Menu ngang

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

LẠI BÀN VỀ THAM NHŨNG

Ai cũng nói tham nhũng là quốc nạn, là nguy cơ tồn vong của chế độ.
Đảng đã có nhiều NQ, Nhà nước đã có Luật PCTN và có biết bao văn bản, rất nhiều chiến dịch, triển khai nhiều giải pháp, thành lập nhiều cơ quan chuyên trách … Nhưng hầu như tham nhũng chẳng những không bị đẩy lùi mà còn phát triển hơn, qui mô lớn hơn, trắng trợn hơn, tinh vi hơn.
Trong tham nhũng, thì tham nhũng cơ chế chính sách và tham nhũng chức quyền là nguy hại nhất. Tham nhũng cơ chế chính sách là: Tạo ra cơ chế, chính sách nhằm phục vụ cho nhóm lợi ích. Tham nhũng chức quyền là bọn nhiều tiền mà cơ hội, bất tài, thất đức, chui vào hàng ngũ lãnh đạo các cấp. Và chắc chắn, khi đã chui vào rồi, bọn chúng sẽ là sâu dân, mọt nước. Hiện tượng chạy chức, chạy quyền,“ thương mại hóa công tác cán bộ” khá phổ biến. Đến mức, người dân nói với nhau : Chức này chạy hết bao nhiêu, chức kia hết bao nhiêu.
Chức quyền là phương tiện để khai thác lợi ích. Logic là : Có tiền là có chức, có chức là có quyền, và có quyền là có lợi ích. Khi đã đầu tư tiền để chạy được chức rồi - nghĩa là thắng thầu rồi - thì ngay lập tức bằng nhiều chiêu trò sử dụng cái chức ấy để khai thác kịp hoàn vốn và tạo ra sinh lời. Và rồi họ lại chuẩn bị cho việc " đầu tư " một chức quyền lớn hơn.
Việc này, mọi người đều biết, các đồng chí lãnh đạo cũng đã nói nhiều, tại sao không mấy chuyển biến.
Có thể nói, tham nhũng xuất phát từ bản năng con người, nó là sản phẩm tất yếu của mọi chế độ. Vấn đề là, cần tìm ra nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân trực tiếp của quốc nạn này để có kế sách đặc trị hiệu quả hơn.
Tôi nghe nói, ở Singapore, từ thời ông Lý Quang Diệu đã thiết lập một cơ chế mà mọi người không cần tham nhũng và không thể tham nhũng được.
Có một hiện tượng mà nhiều người thật sự băn khoăn, bán tin bán nghi, khó phân biệt đúng sai: Đâu là sự tham nhũng đích thực của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức, có quyền. Và, đâu là luận điệu tuyên truyền chống phá, bôi nhọ của địch.
Còn tôi - Tôi khẳng định là: Không bao giờ được nhân danh chống tham nhũng, chống tiêu cực, để ủng hộ, để cổ súy và trở thành đồng minh không tự giác của bọn chống Đảng, chống chế độ, chống phá thành quả cách mạng dưới mọi màu sắc, tên gọi.
Ngược lại, bất cứ ai, cũng đừng bao giờ nhân danh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng để bao che cho các phần tử có chức có quyền đã tha hóa, thoái hóa trong Đảng, trong bộ máy công quyền hiện nay.
P/s : Khi tôi đăng bài này lên, có bạn nói đại ý rằng: Chống tham nhũng như lâu nay chỉ là chống cái ngọn - bắt từng con sâu - Vấn đề căn bản là cái gốc của nó - nơi đã sản sinh ra cả bầy sâu lớp trước, lớp sau. Tôi cho ý kiến đó là đúng.
Chỉ ra nguồn gốc, nguyên nhân của nạn tham nhũng; ban hành cơ chế, giải pháp chống tham nhũng hiệu quả là công việc của các cấp có khả năng và có thẩm quyền.
Với tôi - Tôi chỉ nêu ra mấy hiện tượng mà chắc rằng ai cũng biết :
Tham nhũng chỉ diễn ra trong bộ máy công quyền và các Doanh nghiệp Nhà nước. Ngân sách Nhà nước ( tiền của dân đóng góp ) và tài nguyên Quốc gia ( từ ngàn xưa để lại ) đang bị một nhóm người thao túng, chia chác. Đương nhiên, người dân không ai có điều kiện để tham nhũng.
Các doanh nghiệp tư nhân, các Công ty TNHH chẳng mấy khi có tham nhũng - Bởi không ai tham nhũng cái của mình. Các vụ án điển hình làm thất thoát hàng mấy nghìn tỷ đồng, hàng chục nghìn tỷ đồng của Nhà nước mà bị can đều là cán bộ có chức, có quyền trong bộ máy công quyền. Phải chăng, " Công hữu hóa " , " Cơ chế xin cho " đã và đang là mảnh đất màu mỡ của tham nhũng !

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2018

PHƠI TRÊN PHÂY

Hôm về quê động thổ tôn tạo Lăng mộ Cha Mẹ mình, tôi nhớ ngày 19/6 âl là Giỗ ông Cậu ruột Trần Văn Long. Cậu tôi mất năm 2001. Mới đó thôi đã 17 năm rồi.

Mặc dù có số máy của các em, nhưng tôi không báo trước. Thế mà, khi ngồi xe máy cùng chú em đi gần 30 cây số, vừa bước chân tới cổng nhà, các em đều niềm nở nói : 
- Chúng em biết, hôm nay thế nào anh cũng lên đây Giỗ Cha.
- Anh không báo trước, làm sao các em biết. Tôi hỏi lại. 
- Ồ ! Lịch trình hằng ngày anh đi đâu, làm gì đều hiện trên Phây cả mà. Đêm qua, chúng em đọc Phây, thấy anh về quê làm Lăng cho Dượng & O. Chắc thế nào, hôm nay anh cũng lên đây dự Giỗ Cha. 
Mấy em gần như đồng thanh nói vậy.


Quả thật, khá lâu nay, hành tung của tôi đều phơi lên Phây hết thảy. Nhiều bạn hữu thân thiết cũng nói về tôi như thế. Mà tôi thì coi đó như một thú vui để kính cáo với bạn bè xa gần, cũ mới rằng: Tôi đang là thế. 

Sự việc có sao nói vậy, kèm theo cảm xúc, suy nghĩ riêng - Tôi coi đó là những trang viết lưu lại kỷ niệm cho riêng mình. 
Ai đọc và có nghĩ, có bình thế nào là tùy. 
Đa dạng là thuộc tính của xã hội !
Và tôi có mấy câu thơ con cóc như sau :


Đi đâu phơi lên Phây tất cả
Tôi coi Phây - nhật ký tuổi già 
Với bao dòng lưu bút nhởn nhơ 
Khi đọc lại trang đời vui đáo để !
CHUYẾN XE ĐÊM MƯA

Đúng 14h15 phút, 31/ 7 / 2018, chuyến xe Số 03 Hãng xe giường nằm Phúc Lợi lăn bánh tại Quán Hành (Nghi Lộc, Nghệ An).
Theo lịch trình như lâu nay, thì khoảng 19 h 30 xe đến Bến Nước Ngầm ( Hà Nội ). 
Nhưng lần này không như thế.

Các tỉnh Bắc Bộ & Hà Nội chiều tối nay mưa to. Xe lưu hành trên Quốc lộ 1 A về Hà Nội bị nghẽn tắc do nhiều nguyên nhân, chủ yếu do nước ngập đường.
Mãi tới 21 h 30, xe mới đến Bến Nước Ngầm. Trước khi vào Bến, chỉ cách có một quãng đường rất ngắn mà xe phải nhúc nhích từng đoạn giữa những đoàn xe chen chúc nhau như mắc cửi.
Khi xe dừng bánh trong bến, nhân viên trên xe thông báo: 
“ Thưa bà con hành khách, vì đường tắc do trời mưa to, nên xe trung chuyển từ đây về 71 Khuất Duy Tiến chưa thể lên kịp. Đề nghị bà con ngồi đợi trong xe khoảng 30-40 phút nữa !”.

Tôi nhảy xuống xe tìm tắc xi để về. Nhưng tắc xi không được vào bến. Trời mưa to, đi ra ngoài xa hơn thì sẽ bị ướt. Tôi quay lại lên xe ngồi đợi như nhiều hành khách khác.
Bến xe giữa đêm mưa mờ ánh điện, xe liên tiếp vào ra, tôi ngó quanh chẳng có hàng quán gì. Bụng đói meo. Trưa nay mặc dù dự đám Giỗ ông Cậu, nhưng lâu ngày anh em gặp nhau hàn huyên chuyện trò là chính & chúc tụng nhau đôi ba chén rượu quê vui vẻ, thân tình.
Mãi tới 22 h 30 phút, xe trung chuyến mới tới đón về 71 Khuất Duy Tiến. 
Tiếp đó, con gái tôi đặt tắc xi Grab cho cha về nhà. 
Đúng 23 h, tôi mới lủng lẳng xách ba lô vào nhà.

Quá bữa, chỉ mệt mà không cảm thấy đói nữa. May là, con gái nhà ở gần mua sẵn cho bát cháo ngon đưa sang, dễ nuốt. Ăn uống xong đã ngót 12 giờ đêm. 
Kết thúc một ngày.

Trên đường đi, biết tôi bị kẹt xe trong đêm mưa, nhiều người thân suýt xoa thương than tôi khổ!
Tôi thì quen rồi, đó là chuyện bình thường. Chẳng qua là do Trời mưa thôi. Có gì đâu mà khổ! Vả lại, đây là việc của mình, kêu với ai, kêu để làm gì. Ở đời, sướng hay khổ, phần nhiều do quan niệm mà thôi.

Từ đầu năm đến nay về quê nhiều lần, nhưng duy chỉ có lần này là thế. Thật đúng: “ Thiên thời “ là yếu tố đầu tiên của mọi việc, thứ đến mới là : “ Địa lợi “ & “Nhân hoà”.
Chuyến xe đêm mưa có nhiều cám xúc !
GIỖ CẬU

8 h 30 phút sáng nay, 31/7/2018, nhằm 19/6 âl Mậu Tuất, sau khi bàn bạc thống nhất quy cách với thợ nề trong việc tôn tạo Lăng mộ tại Nghĩa trang, tôi và chú Nguyễn Anh Đào em trai đi Giỗ ông Trần Văn Long cậu ruột chúng tôi tại xã Nghi Kiều, cách nhà ngót 30 km. 

Trời không nắng lắm & có gió mát, anh em lai nhau đi xe máy. 9 h 30 mới tới nhà trên lừng chừng một quả đồi thoai thoải.


Ông Trần Văn Long ( 1926 - 2001 ), là con út của Ông bà ngoại tôi. Mẹ tôi là áp út, hơn cậu 7 tuổi. Trong những người con của Ông bà ngoại, có thể do lớp lứa tuổi tác, nên sinh thời Mẹ tôi và Cậu thương nhau nhất.

Ngay từ thuở còn bé đến tận sau này, 5 chị em chúng tôi luôn nhận được ở Cậu tình cảm quý mến.
Khi thắp hương, ngước lên bàn thờ nhìn di ảnh Cậu Mợ, lòng tôi ngậm ngùi hồi tưởng những kỷ niệm xưa.

Cậu Mợ tôi đông con, nhiều cháu. Các con Cậu Mợ đã thành gia đình riêng, sống nền nếp, hoà thuận, thương yêu, tương trợ nhau trong cuộc sống. 
Từ xưa đến nay, trong mọi hoàn cảnh, tôi luôn cảm nhận thấy điều đó.

12 h, chúng tôi chia tay các em, các cháu nhà Cậu Mợ, quay về Quán Hành. Khi tôi ra về, tiết trời nắng nóng, các em, các cháu cám cảnh ông già, “ bắt “ phải đi ô tô, để xe máy lại, các cháu đưa về sau.
14 h 15, lại lên xe giường nằm Phúc Lợi từ Quán Hành quay về Hà Nội.
LẠI VỀ QUÊ

Theo kế hoạch tôn tạo Lăng mộ Cha Mẹ tôi nhằm tri ân, báo hiếu trong dịp Tháng Bảy âl, sáng nay, 29/7/2018, tôi lại về quê để kịp ngày mai cùng hai chú em trai tiến hành động thổ.
Chỉ có 300 km mà tôi phải lên xuống mấy lần xe :

- 8 h, đi tắc xi từ nhà ra Văn phòng xe Phúc Lợi ở 94 phố Mỹ Đình;
- 8 h 20, cùng mấy hành khách lên tắc xi do Văn phòng thuê đưa đến Văn phòng Xe Phúc Lợi ở 71 phố Khuất Duy Tiến;
- 8 h 40, đi xe trung chuyển của hãng Văn Minh lên xe giường nằm đậu ở Bến Nước Ngầm;
- Đúng 9h30, chính xác tuyệt đối, xe lăn bánh;
- 14 h 30 xe đến điểm đỗ ở ngã ba Quốc lộ 1 - Nam Cấm. Lên xe trung chuyển về thị xã Cửa Lò;
- 14 h 45 lên tắc xi từ Cửa Lò về nhà.


Tuổi già, tay xách nách mang lỉnh kỉnh mấy thứ lặt vặt, lên xuống xe mấy lần, lại giữa tiết trời nắng nóng oi nồng, kể ra cũng mệt. Nhưng tôi quen thế rồi, chẳng sao. Vả lại, đây là việc của mình, kêu với ai, để làm gì ! Hơn nữa, thời gian nằm rảnh rỗi trên xe tha hồ lướt MXH đọc tin & có dịp để viết đôi điều lên Fb.
Về nhà Cha Mẹ không còn, chị em thì xa, cô em dâu đi từ Quán Hành về mở cửa trước. Có vợ chồng ông anh con bác họ sang chơi.
Mọi người ra về, còn lại mình tôi với ngôi nhà vắng, rộng rãi, trống trếnh đến ngậm ngùi. 
“Xưa kia nhà chật người đông 
Bây giờ nhà rộng lại không bóng người “

Ngước lên bàn thờ, ảnh hình Cha Mẹ tôi trìu mến nhìn tôi như thầm nói :” con đã về !”. Thuở sinh thời, Cha tôi vẫn nói thế mỗi dịp tôi về.
Căn nhà này này do Ông Bà nội
làm cho Cha Mẹ tôi từ năm 1940, khi ra ở riêng. Nhà được tân tạo nhiều lần, nhưng vẫn trên dằm cũ.

( Sinh thời, Cha tôi nói rằng, khi làm nhà, có ông Hội Tuynh người làng Thịnh Trường, là dượng lấy dì ruột Mẹ tôi - là bạn đồng môn của Ông ngoại tôi khi là học trò của Cụ ngoại, sau đó hai ông cùng là con rể Cụ ngoại. Thời điểm làm nhà thì Ông ngoại tôi đã mất. Ông nội tôi mời ông Hội Tuynh ( là người biết về Nho - Y - Lý - Số ) đến xem hướng, đặt móng nhà. Vì vậy, sau này dù có tôn tạo thế nào, vẫn phải giữ nguyên hướng và nền móng đó ).
Chị em chúng tôi sinh ra, lớn lên trong căn nhà này. 
Mảnh vườn nhà là nơi chôn rau theo đúng nghĩa đen.
Phía trước nhà cách 50 mét là Nhà thờ Tiểu chi họ - nơi thờ Cụ tổ 7 đời Nguyễn Đình Tín và các bậc Chư tổ.

Nhìn quanh một lượt, tôi rưng rưng hồi tưởng về bao kỷ niệm của một thời thơ ấu & niên thiếu. Tôi hít thật sâu bầu không khí quê Cha đất Tổ và mường tượng, mình đang khứ hồi quay về tuổi thơ nghèo khó đạm bạc mà ấm áp tình cảm.
Và bây giờ vào bếp lo bữa tối cho riêng mình. Một ngày lênh đênh trên đường khá mệt, nhưng bù lại có nhiều cảm xúc !
ĐẠI TƯỚNG VỀ HƯU ĐI XÂY CHÙA

Tối qua, 28/7/2018, ông Nguyễn Đăng Giáp TCTy 36 tổ chức gặp mặt một số đối tượng chính sách nhân dịp Ngày TBLS 27/7.
Tôi ngồi cạnh ông Ba. Theo quan hệ công tác, tôi là cấp dưới của ông mấy chục năm. Từ khi nghỉ hưu, lâu ngày không gặp lại, ông thân mật chuyện trò cùng tôi. 

Xưa nay vẫn vậy, ông là người sống dân giã, luôn gần gũi cấp dưới, không bao giờ quan cách - kể cả khi ngồi trên chót vót đỉnh cao quyền lực.

Tôi hỏi ông:
- Từ sau khi nghỉ hưu, anh Ba làm gì, ở đâu ?
Ông hồn hậu trả lời:
- Anh đi vận động bà con xây chùa ở các tỉnh Nam Bộ, chú ah!


Rồi ông từ tốn kể: “ Anh nhập ngũ từ năm 1953. Công tác ở miền Bắc chỉ hơn 10 năm. Sau đó đi chiến đấu ở trường B. Gắn bó với quân dân Nam Bộ hơn 30 năm. 

Sinh thời, ông Sáu Dân ( Võ Văn Kiệt ) có lần nói với anh là: Mọi người chúng ta đều biết, kẻ trước người sau, nhưng phần đông dân miền Nam đều có gốc tích tổ tiên ở miền Bắc. Ấy vậy mà, hầu hết các chùa chiền đền đài miếu mạo ở miền Nam đều là của người Hoa, người Chăm, người Khơ Me, ... rất ít chứng tích của người Việt. 
Cha ông ta trước đây chưa chú ý đến điều này. Nay chúng ta phải làm thôi.


Thấu hiểu điều trăn trở và cũng là ý nguyện của ông Sáu Dân, từ sau ngày nghỉ hưu, anh trở lại Nam Bộ vận động bà con đóng góp & các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm tài trợ để tiến hành xây dựng Chùa. Phấn đấu mỗi tỉnh có một Chùa. Đến nay đã hoàn thành được 5 Chùa & 5 Chùa đang triển khai làm.
Kinh phí Chùa ít nhất là 160 tỷ, Chùa nhiều là 300 tỷ.
 
Các ngôi Chùa mới xây dựng đều thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông & toàn bộ Hoành phi, Câu đối đều viết bằng chữ Việt “.


Ngồi nghe ông kể, tôi thầm nghĩ: Việc công đức dựng xây Chùa của ông có ý nghĩa to lớn trên nhiều mặt - không chỉ với bây giờ mà đối với rất rất nhiều năm sau.

Ông là Đại tướng, AHLLVT, Thương binh Phạm Văn Trà. Năm nay ông đã 84 tuổi. Chắc chắn rằng, trong đời sống tâm linh và tình cảm, nhiều thế hệ mai sau đều tri ân, tưởng niệm Ông - người Anh hùng trong chiến tranh giải phóng dân tộc & đã có công trong đời sống văn hoá tâm linh của cộng đồng xã hội.

Tôi trân quý ông - anh Ba Trà kính mến !

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

CHUI RÀO KIỂU ÔNG NGÃI

                                                                 N M Đ

( Trích Hồi ký “ Những nẻo đường thời gian”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2010 )

Cuối buổi chiều ngày 5 / 6 / 1969, tại một khu rừng già phía tây tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế hơn 70 cây số, có điện của Ban Tham mưu Trung đoàn 8: Anh Nguyễn Duy Hào Đại đội trưởng và tôi lên Sở chỉ huy Trung đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu. Hồi đó, tôi đang là Chính trị viên phó thay thế anh Trương Văn Dung Chính trị viên bị ốm. Ăn vội mấy bánh lương khô 702, anh Hào và tôi cùng hai cậu liên lạc cuốc bộ lên Trung đoàn cách chừng 5 cây số đường rừng.
Đúng 7 giờ tối, chúng tôi có mặt. Các anh: Ma Vĩnh Lan Trung đoàn trưởng ( quê Bạch Thông, Bắc Cạn ), Kiều Tam Nguyên Chính ủy Trung đoàn ( quê Đức Phong, Đức Thọ, Hà Tĩnh ) và thủ trưởng các cơ quan đã ngồi sẵn quanh sa bàn trong hầm Sở chỉ huy. Thắp sáng toàn bộ căn hầm bằng một cái đèn bão. Đây là một căn hầm do Đại đội 15 Công binh của Trung đoàn xây dựng ở sườn núi. Hầm có chiều dài khoảng 6 mét, chiều rộng khoảng 3 mét, sâu gần 3 mét, phía trên lát các thân cây gỗ khá to được cắt ra, trên cùng lấp một lớp đất dày gần 2 mét. Loại hầm này có thể chống được đạn pháo, nhưng không tránh được bom. Do đó, xung quanh hầm được nối râu tôm các giao thông hào đến các hầm chữ A (còn gọi là hầm kèo, hoặc hầm Triều Tiên) để phân tán ẩn nấp trong trường hợp bị máy bay địch oanh kích. Hầm Sở chỉ huy của Trung đoàn được sử dụng trong suốt Chiến dịch A Bia, hè 1969. Tôi đã được dự nhiều cuộc họp bàn tác chiến tại căn hầm này.
Chúng tôi ngồi vào ghế, anh Ma Vĩnh Lan đứng dậy vừa cầm que chỉ trên bản đồ treo ở vách hầm, vừa nói: Bộ Tư lệnh Quân khu Trị Thiên lệnh cho Trung đoàn ta cử Đại đội 20 Đặc công phối hợp với Tiểu đoàn 3 Đặc công của Quân khu tập kích Lữ đoàn 47 Thủy quân lục chiến Mỹ ở Cao điểm 817- động Ta Tách. Đây là căn cứ bàn đạp, là trận địa pháo chi viện của quân Mỹ trong Chiến dịch A Bia. Thời gian triển khai tổ chức lực lượng trinh sát bắt đầu từ ngày mai - 5/6/1969. Ban Chỉ huy Đại đội 20 trực tiếp làm việc với Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 3 để nhận kế hoạch cụ thể. Trong suốt quá trình chuẩn bị và tổ chức chiến đấu, Đại đội 20 Đặc công chịu sự lãnh đạo chỉ huy về mọi mặt của Thủ trưởng Tiểu đoàn 3 Đặc công. Tiếp lời anh Ma Vĩnh Lan, anh Kiều Tam Nguyên vắn tắt thông báo chiến công to lớn của toàn Trung đoàn trong chiến dịch A Bia - Chính nơi đây, quân Mỹ đã kinh hoàng gọi là đồi thịt băm Hăm-bơ-gơ ( Hamburger hill) . Tiếp đó, anh nói lên ý nghĩa, tầm quan trọng và những yêu cầu đặt ra trong lãnh đạo chỉ huy của Thủ trưởng Đại đội 20 trong trận chiến đấu tới. Cuối cùng, Trung đoàn trưởng giao trách nhiệm cho các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần của Trung đoàn tạo điều kiện giúp Đại đội 20 triển khai nhiệm vụ kịp thời.
Rời Sở chỉ huy Trung đoàn, anh Hào và tôi đến làm việc với anh Trần Duy Thị Tiểu đoàn trưởng và anh Lê Văn Doãn Chính trị viên Tiểu đoàn 3 cách Trung đoàn hơn một tiếng đồng hồ đi bộ. (Anh Thị quê ở Cẩm Hòa, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, sau này làm Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công. Anh Doãn quê ở Thọ Xuân, Thanh Hóa sau này chuyển đi đâu tôi không rõ). Hồi đó, chúng tôi được biết, Tiểu đoàn 3 là đơn vị Đặc công huấn luyện rất cơ bản ở miền Bắc mới được Bộ điều vào Quân khu Trị Thiên. Đầu năm 1969, khi mới vào chiến trường, Tiểu đoàn 3 đã đánh thắng giòn giã trận Cô-Ca-Va, tiêu diệt một cứ điểm của quân Mỹ ở tây Thừa Thiên. Đó là một trận thắng có ý nghĩa lớn cả về quân sự và chính trị. Mở đầu cho một năm chiến đấu trong thời kỳ mới. Chấm dứt thời kỳ khó khăn của Cách mạng sau Tết Mậu Thân. Được chiến đấu trong đội hình của Tiểu đoàn 3, anh em chúng tôi thật sự tin tưởng.
Chúng tôi quay về đơn vị ngay trong đêm để kịp chuẩn bị.

Trưa ngày 8 / 6 / 1969, anh Hào, tôi, các Mũi trưởng (trong tổ chức biên chế của Đặc công, Mũi là đơn vị tương đương Trung đội) và Tiểu đội trinh sát gia nhập đoàn cán bộ của Tiểu đoàn 3 lên đường đi trinh sát thực địa. Đoàn do anh Thị và anh Doãn dẫn đầu xuất phát từ A-Lê-Thiêm vượt qua khu vực Kho 61 ở A Lưới, cắt qua Đường 12, đi sâu vào phía động Ta Tách. Khi đến một khu rừng rậm cách Cao điểm 817 chừng 5 cây số, có một con suối nhỏ, hai bên bờ có nhiều cây to, anh Thị cho đoàn dừng lại và chọn làm nơi tập kết. Tại đây, Ban chỉ huy Tiểu đoàn họp bàn và giao nhiệm vụ cho các Đại đội.

Buổi chiều hôm đó, trên đường đi, anh em trinh sát bắt được một con rùa khá to màu đồng hun. Chúng tôi chặt cây bông báng lấy lõi non màu trắng ngà nấu với thịt rùa ăn rất ngon. Đang ăn, tôi chợt nghĩ, dân gian vẫn có câu “gặp rắn thì đi, gặp quy quay lại”. Gặp rùa mà ăn cả thịt rùa thế này, chắc báo hiệu điều không may sẽ đến. Nghĩ vậy, nhưng tôi không giám nói ra. Bởi lẽ, với tư cách là cán bộ chủ trì về chính trị, tôi sợ anh em đánh giá mình mê tín dị đoan, gieo rắc sự lo lắng, hoang mang ngay từ đầu cho mọi người. Kinh nghiệm cho thấy, khi thực hiện những công việc hệ trọng mà lại nguy hiểm nữa, thì trạng thái tâm lý cần được thoải mái, tự tin. Tuyệt đối không ám ảnh, lởn vởn hoặc vương víu vào những điều không cần thiết.
Tối hôm đó, ngủ lại bên bờ suối, mở đài bán dẫn, tôi nghe tin thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam do ông Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch. Đây là một sự kiện chính trị trọng đại, đánh dấu bước phát triển mới trong phong trào Cách mạng ở Miền Nam. Là những người lính chiến đấu trên chiến trường, khi nghe tin này, chúng tôi rất phấn khởi.
Theo thông báo của trên, tại Cao điểm 817 - Ta Tách, lực lượng địch có một Tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 47 Thủy quân lục chiến Mỹ. Đây là lực lượng thiện chiến trong quân đội Mỹ, đóng trong một căn cứ được bố trí vững chắc. Ở ngoài cùng là hàng rào cây đổ, tiếp đến là 3 hàng rào thép gai. Trong trận địa có hệ thống công sự liên hoàn: lô cốt, chiến hào, giao thông hào, ụ súng, hố chiến đấu cá nhân.
Thủ trưởng Tiểu đoàn 3 giao nhiệm vụ cho Đại đội 20 chúng tôi tổ chức 3 Mũi đánh vào mỏm B, nơi địch bố trí trận địa pháo và một đại đội Thủy quân lục chiến. 

Sau khi nhận nhiệm vụ ở Tiểu đoàn, anh Nguyễn Duy Hào Đại đội trưởng ( quê Thọ Xuân, Thanh Hóa ) và tôi hội ý bàn với nhau phân công: Anh Hào đi trinh sát hướng Đông Bắc cùng với anh Lê Văn Ba Mũi trưởng Mũi 1 ( quê Đức Phong, Đức Thọ, Hà Tĩnh ) và hai chiến sĩ trinh sát. Hướng Tây giao cho anh Trần Viết Xuân Mũi trưởng Mũi 2 ( quê Hương Thu, Hương Khê, Hà Tĩnh ) cùng hai chiến sĩ trinh sát. Hướng Đông Nam do tôi cùng anh Đặng Văn Ngãi Mũi phó Mũi 4 (quê Kỳ Anh, Hà Tĩnh, người thay anh Cao Hồng Nhụy Mũi trưởng quê Quy Đạt, Minh Hóa, Quảng Bình bị ốm) và Trần Văn Phết chiến sĩ trinh sát.

Từ trưa, xuất phát từ vị trí tập kết, tổ trinh sát chúng tôi cắt góc phương vị xuyên rừng đi về hướng Đông Nam. Đến 3 giờ chiều gặp một hang đá kiểu hàm ếch ở chân Cao điểm 817, cách đồn địch chừng 2 cây số, tôi bảo cả tổ dừng lại làm chỗ tập kết. Từng người một thay nhau cảnh giới ở cửa hang, còn lại tranh thủ chợp mắt để tối tiềm nhập vào đồn địch. Mục tiêu trinh sát là phải nắm được hệ thống chướng ngại vật, hệ thống công sự trận địa bố phòng và cuối cùng là trận địa pháo của địch. (Tiềm nhập là từ chuyên môn của bộ đội Đặc công, chỉ việc cá nhân di chuyển bí mật tiếp cận vào mục tiêu bằng các kỹ thuật đi khom, bò, trườn...).
Trong chiến đấu Đặc công, việc tiềm nhập vào cứ điểm địch để trinh sát (điều nghiên) là vô cùng quan trọng; là một trong những yếu tố góp phần quyết định sự thành bại của trận đánh. Người được cử vào trinh sát trong đồn địch đòi hỏi phải có sự dũng cảm, mạo hiểm, mưu trí, kiên trì và cụ thể. Đi trinh sát thường là căng thẳng hơn khi thực hành chiến đấu. Trong thực hành chiến đấu, thì có lực lượng và hỏa lực trong tay để đánh trả quân địch. Còn khi đi trinh sát vào trong đồn địch chỉ có ba, bốn anh em đơn lẻ, thân cô thế cô, vũ khí gọn nhẹ, chỉ được dùng khi bị lộ. Trong điều kiện địch bố phòng bằng nhiều lớp rào, nhiều bãi mìn các loại, nhiều vọng gác, nhiều lượt tuần tra, với hệ thống báo động và chiếu sáng nhanh nhậy, việc một tổ trinh sát vượt qua mọi chướng ngại tiếp cận vào giữa sào huyệt địch, đòi hỏi phải có quyết tâm rất cao và phương pháp giỏi. Trong một số trận đánh, để bảo đảm chắc chắn, nhiều khi đòi hỏi phải đi trinh sát đến mấy lần.
Đến 6 giờ tối, sau khi mỗi người ăn hết một bánh lương khô 702, uống no nước suối trong bi đông, trút bỏ những thứ lặt vặt, chúng tôi bắt đầu xuất phát tiềm nhập vào đồn địch. Anh Ngãi và Phết mỗi người một khẩu tiểu liên AK báng gấp, 2 quả lựu đạn mỏ vịt, dao găm. Tôi mang một khẩu súng ngắn K54, hai quả lựu đạn mỏ vịt, dao găm và một cái địa bàn. Từ ngoài, chúng tôi thực hành tiếp cận kiểu sâu đo. Nghĩa là, một người tiếp cận lên phía trước rồi dừng lại lợi dụng địa hình địa vật cảnh giới cho người sau tiến lên. Người sau lại tiến sâu hơn nữa rồi lại làm nhiệm vụ cảnh giới. Cứ thế, đến 7 giờ tối, chúng tôi đã vượt qua hàng rào cây đổ, chạm đến chân hàng rào thép gai đầu tiên. Đây là loại hàng rào thép gai lò xo cánh bướm đường kính khoảng 1 mét. Chồng lên nhau 3 lớp. Lớp dưới có 5 vòng. Lớp giữa có 3 vòng. Lớp trên cùng có 2 vòng. Chiều sâu của hàng rào đến gần 5 mét. Bố trí cậu Phết trinh sát giương súng cảnh giới ở mép rào, tôi và anh Ngãi bắt đầu động tác dùng tay gỡ mìn, chống rào, rồi lại dùng tay dò mìn giữa hàng rào để chui qua. Sau khi tôi và Ngãi đã qua được hàng rào ngoài cùng, làm nhiệm vụ cảnh giới cho Phết chui qua tiếp.
Giữa hàng rào ngoài cùng và hàng rào thứ hai là một bãi trống với chiều sâu khoảng 70 mét, trừ đường tuần tra, còn lại địch cài nhiều mìn sáng và mìn sát thương các loại. Ba anh em chúng tôi vừa dò gỡ mìn vừa trườn lên phía trước. Cứ thế gần một tiếng đồng hồ chúng tôi tới được chân hàng rào thứ hai. Cách tiếp cận giống như qua hàng rào thứ nhất. Nhưng khi mới đưa mình ra khỏi hàng rào, tôi bỗng nghe thấy trong đồn địch rú lên một hồi còi. Tiếp liền theo đó là các loại súng của địch thi nhau bắn xối xả ra ngoài. Quanh chúng tôi đạn súng cối nổ đanh rền, chát chúa; đạn súng bắn thẳng bay chiu chít, ràn rạt, lại có cả những viên đạn vạch đường đỏ lừ.
Ba anh em nằm dí sát mặt đất chỉ ghé mắt nhìn vào trong, nên không ai việc gì. Sự việc này chúng tôi đã lường trước. Theo qui luật, hằng đêm địch vẫn bắn báo động. Khi đi trinh sát, kể cả khi tiềm nhập vào đánh, nếu không bình tĩnh, tưởng bị lộ mà phản ứng là rất nguy hiểm. Chừng 2 phút sau, tiếng súng im bặt, bốn bề lại vắng lặng.
Khi chui qua hàng rào thứ 3 - hàng rào trong cùng - ập vào mũi tôi rặt một mùi đặc trưng khó tả: mùi đồ hộp, thùng các tông, mùi mồ hôi khen khét do ăn nhiều thịt, mùi quần áo lâu ngày không giặt giũ, mùi thuốc lá, mùi kẹo bánh, mùi xà phòng, mùi thuốc súng, mùi cỏ cháy, mùi đất mới đào xới, cây cối mới bị đốn đổ... Các mùi đó quyện vào nhau tạo ra một mùi hỗn tạp gây ngai ngái, hôi hoi, ngây ngấy, ghê ghê, rất dễ bị lợm, buồn nôn. Anh em chúng tôi vẫn nói với nhau đặt tên đó là "mùi Mỹ". Từ ngày vào chiến trường Miền Nam, trong khứu giác của tôi đã hình thành và phân biệt được cái mùi đó. Chính nhờ vậy, trong nhiều trường hợp khi đi trinh sát do ngửi thấy mùi, phát hiện được từ xa, mà chúng tôi thoát khỏi các ổ phục kích ngoại vi căn cứ của lực lượng thám báo Mỹ.
Chui khỏi hàng rào thứ 3, chúng tôi quan sát vào bên trong nhìn thấy rất rõ các lều bạt của quân địch. Liếc đồng hồ đã 2 giờ sáng, tôi ra hiệu cho anh Ngãi và Phết quay ra theo đường cũ. Khi ra, người bò sau cùng phải dùng tay xóa hết dấu vết.
Đến 5 giờ sáng chúng tôi về tới hang đá tập kết. Tôi bàn với anh Ngãi và Phết sẽ tiềm nhập tiếp đêm mai nữa mới có thể hoàn thành nhiệm vụ trinh sát. Mục tiêu cuối cùng là phải vào tận trận địa pháo.
Hôm sau, ba anh em thay nhau ngủ ban ngày, đến 6 giờ tối lại bắt đầu tiềm nhập vào đồn địch. Vì đã biết trước nên đêm thứ hai tốc độ tiềm nhập nhanh hơn. Đến 1 giờ sáng, chúng tôi đã vào được tới trận địa pháo, đặt tay lên thân pháo, đếm được 4 khẩu rồi mới quay ra.
Đêm thứ hai đi trinh sát có hai điều mà sau này tôi vẫn kể cho anh em trong đơn vị nghe và suốt đời tôi không bao giờ quên:
Điều thứ nhất, khi mới rời trận địa pháo, tôi nhìn đồng hồ để căn giờ quay ra, nhưng trời tối đen như mực không thấy gì (hồi đó chúng tôi đang dùng đồng hồ Polzot của Liên Xô, không có dạ quang). Tôi lo trời sáng mà không ra kịp thì nguy. Chợt thấy một đốm lửa nhỏ gần đó thỉnh thoảng lại lóe sáng lên một ít, tôi nghĩ đó là thân cây bị chặt ngang đang cháy dở, ở trên cao chốc chốc gió thổi làm lóe sáng lên. Tôi khẽ khàng vừa bò vừa trườn lại gần để giơ đồng hồ xem giờ. Nhưng khi lại gần sát, thì tôi thấy thân cây đó động đậy rồi di chuyển. Tôi giật mình hú vía. Té ra đó là một tên lính Mỹ da đen đứng gác, cởi trần, đang hút thuốc lá xì gà loại to bằng ngón tay cái. Mỗi lần hắn rít vào thì điếu thuốc đỏ rực lên. May quá, dù gần sát nhau khoảng hơn 1 mét, nhưng tên lính Mỹ da đen không phát hiện được, tôi bình tĩnh nhẹ nhàng trườn lui ra.
Điều thứ hai là, khi ra đến hàng rào ngoài cùng. Thứ tự chui ra: Phết ra trước làm nhiệm vụ cảnh giới, tôi ra thứ hai, anh Ngãi ra sau cùng. 

Khi luồn ra khỏi hàng rào, tôi thấy dâng lên trong người cảm giác khoan khoái lạ thường, gió thổi nhẹ dịu mát, không khí trong lành, bốn bề tĩnh mịch. Từ trên cao nhìn về hướng Đông phía chân trời tôi thấy một màu bàng bạc, trời gần hửng sáng. Ngoái lại, tôi thật lạ lùng là anh Ngãi đang nằm giữa hàng rào trong tư thế quay đầu vào phía trong đồn địch, tay lăm lăm khẩu súng AK và cho chân ra trước. Mà đã cho chân ra trước thì tốc độ chậm lắm. Hết vướng cái nọ lại vướng cái kia. Nhiều khi Ngãi cho hai chân ra hai bên của một vòng rào lò xo cánh bướm. Tôi phải quay lại luồn tay vào gỡ cho Ngãi từng sợi rào, gai rào. Xưa nay, mọi việc ở đời người ta đã khái quát: "đầu có xuôi đuôi mới lọt”, có lẽ xuất phát từ một động tác cụ thể như thế này đây!

Thời gian càng trôi đi, trời sắp sáng đến nơi rồi mà Ngãi vẫn cứ loay hoay trong hàng rào như gà mắc tóc vậy. Tôi sốt ruột lo lắng vô cùng. Sợ nguy hiểm cho cả Tổ trinh sát một phần, nhưng đáng lo hơn là làm lộ, làm lỡ kế hoạch của toàn Tiểu đoàn, nói rộng hơn là toàn Mặt trận.
Khi đã ra xa khỏi đồn địch đến vị trí an toàn, tôi nổi cáu gằn giọng hỏi Ngãi:

- Trời sắp sáng rồi! Ông có điên hay không mà lại chui rào ngược? Ông học ở đâu ra kiểu chui rào đó?!
Thay vì phản ứng giận dỗi, anh Ngãi tươi tỉnh nhỏ nhẹ phân trần:
- Anh không hiểu đấy thôi! Khi Phết và anh chui ra, thì tôi làm nhiệm vụ cảnh giới. Anh và Phết ra ngoài cả rồi, còn lại tôi ra sau phải tự mình vừa cảnh giới, vừa phải xóa dấu vết nữa chứ. Nếu chui xuôi, ngộ nhỡ khi đang chui rào mà có một tốp lính Mỹ đi tuần phát hiện được thì sao? Chắc chắn là nó sẽ đến cầm chân tôi lôi ra như bắt con cá bị mắc lưới ấy chứ!
Nghe Ngãi nói, thấy có lý, chúng tôi cùng cười vui trên đường về chỗ tập kết.

Mấy ngày sau về hậu cứ, trước khi đi đánh, đơn vị chúng tôi tiến hành huấn luyện tập bài trên thao trường mô phỏng (cũng có lô cốt, hàng rào, chiến hào, trận địa pháo ,.. như thật). 

Hôm họp Hội đồng quân nhân thông qua phương án tác chiến trên sa bàn, trong ý kiến phát biểu của mình, tôi nói vui với mọi người là: Anh em cứ yên tâm để chuẩn bị đánh cho tốt. Còn kết quả trinh sát nắm địch thì chắc chắn quá rồi. Chính tôi đã vào tận hầm ngủ của lính Mỹ rồi đấy. Chỉ tiếc là lần này không mang về được một ít thịt hộp như các lần trước. Nhưng sau này, khi vào trinh sát đồn địch, từ kinh nghiệm của chúng tôi, đề nghị mọi người phải lưu ý hai việc: Một là, quan sát thật kỹ, đừng bao giờ nhầm lẫn giữa cây gỗ cháy dở với tên lính Mỹ da đen. Hai là, để bảo đảm an toàn khi quay ra, cần bổ sung khoa mục "chui rào ngược" trong kỹ thuật trinh sát đồn địch của bộ đội Đặc công - và tôi tạm đặt tên khoa mục đó là "Chui rào kiểu ông Ngãi".

Nghe xong, mọi người đều cười.

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018

Bài đăng Báo QĐND, thứ Bảy, ngày 24/3/2018


Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Thượng tướng Trần Sâm (5-4-1918/5-4-2018)

VỊ TƯỚNG TÀI NĂNG, ĐỨC ĐỘ -

NGƯỜI CÁN BỘ LIÊM CHÍNH


                                                   N M Đ

Thượng tướng Trần Sâm, nguyên UVTWĐ ( Khóa IV ), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng, nguyên Cục trưởng Cục Nghiên cứu kỹ thuật quân sự, sinh ngày 5-4-1918, tại làng Duân Kinh, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị - một miền quê gian khó, kiên cường, giàu truyền thống cách mạng. Giác ngộ cách mạng từ rất sớm, năm 20 tuổi, ông được kết nạp vào Đảng, làm giao liên bí mật vận chuyển tài liệu và đưa đón cán bộ của Đảng trên tuyến đường sắt từ miền Trung vào Sài Gòn. Năm 1939, ông bị địch bắt, tra tấn dã man nhưng một lòng trung kiên, không khuất phục.
 Chính quyền thực dân xử án ông tại Nha Trang, lúc ấy ông mới 21 tuổi. Giữa đông đảo người chứng kiến phiên tòa, ông đã dõng dạc tố cáo sự áp bức bóc lột của chế độ thực dân đế quốc, đanh thép tuyên bố quyết tâm, chí hướng làm cách mạng của một người cộng sản. Tòa án thực dân kết án ông 5 năm tù giam và đưa đi đày ở nhà lao Buôn Mê Thuột. Trong lao tù, ông tích cực tham gia phong trào đấu tranh trước sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù.
Năm 1943, ra tù, ông lại tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Kiến thức và kinh nghiệm học được trong tù đã giúp ông rất nhiều trong công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Năm 1945, ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở tỉnh Quảng Trị. Ông Trần Sâm được bầu làm Tỉnh ủy viên và là Ủy viên Ủy ban kháng chiến tỉnh Quảng Trị. Ngày 23-8-1945, tại Quảng Trị, Chi đội Giải phóng quân Thiện Thuật được thành lập (sau đó đổi tên thành Trung đoàn 95). Đầu năm 1946, ông được giao giữ chức Chính ủy đầu tiên của Trung đoàn 95 chiến đấu bảo vệ Quảng Trị. Năm 1948, cấp trên điều động ông vào Thừa Thiên giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, tham gia Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế. Trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, ông đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu nhiều trận. Đặc biệt là, trận Hói Mít-Lăng Cô, diễn ra ngày 12-1-1949, ông trực tiếp chỉ huy phục kích tiêu diệt gọn cả đoàn tàu chở quân số và vũ khí của địch, bắt nhiều tù binh. Trận đánh đó có sức cổ vũ mạnh mẽ quân dân toàn Liên khu 4. Sau này, được Từ điển Quân sự Việt Nam xếp vào những trận đánh tiêu biểu trong thời kỳ chống Pháp. Tháng 10-1949, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Mặt trận Bình Trị Thiên - Trung Lào, ông Trần Sâm được giao làm Phó Chỉ huy. Tháng 12-1950, khi mới 32 tuổi, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4. Năm 1953, cấp trên điều động ông về Bộ Tổng Tham mưu, giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Cục trưởng Cục Quân lực kiêm Trưởng ban Quân lực Mặt trận…
 Năm 1959, ông Trần Sâm được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1961, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng. Tiếp đó, từ năm 1963 đến 1965, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Khi Bộ Quốc phòng thành lập Cục Nghiên cứu kỹ thuật quân sự (nay là Viện Khoa học và Công nghệ quân sự), ông được giao kiêm Cục trưởng. Năm 1974, ông được thăng quân hàm Trung tướng. Từ năm 1976 đến năm 1982, ông được Trung ương điều động giữ chức Bộ trưởng Bộ Vật tư. Tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1976), ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương. Cuối năm 1982, ông trở lại quân đội với cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến năm 1986, ông được thăng quân hàm Thượng tướng. 
Thượng tướng Trần Sâm là một cán bộ tài năng, đức độ, liêm chính. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông được giao nhiệm vụ trong nhiều lĩnh vực: Chính trị, tham mưu, hậu cần, kỹ thuật, kinh tế… và nhiệm vụ nào ông cũng hoàn thành tốt. Ông là một trong những điển hình của mẫu cán bộ chí công, vô tư. Mang quân hàm cấp tướng mấy chục năm, lại hơn 6 năm làm Bộ trưởng Bộ Vật tư - cơ quan quản lý, phân phối một khối lượng lớn vật tư kỹ thuật của đất nước trong cơ chế bao cấp hiện vật - vậy mà gia đình ông cũng sống rất bình dị. Hồi đó, như phần lớn gia đình cán bộ, công chức, khi tiền lương không đủ trang trải cuộc sống và nuôi 5 người con ăn học, ông bà phải tăng gia cải thiện thêm. Hàng chục năm liên tục, gia đình ông cứ nuôi xong lứa lợn này mua tiếp lứa khác. Phía sau nhà còn có mấy chuồng gà, ngoài sân đặt chuồng chim bồ câu. Khoảnh đất trống trước nhà được cuốc xới cẩn thận biến thành mảnh vườn, trồng đủ các loại rau, khoai, mía và cây ăn quả tốt tươi. Có lần ông huy động con trai, con rể và mấy anh em công vụ tranh thủ ngày nghỉ đào ao thả cá… Nhiều lần trước khi vào bệnh viện thăm người ốm hoặc thăm gia đình liệt sĩ, thăm thương binh, ông ra vườn cắt nải chuối, hái quả đu đủ, chum nho, chùm vải thiều, quả hồng xiêm làm quà... Nhiều lần đi công tác nước ngoài, khi về nước ông yêu cầu thư ký nộp lại cơ quan số tặng phẩm phía bạn tặng như đài bán dẫn, máy ảnh… để đơn vị dùng chung;  trái cây, thuốc lá… thì làm quà chia đều cho anh em trong cơ quan. Ông cho rằng, khi cán bộ ra nước ngoài mang tặng phẩm của quân đội để tặng bạn, thì khi nhận lại những tặng phẩm bạn tặng, đương nhiên đó không phải là của riêng mình…
Thời gian trong quân đội cũng như khi làm Bộ trưởng Bộ Vật tư, ông Trần Sâm là người rất nghiêm khắc, thậm chí là khó tính với việc tổ chức liên hoan linh đình, ăn uống tốn kém khi tổ chức hội nghị. Có lần tổ chức Hội nghị mừng công Bộ Vật tư, văn phòng đề nghị mở tiệc, ông chỉ chấp thuận mỗi đại biểu một bát phở tăng cường. Khi là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, có lần đến làm việc với Bộ tư lệnh Không quân về quy hoạch sử dụng máy bay, vũ khí trang bị kỹ thuật, các đồng chí trong Bộ tư lệnh mời ông ở lại dùng cơm trưa, ông bảo “bà nhà tôi nấu rồi, tôi về ăn trưa cùng gia đình, đến chiều ta làm tiếp”. Ông không bao giờ gây phiền phức cho đơn vị, cho người khác và nhất là không lãng phí, tốn kém công quỹ. Tính cách ông là vậy!
Năm 1982, khi chuyển công tác từ Bộ Vật tư trở lại Bộ Quốc phòng, ông Trần Sâm có hai việc cần làm ngay: Đầu tiên là lục lại mấy bộ quân phục sờn cũ hơn 6 năm không dùng đến, đem giặt giũ để mặc lại. Tiếp đến, trong nhà có sẵn một khung xe đạp Favorit, ông ra hiệu mua phụ tùng rồi dành hẳn ngày Chủ nhật tự tay lắp ráp thành một chiếc xe hoàn chỉnh. Từ đó, hằng ngày từ nhà riêng ở 30 phố Lý Nam Đế, ông đạp xe vào Sở chi huy Bộ Quố phòng. Hầu như không bao giờ ông dùng xe ô tô công vào việc gia đình. Tôi không thể quên lần cháu ngoại của ông Trần Sâm mới gần 2 tuổi, đang đêm bị sốt cao, tím tái, lên cơn co giật. Thấy thế, đồng chí bảo vệ của ông xin cho mượn ô tô đưa cháu đi cấp cứu ở Quân y viện 108. Ông chạy đến sờ đầu cháu suýt xoa, nói “thôi, phải đưa cháu đi ô tô cho kịp cấp cứu và nhớ là đưa xe về ngay”.
Với con cháu, ông Trần Sâm là người nhân từ, tình cảm, sâu sắc. Trong cư xử, ông luôn có thái độ trầm tĩnh, chú ý lắng nghe, khuyên bảo ân tình, gợi mở các phương án cho con cháu chủ động tự lựa chọn cách giải quyết. Trước mọi vấn đề, không bao giờ ông can thiệp, áp đặt vào việc riêng của người khác.Trường hợp con cháu có điều gì làm trái, ông đều nhẹ nhàng từ tốn bảo ban, phân tích thấu đáo; tuyệt nhiên không bao giờ to tiếng quát nạt. Con cái, dâu rể và các cháu nội ngoại trong gia đình thường xuyên nhận được ở ông sự chỉ bảo ân tình, bao dung, nhân từ. Mọi người đều tôn kính, thương yêu và quý trọng ông, luôn coi ông là chỗ dựa tinh thần.
Tháng 11 / 1992, ông nghỉ hưu theo chế độ. Sau khi nghỉ hưu, ông thường xuyên quan tâm theo dõi, đau đáu tình cảm với quê hương. Ông đã gom góp dành dụm tiền lương hưu để tham gia Quỹ Khuyến học của địa phương; mua tặng bà con xã nhà : máy phát điện, hệ thống truyền thanh, bộ máy vi tính, tủ sách, giống cây trồng. Ông cùng anh em cán bộ, nhân viên  kỹ thuật ngồi xe tải đi từ Hà Nội qua hơn 600 trăm cây số chở máy phát điện, hệ thống truyền thanh về lắp đặt cho xã nhà.
Tuổi cao, bệnh trọng, Thượng tướng Trần Sâm từ trần ngày 13 tháng 8 năm 2009 (tức ngày 23 tháng 6 năm Kỷ Sửu). Cả đời hoạt động cách mạng, toát lên ở ông một con người trong sáng, mẫu mực, vừa có đức độ, vừa có năng lực, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, vì nước vì dân.
Tấm Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công Hạng Nhất, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương, danh hiệu vinh dự khác là phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước và nhân dân trao tặng xứng đáng với công lao của ông!