quân hàm Đại úy, tôi lại hăm hở nhận nhiệm vụ lên đường ra mặt trận tựa như mùa Đông năm 1964 - mới chẵn 16 tuổi đã nhập ngũ vào chiến trường Miền Nam chiến đấu.
Theo phân công, tôi cùng anh Đào Thắng, Trung úy, Nhà văn, cán bộ Cục Tuyên huấn xuống Trung đoàn 567 thuộc Quân khu 1 đang chiến đấu tại mặt trận Cao Bằng. ( Sau này, anh Đào Thăng là Đại tá, chuyển ngành làm Chánh Văn phòng Hội Nhà văn ).
Nhận nhiệm vụ xong rời phòng họp, tôi bất chợt gặp Đại tướng Chu Huy Mân ở dãy hành lang tòa nhà Văn phòng Tổng cục Chính trị. Ông dừng lại ôn tồn hỏi tôi:
- Cháu được cử đi đâu ?
- Dạ, cháu được cử lên mặt trân Cao Bằng - Tôi hăng hái trả lời .
Ông nói tiếp :
- Thế là tốt. Chiến tranh do kẻ địch phát động diễn ra trên diện rộng, với qui mô lớn. Cả nước ta lại phải đương đầu với một cuộc chiến tranh mới, với kẻ thù mới. Cháu đã qua chiến đấu ở chiến trường thời đánh Mỹ. Nay, cần tiếp tục phấn đấu rèn luyện qua thực tiễn chiến đấu, công tác ở đơn vị cơ sở. Này! Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, bác đã từng chỉ huy chiến đấu ở Cao Bằng đấy. Bây giờ lên đó, cháu phải xuống hẳn một Trung đoàn đang chiến đấu, trực tiếp nắm tình hình và giúp lãnh đạo chỉ huy đơn vị giải quyết những vấn đề đặt ra. Nhớ phải có báo cáo kịp thời về Tổng cục.
Chia tay ông, tôi vui vẻ trở về cơ quan chuẩn bị mấy thứ cần thiết để sáng mai lên đường.
Sáng sớm ngày 24/ 02, tôi dùng xe Hon Đa đưa nhà tôi và Nguyễn Trần Quang, con trai đầu ( ngày đó mới hơn 3 tuổi, chúng tôi chưa sinh Nguyễn Trần Thùy Vinh) từ nhà tôi ở 1A Hoàng Văn Thụ vào nhà 30 Lý Nam để chia tay ông bà ngoại.
Từ nhà ông bà ngoại, tôi khoác ba lô đi bộ sang cơ quan Tổng cục Chính trị. Liễu và cháu Quang đi tiễn. Từ trong nhà ra gần tới cổng 30 Lý Nam đế, đến đầu cổng nhà ông Đồng Sỹ Nguyên có lối nhỏ rẽ tắt qua Đại đội 2 vệ binh thuộc Lữ đoàn 144 sang cơ quan TCCT - Lối đi này chỉ những người có Giấy ra vào Thành mới qua được. Tôi dừng lại giang tay bế con trai lên ghì chặt vào lòng, ôm hôn con. Quang hỏi, Ba ơi, Ba đi chống Tàu bao giờ về? ( Trước đó, nghe người lớn nói với nhau là vậy, nên cháu biết ). Tôi nói, chưa biết trước, nhưng không lâu lắm đâu con ạ. Liễu nhà tôi bịn rịn, tay cầm tay, rồi lẳng lặng ngoảnh mặt đi, đưa tay nghẹn ngào gạt nước mắt. Trong phút giây xúc đông, tôi vội nói lời chia tay rồi đi thẳng, đầu không dám ngoảnh lại. Hoàn cảnh khác nhau, nhưng mọi cuộc chia tay lưu luyến của bao cặp vợ chồng trong thời chiến từ xưa đến nay đều diễn ra như vậy.
Vào tập trung ở sân bóng đá Tổng cục Chính trị, các cơ quan có một số người đến chia tay một cách nhẹ nhàng. Tôi và anh Đào Thắng lên chiếc xe com - măng - ca Bắc Kinh đít tròn, do anh Nguyễn Văn Mỹ quê ở Hải Dương lái. Tôi và Mỹ quen nhau đã nhiều năm, nên dễ vào chuyện. Với anh Đào Thắng, đây là lần gặp đầu tiên. Qua câu chuyện bước đầu, tôi biết anh Thắng hơn tôi hai tuổi, là chồng cô Như, con gái Nhà văn nổi tiếng Nguyễn Đình Thi. Thời chống Mỹ, anh Thắng ở đơn vị Phòng không đã tham gia rất nhiều trận chiến đấu ác liệt ở vùng Khu Bốn. Anh thuộc nhiều địa danh quê tôi. Anh Thắng cũng đã có nhiều tác phẩm viết về những trận chiến đấu ác liệt bắn máy bay Mỹ trên bầu trời Khu 4.
Từ Hà Nội, theo Quốc lộ 3, chúng tôi lên Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đóng ở Thái Nguyên, với cự ly khoảng hơn 80 cây số. Đến Quân khu, chúng tôi vào làm việc với Cục Chính trị. Anh Nguyễn Hức, Cục phó Chính trị cùng anh Ban cán bộ Phòng Tuyên huấn tiếp và làm việc với chúng tôi. Sau đó, xe chúng tôi đi lên Bắc Kạn với cự ly khoảng 90 cây số, rồi đi tiếp lên Cao Bằng.
Hôm đó là Thứ Bảy, ngày 20 tháng Giêng năm Kỷ Mùi. Tiết Xuân đang lúc gió mùa đông bắc, mưa phùn lất phất, trời se lạnh. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi lên Cao Bằng. Hai bên đường trên các triền núi, có nhiều vạt lau khá cao, bông lau phất phơ trong gió xuân. Thỉnh thoảng có cây đào phai, trông khá đẹp. Đường đi qua nhiều đèo cao khúc khuỷu : Đèo Giàng, Đèo Gió, Đèo Ngân Sơn, … Đèo Gió là đèo cao và dài nhất, rất nguy hiểm. Trời mù sương, đường trơn trượt, nếu lái xe không cẩn thận dễ xảy ra tai nạn. Trên đường khá tấp nập xe cộ. Người ra mặt trân. Người về phía hậu phương. Lúc này quân Trung Quốc vừa chiếm xong Thị xã Cao Bằng. Tỉnh đội Cao Bằng đã lùi về Ngân Sơn. Trong số đoàn người lui về về sau, phần đông là dân đi sơ tán và cũng có nhiều xe chở thương binh từ mặt trận về.
Khi đến Ngân Sơn, chúng tôi vào Tỉnh đội Cao Bằng xuất trình giấy tờ. Cơ quan Tỉnh đội bố trí cho tôi, anh Thắng và Mỹ ngủ ở một nhà dân trong bản. Dân ở đây đã sơ tán về phía sau. Nhà trống, đồ đạc vứt lại ngổn ngang. Đêm đến miền núi cao trời rét đậm, nấu cơm ăn xong, chúng tôi ngồi sưởi ấm bên bếp lửa hồng đến tận khuya rồi mới thu xếp sửa soạn chỗ ngủ.
Theo phân công, sáng mai, chúng tôi hành quân bộ cùng với anh Nông Văn Nhung, Trung tá, Chính ủy Trung đoàn 567 và mấy cán bộ, chiến sĩ lên nhận nhiệm vụ ở Tỉnh đội Cao Bằng quay về đơn vị. Tôi nhìn vào bản đồ tác chiến thì thấy Trung đoàn 567 đang nằm sau lưng địch. Nói cách khác, quân Trung Quốc đã tiến khá sâu vào lãnh thổ Việt Nam mà Trung đoàn 567 đã nằm trong vòng vây của chúng. Việc liên lạc từ Trung đoàn 567 về Tỉnh đội và Mặt trận Cao Bằng rất khó khăn, chỉ có từng toán nhỏ xuyên cắt rừng, tránh địch để đi.
Với tôi, bằng kinh nghiệm từ hồi chống Mỹ khi còn là chiến sĩ trinh sát, đặc công. Lần nay, việc cắt rừng tránh địch để đi là nguy hiểm, nhưng không thật khó. Vì đường rừng mênh mông có nhiều lối tránh. Thêm nữa, được các chiến sĩ của Trung đoàn 567 quen thuộc địa hình dẫn đường thì chúng tôi yên tâm.
Sáng dậy, cơm nước xong, vai khoác ba lô, lưng đeo khẩu súng ngắn K 59, từ Ngân Sơn chúng tôi đi cắt đường rừng vào Trung đoàn 567 đang hoạt động ở Đường số 4. Trên đường đi, hỏi chuyện tôi biết anh Nông Văn Nhung, người dân tộc Tày, hơn tôi độ dăm tuổi, người đậm chắc, đầu hơi bị hói. Thời chống Mỹ, anh Nhung ở Sư đoàn 312 đi chiến trường Tây Nguyên, rồi vào chiến đấu ở Đông Nam Bộ.
Cuốc bộ đường rừng, leo nhiều dốc cao, lội qua nhiều con suối, tôi cảm thấy khá mệt. Đang trời rét mà mồ hôi tôi cứ túa ra ướt cả áo. Dưới chân thì từng đàn vắt cứ ngoe nguấy bám theo. Thật chẳng khác nào việc xuyên rừng, vượt suối tôi đã trải qua thời đánh Mỹ. Khoảng 5 giờ chiều, đoàn chúng tôi về tới Trung đoàn bộ đóng cạnh một bản dân tộc ở chân núi, phía dưới có con suối, xa hơn là mấy thửa ruộng bậc thang. Sở Chi huy Trung đoàn gồm mấy căn hầm, phía trên có mấy cái bàn làm bằng tre ghép lại, xung quanh là mấy dãy lán nứa. Người đầu tiên tiếp chúng tôi là anh Hứa Văn Kính, Thiếu tá, Trung đoàn trưởng - Một cán bộ khá trẻ so với cấp bậc và độ tuổi, dáng tầm thước, da trắng, tác phong vui vẻ, nhanh nhẹn, xởi lởi. Qua câu chuyện, tôi được biết anh Kính mới được điều động từ Trường Quân sự Quân đoàn 1 về Trung đoàn mấy tháng trước khi xẩy ra chiến tranh.
Trung đoàn 567 là trung đoàn độc lập trực thuộc Quân khu 1. Khi chiến tranh biên giới xẩy ra, Trung đoàn 567 đã chiến đấu nhiều trận, lập công xuất sắc ở Thach An, Hà Quảng.
Ngày đầu tiên, 17/02/1979, Quân Trung Quốc mở đầu là pháo bắn dữ dội, tiếp theo là xe tăng và bộ binh tấn công. Trung đoàn 567 đã cùng Đồn Biên phòng Tà Lùng và dân quân tự vệ địa phương chặn đánh địch quyết liệt ở Đèo Khâu Chỉa ( Phục Hòa ). Mấy ngày sau, địch tập trung quân dồn dập tấn công vào Thị xã Cao Bằng. Do tương quan lực lương chênh lệch, ngày 24 / 02 / 1979, địch chiếm được Thị xã. Nhiều đơn vị của ta bị tổn thất, rơi vào thế bị chia cắt, bao vây. Lúc này quân số và vũ khí trang bị của Trung đoàn 567 đã bị tiêu hao, lương thực, thực phẩm khó khăn.
Với tư cách là Phái viên của Tổng cục Chính trị, nhiệm vụ của chúng tôi là nắm tình hình mọi mặt của đơn vị, tư vấn cho chỉ huy lãnh đạo đơn vị xử lý các tình huống. Qua nắm tình hình, chúng tôi nhận thấy, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn nhận thức khá đầy đủ về âm mưu thủ đoạn của địch và nhiệm vụ của đơn vị. Qua mấy ngày chiến đấu đơn vị có thương vong, nhưng mọi người không hề nao núng tinh thần. Cùng với việc nắm tình hình và tư vấn với Ban chỉ huy Trung đoàn xử lý các tình huống chiến đấu, tôi còn đi sâu kiểm tra thực hiện công tác chính sách trong chiến đẩu: việc an táng liệt sĩ, cấp cứu thương binh và giải quyết giấy tờ cho thương binh về phía sau điều trị; việc bình bầu khen thưởng những tập thể cá nhân lập thành tích trong chiến đấu.
Là nhà văn quân đội đang tác nghiệp như một phóng viên chiến trường đích thực, anh Đào Thắng đã đi sâu gặp gỡ các cá nhân và tập thể điển hình xuất sắc trong chiến đấu, kịp viết bài đăng Tạp chí Văn nghệ quân đội và Báo QĐND. Hằng ngày, chúng tôi cùng ăn ở với bộ đội ở trận địa.
Bằng vốn sống thực tế nhiều năm ở chiến trường miền Nam, tôi sớm quen với mọi việc, được anh em từ lãnh đạo chỉ huy Trung đoàn đến chiến sĩ tin tưởng, thân thiết gần gũi, công việc thuân lợi. Anh Đào Thắng cũng vậy. Như phần trên đã nói, trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, là bộ đội pháo cao xạ, anh Thắng đã nếm trải bao ác liệt, khó khăn trên các địa bàn trọng điểm ở Khu Bốn.
Ở Trung đoàn 567 được hơn 1 tuần, có Điện gọi chúng tôi về Bộ Tư lệnh Mặt trân Cao Bằng báo cáo tình hình. Phút chia tay anh em Trung đoàn thật bùi ngùi. Chỉ ngót mười ngày thôi mà tình cảm thật gắn bó. Chúng tôi lưu luyến chia tay, hẹn ngày gặp lại. Ban Chỉ huy Trung đoàn cho 2 chiến sĩ cắt đường rừng dẫn chúng tôi trở ra Ngân Sơn.
Lúc này, theo chỉ thị của trên, Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đã Quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Cao Bằng. Đại tá , AHLLVT Đàm Văn Ngụy , Phó Tư lệnh Quân khu 1 được phân công làm Tư lệnh Mặt trận. Đại tá Ngô Bằng Khê làm Chính ủy Mặt trận. Sở Chi huy BTL Mặt trận Cao Bằng đặt ở Bằng Khẩu. Khi về tới BTL thì tôi gặp và báo cáo với Thủ trưởng trực tiếp là Thiếu tướng Hùng Phong, Cục trưởng Cục Tổ chức TCCT mới từ Hà Nội lên đang làm Phái viên của Bộ tại Mặt trận. ( Một thời gian sau, ông Hùng Phong được cấp trên điều động làm Bí thư Đảng ủy Quân khu, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1).
Khi chúng tôi chuẩn bị ra về, thì có một việc đột xuất : Mặt trận dùng máy bay trực thăng Mi6 để tiếp tế vũ khí đạn dược, lương thực phẩm cho Trung đoàn 567 đang nằm trong vòng vây của địch. Vì tổ lái máy bay không xác định được địa điểm, tọa độ đóng quân của Trung đoàn. Vậy là, tôi và anh Đào Thắng được giao nhiệm vụ ngồi lên máy bay để dẫn đường như hoa tiêu. Dù biết chắc địa điểm đơn vị đóng quân, lại là người cũng có ít nhiều kinh nghiệm xác định tọa độ trên bản đồ, nhưng quả thật địa hình rừng núi, lại ngồi trên máy bay nhìn xuống, mây mù dày đặc. Bay cao nhìn xuống dưới thì không thấy gì, bay thấp thì sợ đâm vào các ngọn núi cao. Hơn nữa, được biết hồi đó Trung Quốc đã đưa pháo cao xạ vào đất ta, kể cả thị xã Cao Bằng. Ngồi vào buồng lái, bằng mắt thường nhìn qua kính máy bay, tôi loay hoay chỉ trỏ cho máy bay vòng đi vòng lại cả một vùng khá rộng, đến mấy lượt, nhưng đều không thấy. Cuối cùng, sau vài chục phút dò dẫm không tìm được chỗ đóng quân của Trung đoàn 567. Qua bộ đàm, tổ lái xin ý kiến và được cấp trên lệnh cho máy bay quay về căn cứ.
Khi tiếp đất, nhìn những lô hàng vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm đang xếp sẵn trong khoang hạnh lý máy bay, lòng tôi áy náy xót xa vô cùng. Tôi tự cảm thấy mình như có lỗi lớn với anh em. Trong kia, giữa vòng vây quân thù, bộ đội ta thiếu thốn mọi điều, phải hằng ngày dè xẻn chắt chiu để sống và chiến đấu.
Tôi được biết, sau đó mấy hôm, BTL Mặt trận Cao Bằng lệnh cho Trung đoàn 567 vượt vòng vây rút ra phía sau để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị tập trung phản kích địch.
Hai hôm sau, có Điện yêu cầu chúng tôi về Hà Nội gấp để tổng hợp đánh giá tình hình các hướng và kịp xét đề nghị khen thường. Nhân có máy bay trực thăng Mi6 chở hàng lên Mặt trận Cao Bằng quay về Hà Nội, chúng tôi được phép cho ô tô lên máy bay để cùng về. Hơn một giờ sau, trực thăng hạ cánh sân bay Bạch Mai. Chúng tôi lên ô tô về đơn vị.
Trong cuộc đời quân ngũ 45 năm, tôi có nhiều chuyến công tác. Nhưng có thể nói, chuyến thâm nhập Trung đoàn 567 Quân khu 1 đang trực tiếp chiến đấu ở biên cương Cao Bằng mùa Xuân năm 1979 - trong thời điểm cả Dân tộc ta đang sục sôi hào khí chống quân Trung Quốc xâm lược - là một trong chuyến công tác có nhiều ý nghĩa với bao kỷ niệm không quên.
Thấm thoắt thời gian trôi nhanh, mới ngày nào đó mà nay đã tròn 40 năm. Lâu nay, trên các phương tiện thông tin, tuyên truyền và cả trong các văn bản pháp qui đều gọi là :" Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc ".
Tôi trộm nghĩ, gọi thế e không đúng ! Gọi là “ chiến tranh biên giới “ thì phải là cuộc chiến tranh xâm lấn giành giật lãnh thổ lẫn nhau của cả hai bên biên giới. Đằng này, đây là cuộc chiến tranh xâm lược lãnh thổ Việt Nam được phát động đơn phương từ Trung Quốc. Phía Việt Nam không hề cho quân xâm lấn đất đai Trung Quốc.
Tên gọi một cuộc chiến tranh là căn cứ vào bản chất của nó, chứ không phụ thuộc vào qui mô, thời gian, không gian và tính chất của cuộc chiến.
Từ cách nghĩ đó, tôi cho rằng, cần nói thẳng là :" Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc".
Và điều này nữa là : Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc, tổ tiên chúng ta đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống lại sự xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc : Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh mà lịch sử mãi mãi khắc ghi.
Mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789, Quang Trung - Nguyễn Huệ thiên tài đã lãnh đạo dân ta đánh tan 29 vạn quân Thanh. Cuộc chiến chỉ diễn ra mấy ngày, nhưng Chiến công đó mãi mãi chói lọi trong Lịch sử vinh quang của dân tộc. Vậy mà, mới có 40 năm thôi, trên phương tiện tuyên truyền không đề cập tương xứng ./.



Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2019


Bài viết đăng trong Công trình Ký Ức Người Lính
nhân Kỷ niệm 60 năm mở đường Trường Sơn ( Đường 559 )
--------------------------------------------------------------------

BỐN LẦN VÀO NAM RA BẮC TRÊN ĐƯỜNG
TRƯỜNG SƠN - KỶ NIỆM KHÔNG BAO GIỜ QUÊN

                                                                                    N M Đ

Trong cuộc đời quân ngũ của mình, tôi chưa bao giờ được biên chế vào đơn vị thuộc đội hình Bộ Tư lệnh Trường Sơn ( Đoàn 559 ). Nhưng từ rất sớm - tháng 12 năm 1964 - và trong quá trình chiến đấu, tôi đã có bốn lần vào Nam ra Bắc trên đường Giao liên huyết mạch chiến lược Trường Sơn. Tôi xin kể lại đôi điều về những kỷ niệm không bao giờ quên. 

1 - Cuối tháng 12/1964, hết thời gian huấn luyện và bồi dưỡng sức khỏe, chúng tôi hoàn tất mọi công việc chuẩn bị lên đường đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Mọi người được trang bị đầy đủ:  ba lô con cóc, quần áo, chăn màn, mũ tai bèo, tăng võng, ni lông, bi đông, túi đựng cơm, lương khô, mắm kem, bao gạo (ruột tượng), hộp thuốc cá nhân, thuốc pha với nước lã uống trực tiếp, băng cá nhân. Trên danh nghĩa, chúng tôi sẽ là chiến sĩ Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Do đó, theo qui định bắt buộc, tất cả những thứ tư trang, đồ dùng cá nhân, từ tấm ảnh, giấy tờ tùy thân, sổ lưu bút, nhật ký, có cái gì liên quan đến miền Bắc đều phải gửi lại, bỏ lại, không được mang theo người. Phát hiện ra ai không chấp hành, cố tình mang đi là bị xử lý kỷ luật.
 Ngày đó tôi mới chẵn 16 tuổi xin khai tăng thêm tuổi để được nhập ngũ, chưa có người yêu. Những anh lớn tuổi hơn, có người yêu, thậm chí có vợ con rồi, khi bỏ lại những tấm ảnh của người thân, tần ngần, xúc động, tiếc lắm. Mà ảnh thì có phải nhiều như bây giờ đâu. Có người cả đời chưa chụp ảnh. Nhiều người trước lúc chia tay, vội vàng chụp một pô ảnh đen trắng để làm kỷ niệm, nên rất quí. Có người dùng túi ni lon bọc ảnh rất kỹ, cố giấu ảnh tận đáy ba lô. Trên đường hành quân và khi ở chiến trường sau này, thi thoảng một mình nhớ nhà quá, mở ra xem. Tiền thừa còn lại và tư trang đều phải gửi về nhà qua đường bưu điện. Từng người kê khai, đóng gói, tập trung lại do đơn vị cử người đi gửi. Tôi gom góp lại được 100 đồng, gồm tiền ăn bồi bưỡng còn thừa được thanh toán cộng với tiền trong túi còn lại. Đồng thời giặt sạch bộ quần áo ngày mặc lên đường gấp lại kèm một bức thư gửi về cho mẹ.
 Ngày 25 tháng 12 năm 1964, toàn đơn vị nhập Trạm Giao liên bắt đầu lên đường đi chiến trường miền Nam. Chúng tôi được biết, lộ trình hành quân sẽ là từ miền tây Quảng Bình vào Nông trường Quyết Thắng (Vĩnh Linh), lên Làng Ho, vượt qua Đường 9 vào Trường Sơn sang Lào. Từ vùng giải phóng Lào đi dọc theo tuyến tây Trường Sơn thẳng về Nam. Tùy theo nhiệm vụ của từng đơn vị bổ sung cho từng chiến trường mà rẽ ngang về Trị Thiên, về Khu 5, vào Tây Nguyên, hoặc đi thẳng qua đất Cămpuchia vào tận Nam Bộ.
Hồi đó, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ mới giới hạn ở những trọng điểm nhất định, chưa lan rộng như 1 - 2 năm sau. Đông và Tây Trường Sơn vẫn là những cánh rừng nguyên sinh nhiệt đới bạt ngàn rậm rạp, nhiều tầng, có nơi lâu lắm rồi hình như chưa có dấu chân người. Đường hành quân bộ là đường mòn Hồ Chí Minh. Một lối đi nhỏ thôi, hàng một, vươn ra, vươn xa dưới những khu rừng đại ngàn được phủ kín bóng cây cao bóng mát, vượt qua nhiều con suối nước trong xanh. Sau này, khi nghe bài hát Trường Sơn Đông -Trường Sơn Tây, nhạc của Hoàng Hiệp, lời thơ của Phạm Tiến Duật, có câu “ Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, đám lính trẻ chúng tôi tranh luận với nhau sôi nổi. Có người lập luận, nhà thơ đã lãng mạn hóa, thi vị hóa để cổ động tuyên truyền mọi người ra trận, chứ  thực ra đường ra trận có gì đâu mà đẹp. Hơn nữa, bất cứ ở đâu, lúc nào, mọi cuộc chiến tranh - kể cả chiến tranh chính nghĩa - đều là điều bất đắc dĩ đối với con người. Chiến tranh là một biện pháp giải quyết tình thế giữa các tập đoàn xã hội, khi không còn phương cách nào khác, thì hãy đừng coi đó là đẹp. Có người lại nói, kể ra nếu dùng từ “vui” thay cho từ “đẹp” thì đúng hơn. Vì ngày đó với khí thế hừng hực, như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, trong không khí rộn rịp, thì dùng  từ “vui” hợp lý hơn. Với tôi, tôi cho rằng ở thời điểm cuối năm 1964 đầu năm 1965, đường hành quân đi B chưa bị bom đạn địch cày xới, cây rừng còn xanh tươi, chưa bị chất độc làm trụi lá, non nước hữu tình, cộng với khí thế hào hùng sôi nổi hăm hở của những chàng trai trẻ đi chiến đấu, trùng điệp những đoàn quân ra trận, thì quả thật, đường ra trận vừa vui, vừa đẹp.
Trên đường hành quân mỗi người mang theo trên mình khoảng 30 kg. Trong đó riêng bao gạo đủ ăn được 10 ngày. Đến từng trạm bổ sung dần lương thực, thực phẩm. Mỗi ngày chúng tôi hành quân qua một cung trạm. Từ trạm này sang trạm khác khoảng 30 cây số. Trên đường đi cứ bình quân 1 tiếng đồng hồ nghỉ giải lao độ 10 phút. Thường là sau khi đã ăn sáng, đổ đầy nước sôi vào bi đông, được lệnh xuất phát từ 5 giờ thì đến trạm tiếp theo khoảng 5 giờ chiều. Ở rừng trời mau tối. Hơn 5 giò chiều đã nhá nhem, mọi người chuẩn bị nấu cơm ăn, mắc tăng võng để ngủ. Bếp ăn tiểu đội, mọi người chuẩn bị củi đuốc, che lại ánh sáng, khơi lại bếp để nấu cơm tối và chuẩn bị bữa sáng mai, trưa mai.
Để bảo đảm bí mật, chỉ huy đơn vị phổ biến yêu cầu mọi người thực hiện nghiêm ngặt mọi qui định. Thực hiện đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng. Đúng như các cụ xưa thường nói: “Lai vô ảnh, khứ vô hình”. Đi không dấu là rời khỏi nơi trú quân tuyệt đối không để lại dấu tích gì, dù là nhỏ nhất. Khi chặt cây rừng để làm cột mắc võng hoặc lấy củi, phải rút hết toàn bộ cành lá xuống. Nếu để lại, cành cây bị chết khô, từ trên cao, máy bay địch sẽ phát hiện được dấu hiệu khả nghi. Nấu không khói là để tránh máy bay Mỹ phát hiện, khi nấu cơm phải đào bếp Hoàng Cầm. Ban ngày thì không có khói. Ban đêm thì không phát ra ánh sáng. Ngày đó Mỹ đã nghiên cứu chế tạo ra một loại máy thu phát tín hiệu, vỏ bằng cao su, nhựa, bề ngoài không tinh mắt nhìn như một loại cây rừng - gọi là cây nhiệt đới. Máy bay Mỹ thả cây nhiệt đới vào các khu rừng trên tuyến hành quân của ta để thu thập và phát thông tin về các căn cứ của chúng.
Cứ thế, ngày đi đêm nghỉ. Đến một ngày cả đơn vị vượt qua một con sông nhỏ trên một cái cầu mấy cây tre ghép lại, có tay vịn. Tới giữa dòng, anh chính trị viên đại đội ngoái lại nói nhỏ với tôi rằng, đây là sông Sê Pôn. Sang bên kia là  huyện Mường Phìn, tỉnh Savanakhet đất Lào rồi. Qua cầu, tôi ngoảnh lại bờ đông là một rừng tre cao vút dưới nắng vàng, đẹp lắm. Nơi ấy là Tổ quốc mình. Lòng tôi bồi hồi xúc động. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đi ra nước ngoài. Đi ra nước ngoài mà không có hộ chiếu, không có giấy tờ tùy thân. Với bộ quân phục Quân Giải phóng và chiếc mũ tai bèo, mà như nhà thơ Tố Hữu sau này đã viết, chẳng làm đau một chiếc lá trên cành, đã thay cho hộ chiếu. Trong túi áo của mỗi người chỉ vỏn vẹn một tờ giấy bìa cứng, rộng bằng cái chứng minh thư, trên đó đề  là Giấy chứng nhận XYZ, họ và tên, được cử đi Bác Ái. Lúc đó tôi cũng chẳng biết giấy XYZ  là cái gì, để làm gì, cất giữ ra sao, tại sao lại lấy 3 ký hiệu toán học đặt tên cho nó. Đi Bác Ái nghĩa là đi đâu. Chỉ biết rằng, mỗi người đi “B dài” đều được cấp giấy XYZ. Nhưng khi đã vào chiến đấu ở chiến trường rồi chẳng còn quan tâm đến miếng giấy đó nữa. Sau này, khi ra Bắc, nghe đâu cần có giấy chứng nhận XYZ để làm khen thưởng thì phải. Ai nghĩ ra việc đó kể cũng lạ. Người lính bao năm lăn lộn vào sinh ra tử ở chiến trường, ai còn giữ được một cái miếng giấy nhỏ bằng nửa lòng bàn tay!
 Hành quân được bốn  ngày, đến bữa ăn tôi thấy rất ngon miệng, cảm giác như ăn bao nhiêu cũng hết, không biết no. Sau này mới biết đó là dấu hiệu ban đầu của bệnh sốt rét rừng. Người bị bệnh sốt rét có hai thời điểm ăn rất nhiều: trước khi bị ngả bệnh mấy hôm và sau khi hết bệnh ăn giả bữa. Sang ngày thứ 5 khi đến trạm giao liên tôi  bị sốt li bì. Bên ngoài thì người đỏ lừ sốt cao, mà trong bụng thì rét kinh khủng. Rét tận đáy lòng, thấu tận sống lưng. Tôi vơ bao nhiêu thứ đắp vào mà vẫn run cầm cập, chui vào bếp đốt lửa sưởi cũng không hết rét. Lúc đầu tôi cứ nghĩ là bị cảm lạnh nhưng không phải, chẳng hiểu bị bệnh gì. Đêm đến, anh tiểu đội phó lên đại đội báo y tá xuống xem. Anh Soạn y tá đại đội, quê ở vùng Qui Đạt - Quảng Bình đến gặp tôi sờ trán, hỏi han, cặp nhiệt kế đo nhiệt độ lên tới 39,5 độ. Anh vừa mỉm cười, vừa nói :
- Như thế này là bị sốt rét rồi, em ạ. Không sao đâu, chịu khó uống thuốc đủ liều,  rồi mấy bữa là khỏi thôi. Người ta nói, phi sốt rét bất thành Quân Giải phóng mà. Sống ở rừng, trước sau thì ai cũng bị sốt rét cả, không ai thoát được đâu. Có điều, em bị sốt rét hơi sớm. Mới hành quân được 5 ngày thôi đấy.Vào tận cùng, nghe đâu,  phải hành quân bộ mất những 3 tháng nữa cơ.
Nói rồi, anh đưa tôi mấy viên thuốc quinin và một bát nước. Tôi uống vào đắng lắm. Đến khuya thì tôi hạ sốt nhưng vẫn rét run người.
 Sáng ngày ngủ dậy tôi đau ê ẩm toàn thân, đầu đau như búa bổ, miệng đắng ngắt, lưng đau nhừ, chân tay bủn rủn. Đến giờ hành quân, anh tiểu đội trưởng san hết đồ đạc của tôi cho toàn tiểu đội. Người thì mang khẩu súng, người khoác hộ ba lô, người quàng thêm bao gạo. Tôi chỉ chống một cây gậy thất thểu lên đường, chân bước liêu xiêu. Cứ thế, mấy ngày sau, bệnh tình tôi không thuyên giảm, thậm chí còn nặng thêm. Mấy bữa liền không ăn uống được gì, người tôi gầy rộc và khuỵu xuống không đi được nữa. Anh em trong tiểu đội phải chặt một khúc tre làm đòn khiêng cột võng vào làm cáng  để cáng tôi tiếp tục hành quân. Nằm trên võng lắc lư khi lên dốc, lúc xuống đèo, vượt suối, người bị sốt li bì, tôi chẳng biết gì. Khi tỉnh dậy tôi thương anh em đồng đội vô cùng. Cáng được tôi trên đường hành quân anh em đồng đội vất vả lắm.
 Ba ngày sau, theo đề đạt của tiểu đội, trung đội, thủ trưởng đại đội xét thấy, tôi không còn đủ sức đi tiếp mà để anh em cáng, thì làm chậm tốc độ hành quân của đơn vị. Vì vậy, đề nghị lên tiểu đoàn gửi tôi lại trạm giao liên, đợi đến lúc khỏe sẽ vào sau. Tôi cứ nằm trên võng, từng anh em trong tiểu đội đến  cầm tay tôi nồng ấm bịn rịn chia tay:
- Em ở lại nhé, đi sau.
 Tôi giàn giũa nước mắt lưu luyến giã từ đồng đội. Đó là những người vừa là đồng đội, vừa là bạn học, vừa là đồng hương. Chúng tôi không chỉ gắn bó với nhau bằng nhiều kỷ niệm trong thời gian mới vào quân ngũ mà còn thân thiết với nhau từ khi còn ở quê. Tôi linh cảm, cuộc chia ly này khó có ngày hội ngộ.
Khi anh em cáng tôi đến bàn giao cho trạm xá của Trạm Giao liên hay của Binh trạm, tôi mê man chẳng biết gì. Hôm sau tỉnh dậy, tôi thấy cùng cảnh mới đến như tôi độ khoảng 10 người nữa. Cũng đều là đám lính trẻ hành quân đi chiến đấu bị sốt rét rừng, không chịu nổi, phải gửi lại. Còn lại là số thương hinh, bệnh binh đã điều trị ở đây từ trước.
Trạm xá ở một khu rừng nước bạn Lào bằng phẳng, cây cối  tốt tươi, rậm rạp và đẹp. Nép dưới tán lá cây rừng là mấy dãy nhà lợp cỏ tranh, xung quanh che chắn bằng phên nứa. Các dãy lán dài trải bằng sạp nứa. Nằm trên đó có cả thương binh lẫn bệnh binh. Chúng tôi được phổ biến rằng, đây là trạm xá dã chiến để thu dung thương binh, bênh binh trên tuyến hành quân. Ai nhẹ thì điều trị một thời gian rồi trả về đơn vị cũ hoặc bổ sung cho đơn vị khác theo quyết định của cấp trên. Ai nặng thì chuyển về phía sau, nặng hơn nữa thì chuyển hẳn ra Bắc. Hàng ngày, sau giờ ăn sáng, cấp thuốc uống hoặc tiêm, ai không bị lên cơn sốt thì, hoặc là chơi tú lơ khơ, đánh cờ tướng, hoặc tha thẩn dạo chơi xung quanh trạm xá. Cũng có khi chúng tôi ra suối câu cá hoặc vào rừng hái rau tàu bay, hoặc đào hái măng đưa về cho nhà bếp cải thiện thêm bữa ăn.
 Điều trị ở trạm xá được hơn mười ngày, dứt cơn sốt, sức khỏe bình phục dần, tôi háo hức xin trạm xá cho lên đường đuổi theo đơn vị. Nhưng các thủ trưởng ở trạm xá nói rằng, 10 ngày qua, đơn vị đó đã đi xa lắm rồi, không thể theo kịp nữa, hãy chờ lệnh cấp trên bổ sung cho đơn vị khác. Tôi lại phải tiếp tục ở đó thêm mấy hôm nữa.
  Đến một buổi sáng, tôi và ba người nữa được thông báo có cán bộ đến nhận về đơn vị mới. Tất cả bốn anh em chúng tôi tập trung lại nghe một anh cán bộ trung tuổi, người tầm thước, thái độ niềm nở, vui vẻ, nói tiếng Nghệ Tĩnh, tự giới thiệu là Hồ Chư, Thiếu úy, Trợ lý chính trị của Tiểu đoàn 929 Quân khu 4, được đơn vị cử đến đón chúng tôi về. Lúc này đơn vị đang làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ hành lang đường giây 559. Chúng tôi cảm ơn, bịn rịn chia tay bác sĩ, y sĩ, cán bộ và các anh chị nhân viên, y tá của trạm xá để lên đường. Chỉ hơn mười ngày thôi nhưng các cán bộ, nhân viên trạm xá đã dành cho chúng tôi trách nhiệm và tình cảm thân thương. Cảm động lắm, nhiều người đã nhiều đêm thức trắng bên lán, chăm sóc cho chúng tôi từng viên thuốc, từng thìa cháo. Chắc chắn là, trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt ở chiến trường, tình cảm giữa con người với nhau gắn bó sâu nặng hơn.
 Theo sự chỉ huy của anh Hồ Chư, chúng tôi bốn người gồm: Nguyễn Văn Kiu, Trần Công Thuận, Nguyễn Trọng Năm và tôi hành quân về đơn vị là Tiểu đoàn 929. Chúng tôi cùng lứa tuổi, là đồng hương, cùng nhập ngũ,cùng hoàn cảnh hành quân đi B bị sốt rét gửi lại trạm xá giao liên, cùng được bổ sung về một đơn vị lại cùng chiến đấu nên thân thương nhau lắm. Anh Kiu quê ở xã Nghi Hưng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, năm 1965, trong một trận chiến đấu ở tây Savanakhet (Lào), bị cụt một chân, sau đó phục viên về quê. Anh Thuận quê ở xã Thanh Cát, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, năm 1968, làm Trung đội trưởng, hy sinh ở khu vực Bình Điền tây Thừa Thiên - Huế. Anh Năm quê ở xã Thanh Khai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, năm 1969, làm Chính trị viên phó Đại đội hy sinh ở Đường 12 tây Thừa Thiên-Huế. Còn anh Hồ Chư, quê ở xã Thạch Lạc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, năm 1969, làm Chính trị viên Tiểu đoàn 9, rồi Trưởng tiểu ban tổ chức Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, sau giải phóng Miền Nam nghỉ hưu, đã từ trần năm 2000.

2 - Tháng 10 năm 1966, sau gần 2 năm chiến đấu ở Lào rút về miền Bắc củng cố 3 tháng, Trung đoàn 29 chúng tôi rời Hương Khê hành quân vào miền Nam. Cả đơn vị dừng lại trú quân ở Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh. Tiểu đoàn trưởng Bùi Trần, các đại đội trưởng và tiểu đội trinh sát đi nghiên cứu địa hình. Là Tiểu đội trưởng liên lạc, đồng thời là liên lạc trực tiếp cho Tiểu đoàn trưởng, tôi cũng thuộc thành phần đi trinh sát chiến trường. Từ Nông trường Quyết Thắng, chúng tôi vượt qua Bến Tắt để sang bờ Nam sông Bến Hải. Từ đây, chúng tôi đi tiếp theo hướng đông về huyện Gio Linh. Trước đó, tháng 7 năm 1966, các trung đoàn của Sư đoàn 324 mới đánh nhau với quân Mỹ ở trục Đường 9 từ Cù Đinh, Ba De đến gần sát khu vực Cồn Tiên, Dốc Miếu.
 Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân vào chiến trường Miền Nam. Mặc dù đã trải qua chiến đấu gần 2 năm trên chiến trường Lào, nhưng là mới đánh nhau với quân ngụy Lào (Phu Mi), chưa chạm trán bộ binh Mỹ. Mãi sau này, nhất là khi đã trở thành cán bộ, tôi cứ nghĩ rằng, nếu với cách tổ chức sinh hoạt và chiến đấu như thời kỳ ở Lào mà đơn vị chúng tôi đã trải qua, thì không thể trụ lại được với sự khốc liệt gian khổ ở Miền Nam, dù chỉ là trong thời gian ngắn.  Những nơi chúng tôi đi qua là cảnh tan hoang của chiến trường. Cây cối đổ ngổn ngang, cháy trụi, bị bom đạn băm nát xác xơ. Hố bom đạn chằng chịt cày xới mặt đất, cái đen kịt, cái đỏ lòm. Qua các bãi đổ bộ, trú quân của quân Mỹ, rặt một mùi Mỹ khó tả. Mùi đồ hộp các loại, mùi thuốc lá, mùi xà phòng tắm, mùi nước hoa, mùi thùng các tông, mùi thuốc súng, mùi cây cối bị cháy sém, mùi mồ hôi ở quần áo đồ dùng vứt lại…Tất cả quyện lại thành một mùi hỗn tạp hoi hôi, ngai ngái, ngầy ngậy, ghê ghê, gây buồn nôn. Tôi ấn tượng ngay từ đầu và mãi sau này, mỗi khi vào trinh sát các cứ điểm Mỹ đóng quân, trong khứu giác của mình không bao giờ quên được cái mùi đặc trưng đó.
Chúng tôi đi nghiên cứu địa hình từ khu vực Hồ Khê, Đá Bạc vòng về làng An Cát Khê, làng Trung An, qua các trục Đường 74, Đường 75, lên đến làng An Nha, An Hướng. Nơi đây đang là vùng tranh chấp giữa ta và địch. Dân đã đi sơ tán hết. Có dân lên rừng, vào vùng giải phóng. Có dân chạy vào Đông Hà, thị xã Quảng trị, thành phố Huế, vùng địch kiểm soát. Chỉ còn lại dân quân du kích phối hợp hoạt động cùng bộ đội chủ lực. Dọc bờ nam sông Bến Hải, nam cầu HIền Lương ra tới biển và dọc theo Đường 1 là vùng quân địch vẫn còn chiếm đóng.
 Sau khi đi xem xét một lượt địa hình trong toàn khu vực, theo chỉ thị của trên, tiểu đoàn chúng tôi bố trí trận địa đón lõng quân địch ở khu vực Hồ Khê, Đá Bạc. Theo dự kiến, sau khi phát hiện có chủ lực của ta hoạt động ở phía Bắc Đường 9, quân Mỹ sẽ hành quân từ căn cứ Đầu Mầu ở Đường 9 đánh chiếm dọc theo triền núi đi về phía suối La La và Đồi Không Tên.
 Ngày 15 tháng 4 năm 1967, từ khu vực tập kết ở Bình độ 100, các đơn vị trong Tiểu đoàn vào khu vực núi Hồ Khê, Đá Bạc thuộc xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xây dựng công sự, trận địa. Thế bố trí lực lượng là: Đại đội 1, Đại đội 2 và Đại đại 3  được bố trí theo hình tam giác ( kiềng ba chân). Theo đó, Đại đội 1 và Đại đội 3 (thiếu Trung đội 1) là lực lượng đánh chặn địch ở tiền duyên, Đại đội 2 được bố trí hẳn sang phía bên quyết chiến điểm, nhằm đánh thốc vào sau lưng địch. Trung đội 1 của Đại đội 3 do anh Lê Hồng Hải làm Trung đội trưởng được bố trí bên cạnh Sở Chỉ huy Tiểu đoàn làm lực lượng cơ động. Sở chi huy tiểu đoàn đặt sau Đại đội 1. Đại đội 4 trợ chiến bố trí hỏa khí cối 82 ly, ĐKZ 75 ly, đại liên phân tán, nhưng các loại hỏa lực đều phải bắn tập trung vào quyết chiến điểm. Ngoài ra, ở khu vực đó còn bố trí mìn ĐH10.
3 - Sau một thời gian chiến đấu ở Đường 9 Quảng Trị, đơn vị chúng tôi rút ra củng cố ở một khu rừng gần Phong Nha - Kẻ Bàng ( miền tây Quảng Bình ).
Ngày 25 tháng 12 năm 1967, tôi có mặt nhận nhiệm vụ ở Ban Tham mưu Trung đoàn. Ban Tham mưu Trung đoàn có Tham mưu trưởng và các tiểu ban: Tác chiến, Trinh sát, Thông tin, Công binh, Pháo binh, Quân lực, Cơ yếu. Anh Nguyễn Hoán Tham mưu trưởng dẫn tôi sang giao cho anh Ngô Trí Thướng Trưởng Tiểu ban Quân lực. Tiểu ban Quân lực lúc đó có 5 người. Anh Thướng trưởng tiểu ban và 4 trợ lý: anh Nguyễn Thanh Chương quê Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh, trợ lý quân số; anh Lê Văn Xảo quê Thọ Xuân- Thanh Hóa, trợ lý trang bị; anh  Phí Văn Mao quê Lập Thạch - Phú Thọ, trợ lý chính sách. Anh Thướng biết tôi từ trước. Các anh khác tôi mới gặp lần đầu. Anh Thướng giao cho tôi trước mắt cứ tìm hiểu công việc chung của cơ quan, rồi sẽ phân công công việc cụ thể sau.
Cơ quan tham mưu lúc bấy giờ toàn những người hơn tuổi tôi. Các anh lãnh đạo đều là bộ đội từ hồi chống Pháp. Các anh trợ lý cũng đều là lớp trên tôi. Cả cơ quan chỉ có Trương Tấn Phượng hơn tôi hai tuổi, mới được điều từ Đại đội 12 ly 7 lên làm trợ lý bảo mật. Hai “tân binh” trở thành đầu sai của cơ quan trong các công việc đòi hỏi đến sức khỏe. Phượng trầm tĩnh, cẩn thận, chắc chắn bù lại tôi tháo vát, nhanh nhẹn, xông xáo. Bởi thế, tôi và Phượng thân nhau ngay từ những ngày đầu gặp gỡ. Phượng quê ở làng Quảng Cư, xã Xuân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, đang học dở lớp 9 năm 1965 thì đi bộ đội.
Tôi lên Trung đoàn được 3 ngày, thì cả đơn vị bắt đầu hành quân đi chiến đấu. Lần này, Trung đoàn không trở lại chiến trường Đường 9 mà hành quân vào sâu hơn. Lệnh của trên là cả Trung đoàn phải hành quân cấp tốc. Tôi nhớ hôm vượt qua phà Long Đại. Ở đây có qui định các đơn vị chỉ được qua phà lúc trời đã tối hẳn, đề phòng lộ bến máy bay Mỹ phát hiện oanh tạc. Đơn vị đi đầu của Trung đoàn đến bến lúc 4 giờ chiều. Anh trưởng bến phà, nói giọng Khu 5 rất gay gắt, dứt khoát không cho qua. Anh ấy nói:
- Việc qua phà ban ngày là vi phạm kỷ luật chiến trường. Ai muốn qua, phải bước qua xác tôi.
Căng quá. Thậm chí đưa cả điện khẩn tối mật của cấp cao nhất cho anh ấy đọc và nói thế nào cũng không được. Các anh chỉ huy Trung đoàn đang lúng túng chưa biết tính sao, thì  anh Lê Văn Dánh, Phó Chính ủy Trung đoàn  nói:
- Lúc này mệnh lệnh hành quân chiến đấu là trên hết, chậm trễ thì không hoàn thành nhiệm vụ. Thuyết phục không được, phải cưỡng bức.
Nói rồi, Anh Dánh giao cho mấy anh em trinh sát giữ chặt anh Trưởng bến phà lại. Chờ đến khi cả Trung đoàn qua sông xong thì thả ra. Đó là cách làm lưỡng tiện. Trung đoàn chúng tôi kịp hành quân theo mệnh lệnh của trên. Mà chỉ huy bến phà cũng không vi phạm qui định.
 Cả trung đoàn vượt Đèo 1001, Dốc Chè. Sáng Mồng Một Tết Mậu Thân, khi vượt Sông Bồ đi về Hương Trà-Thừa Thiên, qua Đài Phát thanh được nghe Thơ Chúc tết của Bác Hồ:

”Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!Toàn thắng ắt về ta”.
Từng đoàn quân trên đường ra trận khí thế ngất trời. Chúng tôi mừng vô cùng. Bầu không khí rầm rập, rạo rực bao trùm cả đội hình hành quân. Lúc này hình như không còn giữ bí mật nữa. Cả đoàn quân đi náo nức, oai hùng. Mấy anh cán bộ mang đài bán dẫn mở hết cỡ. Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh giải phóng liên tục đưa tin thắng trận ở thành phố Huế, Sài gòn và trên khắp chiến trường. Cả Miền Nam bắt đầu cuộc Tổng Tấn công và nổi dậy đồng loạt. Chúng tôi như bay, như nhảy trên đường hành quân. Trung đoàn 29 chúng tôi được giao nhiệm vụ vào tham gia chiến đấu ở Huế. Các trung đoàn lúc đó đều gọi là Đoàn (Quân khu Trị Thiên Huế có các Đoàn 4,5,6,8,9). Trung đoàn 29 đổi tên là Đoàn 8. ( Đến đầu năm 1969, khi vào đội hình của Sư đoàn 324 thì Đoàn 8 lại đổi là Trung đoàn 3).
Chiều tối Mồng Một Tết hành quân qua ngã ba Hương Trà, xuống Miếu Ông Ầm, các tiểu đoàn rẽ đi các hướng theo nhiệm vụ chiến đấu được giao. Tiểu đoàn 7 đánh vào Thành nội, chợ Đông Ba. Tiểu đoàn 9 đánh vào Cửa Chánh Tây, An Hòa. Tiểu đoàn 8 đánh ở ngoại thành Huế, vùng La Chữ, Quế Chữ. Ngày Mồng Hai Tết, các đơn vị bước vào tham chiến với cả quân Mỹ và quân Ngụy. Trời mưa phùn gió lạnh. Cả Trung đoàn chúng đấu giải phóng và bám trụ thành phố Huế 25 ngày đêm trong điều kiện vô cùng quyết liệt. Sau đó, đã hoạt động chiến đấu ở phía tây tỉnh Thừa Thiên.

 4 - Tháng 1 năm 1971, thực hiện Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, quân đội Sài Gòn tiến hành Cuộc hành quân Lam Sơn 719, đánh lên Đường 9 - Nam Lào, hòng chặt đứt tuyến vận chuyển chiến lược Bắc- Nam của ta. Lực lượng địch huy động rất lớn, gồm: 3 sư đoàn (1 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn dù, 1 sư đoàn thủy quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn thiết giáp, 13 tiểu đoàn pháo binh ngụy; 20 tiểu đoàn Mỹ (7 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn thiết giáp) và 2 trung đoàn quân ngụy Lào phối hợp ở hướng Tây. Tổng quân số khoảng 5 vạn tên ( tương đương 5 sư đoàn bộ binh).
Để chặn đứng, đánh bật cuộc hành quân, tiêu diệt lớn quân địch, giữ vững hành lang huyết mạch của cuộc kháng chiến, tuyến vận chuyển Chiến lược 559, từ đó từng bước đánh bại Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, Quân đội ta đã thực hành chiến dịch phản công với qui mô rất lớn. Lực lượng ta có 5 sư đoàn bộ binh (gồm các sư đoàn: 2, 304, 308, 320 và 324), các lực lượng tại chỗ (Mặt trận B5, Trị Thiên, Đoàn 559), 3 tiểu đoàn tăng-thiết giáp, 4 trung đoàn pháo mặt đất, 4 trung đoàn pháo phòng không, 3 trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công, thông tin,…Chiến dịch bắt đầu từ ngày 30 tháng 1 năm 1971.
Đang đứng chân ở vùng A Lưới (Thừa Thiên) , chúng tôi được lệnh hành quân cấp tốc ra Đường 9 - Nam Lào bảo vệ các cơ sở hậu cần kỹ thuật của Bộ đội Trường Sơn ( Đoàn 559 ). Vừa đi vừa phổ biến quán triệt nhiệm vụ vừa xây dựng quyết tâm chiến đấu cho anh em.
Ngày 5 tháng 2 năm 1971, khi chúng tôi mới hành quân ra đến Trạm 19 thì gặp địch. Sở trường của bộ đội đặc công là táo bạo, bí mật, bất ngờ tập kích địch trong cứ điểm vào ban đêm. Đánh hiểm, đánh nhanh, thắng nhanh và rút khỏi trận địa nhanh. Vũ khí trang bị của đặc công là gọn nhẹ. Trong biên chế trang bị chỉ có thủ pháo, lựu đạn, súng tiểu liên AK và B40, B41;  không có các loại hỏa lực khác có uy lực lớn hơn (như: trung liên, đại liên, cối, ĐKZ, trọng liên 12,7 ly…).Vì vậy, đặc công khó phát huy sức mạnh trong tác chiến với bộ binh địch ở ngoài công sự. Sở đoản của đặc công là đánh địch ban ngày. Nhất là khi được giao nhiệm vụ chốt chặn phòng ngự, chiếm giữ mục tiêu, chiến đấu dưới sự oanh kích của phi pháo địch, thì đặc công càng khó hơn. Nay, gặp địch giữa ban ngày, mới khoảng 3 giờ chiều. Trong Ban Chỉ huy có anh  lo không hoàn thành nhiệm vụ, đề nghị cho bám nắm địch, chờ đến khi trời tối mới tập kích. Với tôi, trước khi chuyển sang đặc công đã từng chiến đấu bộ binh nhiều trận, nên đã quen với tình huống này. Tôi vẫn nhớ cách các anh lớp trước nói rằng, đây là hình thức chiến thuật “tao ngộ chiến”, nói theo thuật ngữ mới là “đánh gặp gỡ”. Trong trường hợp này, lý luận nguyên tắc yêu cầu phải “tam tiên”, nghĩa là phải nhanh chóng làm ba việc trước đối phương: triển khai trước, nổ súng trước, xung phong trước. Bởi thế, tôi trao đổi với anh Trần Viết Xuân đại đội trưởng và chúng tôi thống nhất quyết định triển khai đội hình chiến đấu ngay. Anh Xuân chỉ huy mũi 2. Tôi chỉ huy mũi 1 tiếp cận vào quân địch. Trận đánh đó chúng tôi giành thắng lợi lớn. Hiệu suất chiến đấu cao, bắt tù binh, thu vũ khí.
Sau khi đánh thắng quân địch trong trận “tao ngộ chiến”, Trung đoàn giao cho Đại đội chúng tôi phối hợp với Trung đoàn 1 của Sư đoàn chặn đánh quân địch đang hành quân từ Sê-pôn về phía Đông. Phương án tác chiến được xác định là : Dựa vào công sự sẵn có ở Trạm 19, Đại đội chúng tôi tổ chức thành một trận  địa phòng ngự chốt, chặn đứng cuộc hành quân của quân địch. Đồng thời, Sư doàn dùng Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 1 do anh Võ Chót Trung đoàn phó chỉ huy cơ động đánh thốc từ phía sau để tiêu diệt địch. Nôm na được hiểu là, Đại đội chúng tôi chốt chặn như một cái  “đe”. Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 1 cơ động đánh lên như một cái “búa”. Hai bên dồn ép quân địch lại để tiêu diệt. Yêu cầu đặt ra là, đối với Đại đội chúng tôi là phải bám trụ kiên cường, trong mọi trường hợp không được lùi trận địa. Tiểu đoàn 1 phải cơ động trên mặt đất dũng mạnh tấn công.
Bắt đầu khai hỏa, toàn bộ trận địa của chúng tôi bị chìm trong hỏa lực cối 60 ly, cối 82ly và ĐKZ 75 ly của Trung đoàn 1. Có mấy đồng chí trực cảnh giới ở cửa hầm bị thương vong. Lạ thế, lúc đánh nhau với địch thì thấy sức công phá của hỏa lực chi viện của ta chưa đủ mạnh; vậy mà khi hỏa lực đó giáng trúng đội hình mình thì nghe dữ dội, đanh rát đến khủng khiếp. Chúng tôi phải bẹp dí xuống hầm, không thể ngóc đầu lên được. Tình hình này nếu kéo dài là rất nguy hiểm. Vì khi quân địch rút lui sẽ tràn qua trận địa ta. Bí quá, tôi bảo cậu điện đài 2 oát gọi ngay cho Trung đoàn 1 yêu cầu lùi tầm bắn lại khoảng 200 mét mới trúng được đội hình địch mà không rơi sang trận địa ta. Cậu điện đài loay hoay mãi chưa liên lạc được. Trong khi đó, các loại đạn pháo cứ cấp tập nện chát chúa vào công sự trận địa của đơn vị .Tôi sốt ruột vô cùng. Điện báo viên thì bền bỉ gọi:
- Sông Hồng gọi Sông Lô. Nghe tốt, nghe rõ, trả lời.
Khi điện đài thông thoại được, tôi giật phắt lấy ống nói, không dùng mật khẩu nữa, hết toáng lên:
- Ông Chót ơi, tôi là Đẩu đây, cối 82 và ĐKZ của các ông bắn trúng vào trận địa của chúng tôi rồi. Không thể ngóc đầu lên được. Hướng bắn thì đúng rồi đấy, nhưng phải cho tầm bắn lùi lại 200 mét thì mới trúng vào đội hình quân địch.
Cáu quá, tôi còn chửi thề mấy câu nữa. Tức thì, đầu bên kia nhận được thông tin, anh Võ Chót cho pháo bắn lùi ngay. Trận đó, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 phối hợp cùng Đại đội chúng tôi đánh thắng giòn dã, tiêu diệt và bắt sống gần trăm tên tù binh ngụy.
Mãi tới sau này, năm 1993, anh Võ Chót là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 4 có lần cùng dự cơm ở làng Lệ Mật, Gia Lâm, Hà Nội với chúng tôi. Ôn lại kỷ niệm xưa, anh Chót kể lại trận đó và nói vui:
- Các ông ạ! Bây giờ ông Đẩu là Cục trưởng Cục Chính sách  trông hiền thế thôi. Chứ trước đây, lúc đánh nhau ở trận tiền, là cán bộ chính trị nhưng ông ấy nóng nẩy, quyết liệt và thậm chí là ngoa ngôn đấy!
 Tôi cười vui, nói lại:
- Mọi hoàn cảnh có thứ ngôn ngữ riêng. Cách biểu đạt cũng vậy. Giữa lúc bom rơi đạn nổ ngút trời, sự sống chết của mình và đồng đội là mong manh, thời khắc diễn ra tình huống chóng vánh, phải hoàn thành nhiệm vụ là mệnh lệnh tối thượng. Vì vậy, người chỉ huy phải xử lý nhanh chóng, chính xác và hiệu quả nhất. Có phải như bây giờ đâu mà tế nhị, ngọt ngào, nhẹ nhàng, thưa với gửi!
 Nghe xong, mọi người cùng cười.
Đường 9 - Nam Lào từ lâu vốn là hậu phương của ta. Khi địch bắt đầu cuộc hành quân Lam Sơn 719, theo chủ trương của trên, nhân dân trong vùng và một vài đơn vị bảo đảm hậu cần – kỹ thuật ở Đoàn 559 đều sơ tán hết về phía sau.Vì rút vội, trong các bản làng còn bỏ lại nhiều trâu, bò, lợn, gà thả rông. Có cơ sở hậu cần  của Đoàn 559 còn ngổn ngang lương thực, thực phẩm: Gạo, lương khô, thịt hộp, đường, sữa.
Ngày 20 tháng 3 năm 1971, tôi với anh Xuân Đại đội trưởng lên Trung đoàn nhận nhiệm vụ. Cùng dự với chúng tôi có chỉ huy Tiểu đoàn 9 gồm anh Hồ Hữu Lạn Tiểu đoàn trưởng và anh Lê Hồng Hải Chính trị viên. Nhiệm vụ Trung đoàn giao cho Đại đội đặc công chúng tôi phối hợp với Tiểu đoàn 9 bộ binh cùng với Trung đoàn 1 đánh vào cao điểm 550 nhằm tiêu diệt Lữ đoàn 147 của địch. Sau khi nghe anh Hoàng Trọng Thế trung đoàn trưởng cùng anh Lê Văn Dánh chính ủy phổ biến tình hình và giao nhiệm vụ, chúng tôi bàn phương án tác chiến. Theo đó, mục tiêu tấn công là Tiểu đoàn Thủy quân lục chiến ngụy đang chiếm giữ điểm cao 550. Hướng tấn công chủ yếu sẽ tiến hành từ phía đông lên. Vì ở hướng đó có độ dốc rất cao, chắc địch cho là ta không thể lên được nên ít đề phòng hơn. Khi ta đã lên được, từ trên cao đánh xuống, địch sẽ bị bất ngờ, khó đối phó. Đặc công sẽ là mũi đột kích chủ yếu. Đại đội 11 bộ binh tiếp ứng với đặc công. Đại đội 12 hỏa lực sẽ dùng cối 82ly và ĐKZ chi viện trong quá trình tác chiến.
Chiều ngày 21 tháng 3 năm 1971, chúng tôi bắt đầu tiếp cận vào vị trí tập kết ở chân cao điểm 550. Đến 7 giờ tối, trút bỏ lại những thứ không cần thiết, chúng tôi bắt đầu tiềm nhập vào cứ điểm địch. Độ dốc rất cao, gần như thẳng đứng, cây cối lúp xúp, lại có nhiều phiến đá lớn, chúng tôi phải dùng giây làm thang, rồi từng người bám vào leo dần lên. Đến 12 giờ đêm, khi cả đội hình đã lên gọn ở đỉnh dốc, bố trí xong đội hình, tôi mừng lắm. Tôi và anh Xuân trao đổi với nhau, giữ được bí mật bất ngờ, tạo được thế đánh thuận lợi thế này, trận này chắc chắn thắng to. Khi tiếp cận cách quân địch chừng 30 mét, chúng tôi  phát lệnh nổ súng.
Sau khi dùng B40, B41 bắn sập hai lô cốt đầu cầu, từng tổ, theo phạm vi được phân công, lao lên ném thủ pháo, lựu đạn vào công sự địch. Tiếp đó, anh em dùng súng tiểu liên AK lia từng loạt vào dẫy nhà bạt phía trong. Ban đầu do bị bất ngờ, địch choáng váng, chưa kịp phản ứng gì. Nhưng gần 10 phút sau, khi phát hiện được hướng đánh của ta, chúng co cụm chống trả quyết liệt. Địch bắn pháo sáng rực trời. Cả trận địa sáng choang như ban ngày. Từ ụ súng gần đó, một khẩu đại liên bắn xối xả cản bước phát triển của ta. Tôi chỉ thị cho cậu Bình xạ thủ B41 ngắm bắn vào khẩu đại liên. Quả B41 phóng đi, một quầng lửa sáng đi liền một tiếng nổ rất to. Khẩu đại liên địch bị câm họng. Bất ngờ từ phía bên phải, một tên địch phát hiện ra tôi, nó bắn một loạt tiểu liên AR15. Tôi trúng đạn người đổ xuống tại chỗ. Tức thì, cậu Tấn liên lạc bắn trả một loạt AK diệt ngay tên địch. Tôi thấy đau nhói ở lưng, tức ngực, không thở được. Máu ở lưng trào ra. Đồng thời, cả mũi và miệng tôi đều ộc máu, lại phì phò thành bọt theo nhịp thở. Tôi cũng không hiểu tại sao. Chắc viên đạn cắm phập vào phổi, thủng phế quản, máu và hơi thở quyện vào nhau. Mặc dù đau lắm, nhưng tôi vẫn tỉnh táo. Bằng kinh nghiệm chiến đấu nhiều năm, tôi biết những người bị thương nặng mà còn rất tỉnh thì khó qua khỏi.
Rời Sư đoàn, anh em không cáng tôi xuôi ra miền Bắc mà lại ngược vào phía Nam, vào Viện 68 của Quân khu Trị Thiên Huế. Thương binh trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào đưa vào đây khá nhiều. Đủ các loại vết thương, không phân biệt nặng nhẹ và bị thương vào đâu, chúng tôi nằm xếp thành dài trên sạp nứa  trong các lán. Hàng ngày, các y tá, y sĩ  lần lượt thay băng, tiêm thuốc cho thương binh. Các vết thương nặng đều phải phẫu thuật. Phòng mổ làm việc liên tục suốt ngày đêm mà vẫn không kịp. Nhiều thương binh nặng, do không đủ phương tiện và khả năng chữa trị, đã hy sinh. Ngay sau bệnh viện là một nghĩa trang khá lớn.
Khi khám cho tôi, các bác sĩ kết luận là, tôi bị đạn bắn gãy xương sườn, xuyên thấu phổi, thủng phế quản, gây tràn dịch màng phổi. Sau này tôi mới biết, với loại vết thương này, nếu có điều kiện như ở những bệnh viện bây giờ, thì chỉ cần mổ ra, gắp viên đạn, khâu lại lỗ rò phế quản, thì không thành thương tật nặng. Nhưng thuở đó, điều kiện chiến trường, thiếu thốn mọi thứ. Thầy thuốc chuyên khoa, thuốc men và phương tiện đều thiếu. Mổ phổi là đại phẫu thuật. Viện 68 không đủ khả năng tiến hành. Chỉ còn cách tiêm kháng sinh liều cao, chọc dò hút dịch. Hàng ngày, các bác sĩ đến dựng tôi dậy, cởi áo ra, dùng cồn i-ốt sát trùng khắp cả một lượt, tiêm thuốc giảm đau rồi dùng một cái xi lanh to gần bằng cổ tay, cắm phập một cái kim dài hơn  10 cm vào ngực, vào lưng để chọc hút dịch, máu mủ. Có bữa hút được một cốc đầy dịch, nhìn như máu cá. Khi chưa hút thì tức ngực, khó thở. Khi hút được rồi thấy dễ chịu hơn.
Ban đầu mỗi ngày hút một lần. Sau đó mỗi ngày phải hút hai lần tôi mới chịu được. Nhưng vết thương của tôi ngày một nặng lên. Đau nhức, tức ngực, khó thở và luôn sốt về chiều tối. Mấy ngày sau,  dùng kim loại to cũng không hút được nữa, vì dịch trong phổi đã thành mủ đặc quánh. Tôi càng đau nhức và khó thở hơn. Phải đặt tôi nửa nằm, nửa ngồi mới thở được. Sốt cao, li bì, liên miên - nhất là về buổi chiều và tối. Mỗi ngày tôi một yếu lả đi. Có mấy thương binh nằm cạnh đã ra nghĩa trang. Tôi nghĩ mình sắp đến lượt.
Sau chiến thắng của Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, cấp trên khao quân. Ở bệnh viện, cứ hai thương binh được cấp một hộp thịt hộp. Lúc chiều tối, chị y tá mang đi cấp phát và nói như vậy. Tôi và một thương binh tên là Thanh, cỡ tuổi tôi,  bị thương vào đầu, nằm cạnh. Khi nhận rồi, với ánh nhìn hiền hậu, chân thành, Thanh nói với tôi:
- Thôi! ông giữ lấy mà ăn bồi dưỡng sức khỏe để còn mổ. Mình nặng lắm, chắc không sống được nữa đâu. Ăn chẳng để làm gì!
 Tôi nhìn anh đau đớn, vì tin đó là sự thật. Và đến khuya, anh ấy kêu đau thảm thiết quá, bác sĩ chạy đến cấp cứu tại chỗ, thấy anh giãy dụa một lúc rồi tắt thở. Nhân viên bệnh viện chuyển anh ra nghĩa trang ngay trong đêm. Cảnh này diễn ra nhiều lần, anh em thương binh chúng tôi chỉ buồn thương đồng đội, chứ không bất ngờ. Sáng ngày nhìn sang cái dằm nằm trống trếnh bên cạnh và nhìn lại hộp thịt chỏng chơ, tôi ngao ngán, ngậm ngùi và thương xót Thanh vô cùng. Rồi, giống như Thanh, tôi cũng chuyển hộp thịt đó cho người khác, không tài nào ăn được.
Mấy ngày sau, khi khám cho tôi, bác sĩ cho rằng, mủ trong lồng ngực nhiều hơn, đặc hơn, dùng kim không hút ra được nữa, chèn ép phổi, gây tức thở . Xét thấy, cứ đà đó tôi ngày một yếu đi và sẽ không qua khỏi, bác sĩ Sùng, chủ nhiệm Khoa ngoại quyết định mổ đặt ống dẫn lưu vào thẳng trong lồng ngực để thoát mủ ra ngoài. Tôi được đưa lên bàn mổ vào lúc chập tối một ngày cuối tháng 3 năm 1971, tôi không nhớ ngày cụ thể.
Phòng mổ đặt trong một căn hầm lộ thiên. Không có điện, phải dùng đèn Đi-a-mô. Tức là, có một người đạp như đạp xe đạp để quay phát điện làm sáng đèn. Đạp có nhanh đèn mới sáng. Dừng lại thì đèn tắt. Bác sĩ cầm dao mổ dưới ánh đèn phập phù đó. Khi mổ chỉ dùng thuốc tê, nên tôi nghe và biết hết. Các anh ấy banh cái xương sườn đã bị gãy của tôi lên, cầm một ống xông cao su  bằng con lươn nhỏ, có đầu mà trên đó có nhiều lỗ, đẩy sâu vào lồng ngực tôi, tức thì mủ ở trong chảy trào ra. Dẫu đau lắm, nhưng tôi mừng vì thấy dễ thở hơn. Hơi thở dài, sâu hơn; không ngắn và gấp gáp như trước đó. Các anh đưa tôi về lán kèm theo sợi dây dẫn lưu từ ngực tôi ra một bình thủy tinh – hình như vốn là bình đựng thanh huyết. Cứ thế, mủ trong người tôi cứ chảy thoát tự nhiên ra ngoài.
Điều trị tiếp ở Viện 68 mấy ngày nữa, tôi được chuyển ra Miền Bắc theo tuyến giao liên 559. Theo qui định, thương binh nặng thì chuyển ra Bắc, thương binh vừa và thương binh nhẹ thì để lại điều trị đến khi khỏi, trở về đơn vị chiến đấu. Ai được đưa ra Bắc tức là đã bị loại khỏi vòng chiến đấu. Có thể, có người vui vì được trở về Miền Bắc. Với tôi, biết chắc rằng, nếu để lại chiến trường, thì tôi sẽ chết vì vết thương quá nặng. Nhưng ngày đó, vừa bước sang tuổi 23, còn say mê lý tưởng, dạt dào khát vọng mà đã thuộc diện bị loại ra khỏi cuộc chiến đang hào hùng, sôi động, tôi tủi thân và buồn lắm. Chẳng huyễn hoặc, chẳng lên gân lên cốt gì đâu. Tuổi trẻ chúng tôi lớp lứa đó là vậy.
Ngày đầu cáng tôi  lên đường, đi qua gần chỗ đơn vị đóng quân. Vì đã biết trước, cả đại đội đặc công, lúc đó còn lại khoảng hơn 50 người, ra đón đường chia tay tôi. Hơn một tháng sau bị thương, sức khỏe tôi yếu lắm, người gầy rộc đi. Cáng dừng lại. Tôi cứ nằm bất động trên cáng. Lần lượt từng anh em đến cầm tay tôi ngậm ngùi xúc động. Hầu như người nào cũng khóc. Mấy cậu liên lạc Đại đội khóc rất to, thảm thiết. Nước mắt tôi cứ thế chảy ra, chẳng còn sức mà khóc nữa, tôi nấc lên ngẹn ngào. Chúng tôi biết rằng, đây là lần chia tay cuối cùng. Mà quả thật, kể từ ngày đó đến hết cuộc chiến,  số anh em bạn bè tôi thuở ấy ở lại chiến đấu nhiều người đã hy sinh. Số còn lại đến bây giờ mà chúng tôi thỉnh thoảng vẫn họp mặt nhau, khi Thái Bình, lúc Nam Định, Thanh Hóa, chỉ còn chưa đến chục người. Đúng là những hạt gạo trên sàng. Khi chia tay, lo cho tôi vết thương nặng, sức yếu, đường xa, dẫu chẳng có gì, anh em gom góp lại vài cân đường, dăm hộp sữa để tôi bồi dưỡng và mấy vật chiến lợi phẩm của Mỹ như đèn pin, bi đông, ka uống nước, võng dù,… tặng tôi làm kỷ niệm. Tất cả dồn lại đựng vào một cái gùi, giao cho người cáng mang theo tôi.
Thường xuyên có ba người thay nhau cáng tôi và mang ba lô đi cùng. Đường đi khi lên núi, xuống đèo, lúc nắng gay gắt, lúc mưa dầm dề, đương gồ ghề trơn trượt, anh em vất vả. Mỗi ngày qua một cung trạm. Cứ tối đến, quân y của trạm dùng xi lanh hút mủ từ trong lồng ngực tôi qua ống dẫn lưu ra ngoài. Rồi thay băng, tiếp tục tiêm thuốc kháng sinh.
Cáng bộ được hơn 10 hôm, tức là qua được 10 trạm giao liên. Đến một ngày các anh chuyển tôi từ trạm giao liên ra đường cái để đưa lên  xe ô tô vận tải. Tôi được đưa lên ô tô cùng với mấy thương binh nữa. Khi nhìn thấy tôi, các anh phụ trách vận chuyển bằng ô tô ái ngai, lo lắng. Họ cho rằng, đường chiến lược trong rừng rất xấu, xe xóc rất mạnh, mà vết thương của tôi thì quá nặng. Đắn đo hồi lâu, các anh quyết định để tôi ở lại để cáng bộ. Nhưng lúc gọi mấy chiến sĩ tải thương của trạm giao liên để trả tôi lại, thì họ đã quay về trước đó, không còn ai nữa. Tải thương trên ô tô chỉ có hai người phải lo cho mấy thương binh. Vì vậy, sau một hồi suy xét, không còn cách nào  khác, các anh đành để tôi lại và cho rằng trên đường giao liên với nhiều người qua lại, chắc chắn sẽ có người gặp và chuyển tôi về trạm. Chứ nếu chuyển bằng ô tô, tôi không chịu nổi mà sẽ hy sinh trên đường.
Vậy là, một mình tôi bơ vơ nằm trên cánh võng, giữa rừng, cạnh chỗ giao nhau của đường giao liên bộ với đường ô tô. Ban đầu, với vết thương đau nhức, khó thở, sức đuối lắm, tôi  hoang mang, lo lắng vô cùng. Nằm trên võng, tôi chăm chú nghe ngóng và khát khao có ai đi trên đường giao liên không. Tôi mong manh chờ mãi… chờ mãi…chẳng thấy gì. Thời gian dần trôi, bốn bề vắng lặng, tôi khắc khoải vô vọng. Nghĩ rằng, với vết thương nặng thế này, mình sẽ bị chết ở đây. Nhưng ngay sau đó, giữa lúc vô vọng nhất, tôi trấn tĩnh lại, trong cuộc chiến đấu  quyết liệt với quân thù, cùng trang lứa đã có bao người  hy sinh, nay đến lượt mình vì vết thương quá nặng, âu cũng là tất yếu. Nắng chiều nhạt dần, trời sắp tối. Tôi đưa tay lấy tập giấy tờ để trên võng, ra đọc. Trong đó có ba loại giấy: Giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng, Giấy chứng nhận bị thương, Giấy chuyển thương. Ở Giấy chuyển thương, tôi thấy trong mục khi cần báo tin cho ai, ai đó đã viết nhầm tên cha tôi là Nguyễn Văn Hòa. Sợ nếu mình hy sinh, báo tử nhầm địa chỉ, tôi lấy bút bi đang cài ở túi ngực chữa lại chữ Hòa thành chữ Hòe bằng chữ in hoa hẳn hòi, cho đúng. Tiếp theo, ở ô trống còn lại, tôi viết thêm lời nhắn nhủ: “Các đồng chí ơi, tôi đã hy sinh ở đây!”. Viết xong, vuốt lại tờ giấy cho thẳng hơn, tôi cho vào túi. Rồi mệt quá đến kiệt sức, hình như vết thương không còn đau nhức nữa,  tôi lịm đi, thiếp dần, mơ màng, bồng bềnh như vào giấc ngủ…
  Vậy rồi, đến khi từ từ khi mở mắt ra, tôi lạ lùng thấy mình đang nằm trên một cái lán nứa dưới mái nhà tranh. Nghĩ là, mình đang nằm mơ, đưa tay cấu vào chân thấy đau, tôi mới cho là thật. Tôi đưa mắt nhìn xung quanh. Phía trên thấy có một chai thanh huyết đang truyền vào người tôi. Ghé nhìn sang cạnh đó, một chị chắc là y tá đang ngồi chăm chú nhìn tôi. Ngoài kia ánh sáng ban mai chói lòa. Thấy tôi động đậy, ú ớ, chị y tá nói như reo lên:
- Ồ! tỉnh lại rồi hả. May quá!
Khi đã tỉnh hẳn, hỏi chị y tá, tôi mới biết, tối qua có Đoàn cán bộ Dân Chính từ phía Nam ra. Trên đường bất chợt nhìn thấy tôi đang mê man bất động trên chiếc võng ở gốc cây bên vệ đường. Họ thay nhau cáng tôi đi và hỏi thăm tìm đường đến Đội Phẫu. Họ tìm được Đội Phẫu lúc khoảng 2 giờ sáng. Cáng tôi vào đây bàn giao cho quân y rồi họ đi tiếp.
Khi tiếp nhận tôi trong tình trạng đang hôn mê, các bác sĩ đã kịp thời tiến hành hồi sức cấp cứu. Sau đó, họ căn cứ vào những giấy tờ hiện có của tôi, kết hợp với khám xét vết thương thực thể để lập bệnh án bổ sung.  Mấy hôm sau tỉnh hơn, tôi được biết, đây là Đội Phẫu của một đơn vị thuộc Đoàn 559. Bác sĩ Lợi là Đội trưởng. Trong Đội Phẫu ngày đó còn có anh Thơm quân y sĩ quê ở xã Nghi Hải, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, cũng thường xuyên chăm sóc tôi. Thời gian điều trị ở Đội Phẫu do vết thương ngày càng nặng hơn, có lúc nguy kịch, tôi phải cấp cứu mấy lần. Tôi nhớ một lần tôi không thở được, có bác sĩ đề nghị mổ nới nội khí quản đưa ra ngoài để thở. Với ánh nhìn đăm chiêu suy nghĩ lung lắm, sau một lúc xem xét kỹ vết thương và đọc lại bệnh án của tôi, bác sĩ Lợi Đội trưởng quyết định không mở nội khí quản. Ông vừa chăm chú nhìn tôi một cách thương cảm, vừa từ tốn rành rọt nói với mọi người:
- Cậu này còn trẻ quá. Mổ ra, mở nội khí quản để thở là giải pháp tình thế bất đắc dĩ. Có thể giải quyết qua cơn cấp cứu. Nhưng khi lắp lại khí quản, ngộ nhỡ chạm đến giây thanh quản mà gây ra câm, thì tội vô cùng. Thôi! Cứ cấp cứu bằng nội khoa. Tiêm Lu-ba-lin trợ hô hấp và tiêm u-a-ba-in trợ tim, cần thiết thì tiêm moc-phin giảm đau đi đã.
 Thế rồi, dưới sự chỉ đạo và trực tiếp điều trị của bác sĩ Lợi, tôi qua được và khỏe dần lên. Lúc đó, vì rất lo lắng đến tính mạng, nên mặc dù trong trường hợp nguy kịch, tôi vẫn còn tỉnh, chăm chú nghe. Trọn đời, tôi chịu ơn của của bác sĩ Lợi. Ngày đó, nếu không có kinh nghiệm và sự quyết đoán của ông, không biết tôi sẽ là thế nào. Tiếc là, sau ngần ấy năm trời, tôi chưa có dịp nào gặp lại bác sĩ Lợi.
 Điều trị ở Đội Phẫu khoảng dăm ngày, tôi lại được tiếp tục đưa ra Bắc theo tuyến chuyển thương. Lại nằm trên cáng lênh đênh dọc tuyến giao liên. Tôi nằm trên đôi vai của các chiến sĩ tải thương khi lên núi, lúc băng đèo, lội suối với biết bao vất vả, gian truân và có khi còn bị máy bay oanh kích nữa. Tôi cảm kích và mãi mãi chịu ơn của những đồng đội mà tôi không hề biết tên đó ./.

                                                                          N M Đ