Menu ngang

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018

Bài đăng Báo QĐND, thứ Bảy, ngày 24/3/2018


Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Thượng tướng Trần Sâm (5-4-1918/5-4-2018)

VỊ TƯỚNG TÀI NĂNG, ĐỨC ĐỘ -

NGƯỜI CÁN BỘ LIÊM CHÍNH


                                                   N M Đ

Thượng tướng Trần Sâm, nguyên UVTWĐ ( Khóa IV ), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng, nguyên Cục trưởng Cục Nghiên cứu kỹ thuật quân sự, sinh ngày 5-4-1918, tại làng Duân Kinh, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị - một miền quê gian khó, kiên cường, giàu truyền thống cách mạng. Giác ngộ cách mạng từ rất sớm, năm 20 tuổi, ông được kết nạp vào Đảng, làm giao liên bí mật vận chuyển tài liệu và đưa đón cán bộ của Đảng trên tuyến đường sắt từ miền Trung vào Sài Gòn. Năm 1939, ông bị địch bắt, tra tấn dã man nhưng một lòng trung kiên, không khuất phục.
 Chính quyền thực dân xử án ông tại Nha Trang, lúc ấy ông mới 21 tuổi. Giữa đông đảo người chứng kiến phiên tòa, ông đã dõng dạc tố cáo sự áp bức bóc lột của chế độ thực dân đế quốc, đanh thép tuyên bố quyết tâm, chí hướng làm cách mạng của một người cộng sản. Tòa án thực dân kết án ông 5 năm tù giam và đưa đi đày ở nhà lao Buôn Mê Thuột. Trong lao tù, ông tích cực tham gia phong trào đấu tranh trước sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù.
Năm 1943, ra tù, ông lại tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Kiến thức và kinh nghiệm học được trong tù đã giúp ông rất nhiều trong công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Năm 1945, ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở tỉnh Quảng Trị. Ông Trần Sâm được bầu làm Tỉnh ủy viên và là Ủy viên Ủy ban kháng chiến tỉnh Quảng Trị. Ngày 23-8-1945, tại Quảng Trị, Chi đội Giải phóng quân Thiện Thuật được thành lập (sau đó đổi tên thành Trung đoàn 95). Đầu năm 1946, ông được giao giữ chức Chính ủy đầu tiên của Trung đoàn 95 chiến đấu bảo vệ Quảng Trị. Năm 1948, cấp trên điều động ông vào Thừa Thiên giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, tham gia Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế. Trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, ông đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu nhiều trận. Đặc biệt là, trận Hói Mít-Lăng Cô, diễn ra ngày 12-1-1949, ông trực tiếp chỉ huy phục kích tiêu diệt gọn cả đoàn tàu chở quân số và vũ khí của địch, bắt nhiều tù binh. Trận đánh đó có sức cổ vũ mạnh mẽ quân dân toàn Liên khu 4. Sau này, được Từ điển Quân sự Việt Nam xếp vào những trận đánh tiêu biểu trong thời kỳ chống Pháp. Tháng 10-1949, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Mặt trận Bình Trị Thiên - Trung Lào, ông Trần Sâm được giao làm Phó Chỉ huy. Tháng 12-1950, khi mới 32 tuổi, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4. Năm 1953, cấp trên điều động ông về Bộ Tổng Tham mưu, giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Cục trưởng Cục Quân lực kiêm Trưởng ban Quân lực Mặt trận…
 Năm 1959, ông Trần Sâm được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1961, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng. Tiếp đó, từ năm 1963 đến 1965, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Khi Bộ Quốc phòng thành lập Cục Nghiên cứu kỹ thuật quân sự (nay là Viện Khoa học và Công nghệ quân sự), ông được giao kiêm Cục trưởng. Năm 1974, ông được thăng quân hàm Trung tướng. Từ năm 1976 đến năm 1982, ông được Trung ương điều động giữ chức Bộ trưởng Bộ Vật tư. Tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1976), ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương. Cuối năm 1982, ông trở lại quân đội với cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến năm 1986, ông được thăng quân hàm Thượng tướng. 
Thượng tướng Trần Sâm là một cán bộ tài năng, đức độ, liêm chính. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông được giao nhiệm vụ trong nhiều lĩnh vực: Chính trị, tham mưu, hậu cần, kỹ thuật, kinh tế… và nhiệm vụ nào ông cũng hoàn thành tốt. Ông là một trong những điển hình của mẫu cán bộ chí công, vô tư. Mang quân hàm cấp tướng mấy chục năm, lại hơn 6 năm làm Bộ trưởng Bộ Vật tư - cơ quan quản lý, phân phối một khối lượng lớn vật tư kỹ thuật của đất nước trong cơ chế bao cấp hiện vật - vậy mà gia đình ông cũng sống rất bình dị. Hồi đó, như phần lớn gia đình cán bộ, công chức, khi tiền lương không đủ trang trải cuộc sống và nuôi 5 người con ăn học, ông bà phải tăng gia cải thiện thêm. Hàng chục năm liên tục, gia đình ông cứ nuôi xong lứa lợn này mua tiếp lứa khác. Phía sau nhà còn có mấy chuồng gà, ngoài sân đặt chuồng chim bồ câu. Khoảnh đất trống trước nhà được cuốc xới cẩn thận biến thành mảnh vườn, trồng đủ các loại rau, khoai, mía và cây ăn quả tốt tươi. Có lần ông huy động con trai, con rể và mấy anh em công vụ tranh thủ ngày nghỉ đào ao thả cá… Nhiều lần trước khi vào bệnh viện thăm người ốm hoặc thăm gia đình liệt sĩ, thăm thương binh, ông ra vườn cắt nải chuối, hái quả đu đủ, chum nho, chùm vải thiều, quả hồng xiêm làm quà... Nhiều lần đi công tác nước ngoài, khi về nước ông yêu cầu thư ký nộp lại cơ quan số tặng phẩm phía bạn tặng như đài bán dẫn, máy ảnh… để đơn vị dùng chung;  trái cây, thuốc lá… thì làm quà chia đều cho anh em trong cơ quan. Ông cho rằng, khi cán bộ ra nước ngoài mang tặng phẩm của quân đội để tặng bạn, thì khi nhận lại những tặng phẩm bạn tặng, đương nhiên đó không phải là của riêng mình…
Thời gian trong quân đội cũng như khi làm Bộ trưởng Bộ Vật tư, ông Trần Sâm là người rất nghiêm khắc, thậm chí là khó tính với việc tổ chức liên hoan linh đình, ăn uống tốn kém khi tổ chức hội nghị. Có lần tổ chức Hội nghị mừng công Bộ Vật tư, văn phòng đề nghị mở tiệc, ông chỉ chấp thuận mỗi đại biểu một bát phở tăng cường. Khi là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, có lần đến làm việc với Bộ tư lệnh Không quân về quy hoạch sử dụng máy bay, vũ khí trang bị kỹ thuật, các đồng chí trong Bộ tư lệnh mời ông ở lại dùng cơm trưa, ông bảo “bà nhà tôi nấu rồi, tôi về ăn trưa cùng gia đình, đến chiều ta làm tiếp”. Ông không bao giờ gây phiền phức cho đơn vị, cho người khác và nhất là không lãng phí, tốn kém công quỹ. Tính cách ông là vậy!
Năm 1982, khi chuyển công tác từ Bộ Vật tư trở lại Bộ Quốc phòng, ông Trần Sâm có hai việc cần làm ngay: Đầu tiên là lục lại mấy bộ quân phục sờn cũ hơn 6 năm không dùng đến, đem giặt giũ để mặc lại. Tiếp đến, trong nhà có sẵn một khung xe đạp Favorit, ông ra hiệu mua phụ tùng rồi dành hẳn ngày Chủ nhật tự tay lắp ráp thành một chiếc xe hoàn chỉnh. Từ đó, hằng ngày từ nhà riêng ở 30 phố Lý Nam Đế, ông đạp xe vào Sở chi huy Bộ Quố phòng. Hầu như không bao giờ ông dùng xe ô tô công vào việc gia đình. Tôi không thể quên lần cháu ngoại của ông Trần Sâm mới gần 2 tuổi, đang đêm bị sốt cao, tím tái, lên cơn co giật. Thấy thế, đồng chí bảo vệ của ông xin cho mượn ô tô đưa cháu đi cấp cứu ở Quân y viện 108. Ông chạy đến sờ đầu cháu suýt xoa, nói “thôi, phải đưa cháu đi ô tô cho kịp cấp cứu và nhớ là đưa xe về ngay”.
Với con cháu, ông Trần Sâm là người nhân từ, tình cảm, sâu sắc. Trong cư xử, ông luôn có thái độ trầm tĩnh, chú ý lắng nghe, khuyên bảo ân tình, gợi mở các phương án cho con cháu chủ động tự lựa chọn cách giải quyết. Trước mọi vấn đề, không bao giờ ông can thiệp, áp đặt vào việc riêng của người khác.Trường hợp con cháu có điều gì làm trái, ông đều nhẹ nhàng từ tốn bảo ban, phân tích thấu đáo; tuyệt nhiên không bao giờ to tiếng quát nạt. Con cái, dâu rể và các cháu nội ngoại trong gia đình thường xuyên nhận được ở ông sự chỉ bảo ân tình, bao dung, nhân từ. Mọi người đều tôn kính, thương yêu và quý trọng ông, luôn coi ông là chỗ dựa tinh thần.
Tháng 11 / 1992, ông nghỉ hưu theo chế độ. Sau khi nghỉ hưu, ông thường xuyên quan tâm theo dõi, đau đáu tình cảm với quê hương. Ông đã gom góp dành dụm tiền lương hưu để tham gia Quỹ Khuyến học của địa phương; mua tặng bà con xã nhà : máy phát điện, hệ thống truyền thanh, bộ máy vi tính, tủ sách, giống cây trồng. Ông cùng anh em cán bộ, nhân viên  kỹ thuật ngồi xe tải đi từ Hà Nội qua hơn 600 trăm cây số chở máy phát điện, hệ thống truyền thanh về lắp đặt cho xã nhà.
Tuổi cao, bệnh trọng, Thượng tướng Trần Sâm từ trần ngày 13 tháng 8 năm 2009 (tức ngày 23 tháng 6 năm Kỷ Sửu). Cả đời hoạt động cách mạng, toát lên ở ông một con người trong sáng, mẫu mực, vừa có đức độ, vừa có năng lực, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, vì nước vì dân.
Tấm Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công Hạng Nhất, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương, danh hiệu vinh dự khác là phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước và nhân dân trao tặng xứng đáng với công lao của ông!








Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2018

MẤY CẢM NHẬN KHI ĐỌC HỒI KÝ

CỦA THIẾU TƯỚNG LÊ HUY MAI

                                       Nguyễn Mạnh Đẩu

Tháng 7 năm 2017, trong cuộc Gặp Mặt truyền thống Cựu Chiến binh Sư đoàn 324, anh Lê Huy Mai chuyển cho tôi bản thảo ngót 500 trang tập Hồi ký “ Từ châu thổ sông Hồng đến sông Hương xứ Huế ”. Và anh có nhờ tôi đọc, tham gia góp ý với anh cả về nội dung, bố cục cũng như văn phong.
Tôi biết anh Lê Huy Mai từ giữa năm 1970, khi đơn vị chúng tôi chiến đấu ở vùng A Lưới ( Thừa Thiên Huế ). Vào một buổi chiều, với cương vị là Chính trị viên Đại đội Đặc công Trung đoàn 3 Sư đoàn 324, tôi đến làm việc với anh Cao Sỹ Nguyên Trưởng Tiểu ban Trinh sát Trung đoàn. Tại đây, tôi gặp một cán bộ có dáng người cao gầy, nước da đen xạm - dấu hiệu do sốt rét rừng nhiều năm. Anh Nguyên giới thiệu, đây là anh Lê Huy Mai, Trưởng Tiểu ban Trinh sát của Trung đoàn 1, Sư đoàn ta. Là người cùng trưởng thành từ trinh sát đặc công, đồng cảm những đặc điểm tính chất nhiệm vụ, chúng tôi thân thiết nhau từ ngày đầu gặp gỡ. Từ đó, nhất là mấy chục năm sau khi anh Lê Huy Mai đảm nhiệm chức danh Phó Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng, chúng tôi có nhiều lần làm việc với nhau. Sau khi nghỉ hưu, tôi và anh càng gắn bó hơn trong hoạt động của Hội Truyền thống Cựu chiến binh Quân khu Trị Thiên và Cựu chiến binh Sư đoàn 324.
Ngần ấy năm quen thân, trong cảm nhận của tôi, anh Lê Huy Mai là một cán bộ quân sự xông xáo, nhiệt tình, dũng cảm, thông minh, quyết đoán, bản lĩnh vững vàng, có bề dày thành tích trong chỉ huy đơn vị cũng như trong công tác tham mưu trinh sát. Anh là người có nhân cách trong sáng và phong cách quan hệ tốt.
Hồi ký “ Từ châu thổ sông Hồng đến Sông Hương xứ Huế ” của anh Lê Huy Mai là sự tái hiện một cách sinh động, trung thực, chi tiết với nhiều tư liệu rất quý - nhất là quãng thời gian từ khi anh đặt chân vào chiến trường Quảng Trị và thời kỳ hoạt động ở Thừa Thiên Huế. Trên từng trang sách mà anh Lê Huy Mai kể và tả về những địa danh, những nhân chứng của một thời hoa lửa hào hùng, gian khổ, hy sinh, thì tôi cảm thấy như có thấp thoáng bóng hình mình trong đó. Bởi lẽ, là người cùng đơn vị với anh, nhiều nơi tôi đã chứng kiến, nhiều con người tôi đã biết, trong cùng hoàn cảnh tương đồng.
Đọc Hồi ký của anh Lê Huy Mai, tôi có cảm tưởng như đây không còn là câu chuyện thuần nhất về hồi ức của cá nhân tác giả, mà trong đó mang dáng dấp  những trang lịch sử mang tính văn học của một Đơn vị anh hùng - Đó là Trung đoàn 1, là Sư đoàn 324. Hồi ký đã phản ánh khá đầy đủ về hoạt động chiến đấu đầy gian khổ hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Phân đội Trinh sát Trung đoàn 1 Sư đoàn 324 và các đơn vị chiến đấu trong đội hình Trung đoàn, Sư đoàn - Trong số đó có nhiều tấm gương tiêu biểu xuất sắc về hành động dũng cảm trong chiến đấu và tình nghĩa đồng đội thủy chung, mang tính nhân văn sâu sắc. Có thể nói rằng, tất cả những chuyện anh Lê Huy Mai kể về các hoạt động của anh, về đồng đội, kể cả những người thuộc thế hệ đàn anh, đó như những bức tranh chân thực mang các gam màu của cuộc chiến đấu sinh tử quyết liệt trên chiến trường Trị Thiên trong những năm đánh Mỹ.
Bao giờ và ở đâu cũng vậy, trong chiến công tập thể đơn vị, đều có chiến công mang dấu ấn của từng con người cụ thể. Thành tích to lớn của Trung đoàn 1 và Sư đoàn 324 trong thời kỳ đánh Mỹ được Nhà nước tuyên dương Đơn vị anh hùng là kết tinh từ hy sinh xương máu và trí lực của cán bộ, chiến sỹ thuộc nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Và trong số đó, theo tôi, anh Lê Huy Mai trên từng cương vị đã có những đóng góp xuất sắc đáng kể. Thực tế lịch sử chỉ rõ, đơn vị chủ lực đầu tiên của quân đội ta tham chiến với lực lượng Thủy quân lục chiến của quân đội Mỹ trên chiến trường Đường 9 Quảng Trị là Sư đoàn 324 Quân khu 4. Trước khi đơn vị bước vào chiến đấu, thì anh Lê Huy Mai cùng tổ trinh sát là những người đầu tiên có mặt ở chiến trường và đã đánh nhau với quân thám báo Mỹ ngay từ thời đó. Trong suốt gần 10 năm liên tục ở chiến trường, từ tháng 3/1966 đến tháng 4/1975, từ chiến sỹ Trinh sát, trưởng thành qua các cấp sau từng mùa chiến dịch, cho đến Trưởng ban Trinh sát Sư đoàn 324, anh Lê Huy Mai đã không quản ngại gian khổ hy sinh, dũng cảm mưu trí, lập được nhiều chiến công xuất sắc.
Vốn là chiến sĩ Trinh sát rồi trưởng thành lên cán bộ Đại đội Đặc công, không ít lần tôi đã cùng đồng đội luồn qua nhiều lớp hàng rào, bãi mìn vào đồn địch để trinh sát điều nghiên. Và cũng có lúc - ít thôi, vào mùa Hè năm 1967 -  tôi đã cùng mấy anh em vào trinh sát vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Quảng Trị. Bởi vậy, tôi rất thấu hiểu và có phần thán phục anh Lê Huy Mai trong nhiều sự kiện. Trong đó, phải kể đến thời điểm anh dũng cảm vào điều nghiên trinh sát Cứ điểm Cồn Tiên, trực tiếp chỉ huy đội mở cửa đánh lấn Cứ điểm Cồn Tiên, chỉ huy tổ Trinh sát kiên cường dũng cảm giữ chốt Cồn Hụ - cạnh Cồn Tiên - đánh tan nhiều đợt tấn công của một đại đội Thủy quân lục chiến Mỹ trong điều kiên vô cùng ác liệt. Đặc biệt là, sau Chiến dịch Tổng tấn công Mậu Thân 1968, anh Lê Huy Mai được Thủ trưởng Trung đoàn 1 giao nhiệm vụ chỉ huy Phân đội trinh sát 10 người quay lại đồng bằng tỉnh Thừa Thiên để móc nối bắt liên lạc, phối hợp cùng cơ sở và du kích địa phương tìm kiếm đưa được hơn 100 thương binh đang được nhân dân cưu mang che chở, đưa về vùng giải phóng. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nguy hiểm: Khi đó hầu như toàn bộ đồng bằng Thừa Thiên đều đã bị quân địch tái chiếm. Các cơ sở bí mật của cách mạng đã bị phá vỡ. Lực lượng du kích rất mỏng, lại bị phân tán. Kẻ địch dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm, độc ác trong việc săn lùng bắt bớ. Trong suốt quá trình 5 tháng về lăn lộn ở vùng địch để thực hiện nhiệm vụ này, đã có 6 trên 10 đồng chí của Phân đội trinh sát hy sinh.
Khi đọc Hồi ký và tìm hiểu cụ thể về anh Lê Huy Mai, tôi có một điều băn khoăn, trăn trở là tại sao một con người có bề dày thành tích, lập được nhiều chiến công xuất sắc đến như vậy mà chưa được tuyên dương Anh hùng LLVTND.  
Thông thường thì, đối với người đọc nói chung và những người đã trải qua những năm tháng chiến tranh nói riêng, thì điều hấp dẫn đích thực của Hồi ký trong chiến đấu phải là sự trung thực, khách quan của tác giả khi kể lại, tả lại các sự kiện, các trận chiến đấu. Không ai được hư cấu khi viết hồi ký. Rồi nữa, dẫu là nhân vật trung tâm, đóng vai trò là người dẫn chuyện, nhưng tác giả không bao giờ được đề cao cái tôi trong tất cả mọi chuyện. Cuốn hồi ký “Từ châu thổ sông Hông đến sông Hương xứ Huế ” của anh Lê Huy Mai được viết bởi chính người trong cuộc với ngồn ngộn tư liệu, con người, sự việc được trình bày một cách chân thực, trần trụi, sinh động và thật như nó vốn có. Không tô hồng và cũng không có ý làm văn, không nặng về câu chữ. Bằng lối viết dung dị, chân thực, sinh động, phong phú, rất hấp dẫn đối với người đọc.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta đã kết thúc hơn 40 năm. Trong nhiều năm qua, đồng thời với các tác phẩm văn học nghệ thuật,  nhiều tập hồi ký đã tái hiện một cách sinh động, chân thực, hấp dẫn về cuộc chiến đấu trường kỳ, quyết liệt, gian khổ mà hào hùng của quân và dân ta. Trước hết, đó là những lời tri ân đối với sự hy sinh to lớn của nhiều thế hệ; là sự phản ánh phong phú trên từng góc nhìn về một thời kỳ lịch sử vẻ vang; Đồng thời, qua đây góp phần cung cấp cho bạn đọc những điều cần thiết. Với suy nghĩ đó, tôi cho rằng, Hồi ký “ Từ châu thổ Sông Hông đến sông Hương xứ Huế ” của anh Lê Huy Mai là một cuốn sách quí!
Tôi quan niệm cuốn Hồi ký “ Từ châu thổ sông Hồng đến sông Hương xứ Huế ” vừa là bản trích yếu lý lịch bằng văn chương của Thiếu tướng Lê Huy Mai trên những nẻo đường quân ngũ, vừa là đứa con tinh thần quý báu của anh trao lại cho đời, cho gia đình, đồng đội, bạn bè và bạn đọc xa gần.
Với tư cách là đồng đội cùng đơn vị cũ - được coi như một nhân chứng của một thời sôi động đầy gian khổ hy sinh mà ấm áp tình người - tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc Hồi ký của Thiếu tướng Lê Huy Mai.

Mỹ Đình, rằm Tháng Chạp năm Đinh Dậu


                         N M Đ       

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

            TẬP THƠ LÀ CẢ MỘT TẤM LÒNG



                                      Nguyễn Mạnh Đẩu


Với sự đồng cảm thân quý, trong Lễ kỷ niệm 73 năm Ngày thành lập QĐNDVN, 22/12/2017, tại Tổng công ty 36 Bộ Quốc phòng, Đại tá PGS TS Vũ Đăng Hiến chuyển tôi bản thảo tập thơ mang tựa đề “ MÀU CÁT TUỔI THƠ ” của anh. Và anh tin tưởng đề nghị tôi viết Lời Giới Thiệu trước khi gửi đến Nhà xuất bản. Tôi thật sự lo lắng khả năng văn chương hạn chế của mình khi đặt bút viết về tập thơ của anh. Tôi đã dành thời gian đọc kỹ bản thảo dày 125 trang với 120 bài thơ khá hay do anh chọn lựa trong số bài viết từ nhiều năm trước, gồm nhiều chủ đề và nhiều thể loại thi pháp.
Vũ Đăng Hiến sinh ra ở làng Long Trảo ( Nghi Khánh, Nghi Lộc, Nghệ An ) - một làng có truyền thống lịch sử văn hóa và hiếu học - cách làng Đại Xá quê tôi chỉ một cánh đồng. Lớn lên từ một miền quê bên bờ biển Cửa Lò chất đầy kỷ niệm tuổi thơ gắn liền với cát trắng. Phải chăng vì thế mà Vũ Đăng Hiến đã chọn tên tập thơ là MÀU CÁT TUỔI THƠ. Cũng như ngay từ đầu sách, tác giả giả đã đưa ra Lời nguyện : “ Tôi xin nguyện mãi là hạt cát / Gửi mình nơi bãi biển quê hương / Để sớm tối rì rào nghe biển hát / Câu dặm quê nhà muối mặn, gừng cay”.
Năm 1974, tròn 20 tuổi, Vũ Đăng Hiến lên đường tòng quân vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam, tiếp đến là chiến đấu vì nghĩa vụ quốc tế tại chiến trường Cămpuchia, rồi sau đó được tuyển chọn về Hà Nội đào tạo Sĩ quan chỉ huy tham mưu Học viện Hậu cần Bộ Quốc phòng. Với phẩm chất tốt, được rèn luyện thử thách qua thực tiễn chiến đấu, lại có kết quả tốt nghiệp thuộc loại giỏi, anh được giữ làm Giảng viên, rồi từng bước trưởng thành lên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Hậu cần quân sự. Qua tuổi học trò trên quê hương yêu dấu, rồi 40 năm trong binh nghiệp - từ chiến trường đến nhà trường - tạo nên cho Vũ Đăng Hiến chất liệu một cuộc sống sôi động, phong phú, thi vị và được anh đã chắt lọc gửi gắm vào những trang thơ hào sảng, thi vị, trữ tình.
Thơ là tiếng nói của cõi lòng được chắt ra, thốt lên từ trong sâu thẳm nội tâm của tác giả nhằm sẻ chia như một điều tâm tình với người thân, bè bạn và công chúng. Đó là nhu cầu tự nhiên của những người làm thơ, Vũ Đăng Hiến không là ngoại lệ. Sự đa cảm của tâm hồn thi nhân giao hòa với với cảnh vật tạo nên những bài thơ hay. Thơ Vũ Đăng Hiến là tiếng nói của tình yêu chân thành đối với gia đình, quê hương, đất nước. Mà trước hết, ấn tượng sâu đậm nhất là sự thi vị của tình yêu lứa đôi nồng nàn, mãnh liệt, đắm say.
Dẫu xa quê hơn 40 năm trời gắn với cuộc đời binh nghiệp, nhưng hồn thơ của anh vẫn luôn đau đáu hướng về gia đình và quê hương yêu dấu. Ở đời, con người ta có quyền chọn lựa nhiều thứ, nhưng có hai thứ do tạo hóa sắp đặt ban phát không ai có thể chọn lựa được, đó là: Cha mẹ và Quê hương. Chính vì vậy, đức hiếu nghĩa với cha mẹ và tình yêu đối với quê hương là nền tảng cội nguồn cảm hứng của Vũ Đăng Hiến. Anh đã dành những vần thơ da diết, thiết tha và trữ tình khi khi viết cha mẹ và quê hương mình:
“ Một cội tám cành hoa trái ngọt / Ba miền sum họp giữa ngày xuân / Cung chúc Thung - Huyên tuổi thất tuần / Trường thọ khang sinh mãi mãi xuân”.
( MỪNG MẸ CHA TUỔI BAY MƯƠI )
“ Cha nằm trên đất quê nhà / Bao vòng hao đã làm nhòa mắt con / Chẳng tin cha mất hay còn / Nỗi đau cha mất héo hon cuộc đời / Nỗi buồn lãnh lẽo chơi vơi / Đường quê cát bỏng giữa trời nắng mưa”. “ Cúi đầu thắp một nén nhang / Mong cha phù hộ trên ngàn bước đi”.
( KHÓC CHA )
“ Tuổi thơ nghe tiếng mẹ ru / Ầu ơ cánh võng những trưa gió lào / Một đời vất vả gian lao / Còng lưng trên ruộng cùng bao việc nhà / Nghe trong khúc hát dân ca / Cánh cò lặn lội đồng xa đồng gần / Vai gầy mẹ gánh gia truân / Tiễn con ra trân mấy lần mẹ ơi / Con đi khắp bốn phương trời / Mới về bên mẹ nghe lời mẹ ru / Còn đâu cánh võng tuổi thơ / Nằm trong ký ức bao giờ nhạt phai”.
( TÌNH MẸ )

“ Cửa Lò chiều nay biển dâng nỗi nhớ / Câu hát xưa …mô tê, răng rứa…/ Tôi đi tìm điệu ví dặm thương nhau / Bao năm rồi em phiêu dạt nơi đâu / Để con sóng bạc đầu thương nhớ / Chuyện nhân gian chuyến đò xưa cách trở / Trái tim ngủ quên tình yêu đâu còn nữa / Anh trở về sau bao cuộc bể dâu / Trái tim ngủ quên, trái tim bừng tỉnh dậy / Hạnh phúc về bên cửa sổ nhỏ nhoi”.
(CHIỀU CỬA LÒ )

Cũng như mọi loại hình văn học, thơ là sự phản ảnh hiện thực đời sống muôn màu, muôn vẻ. Trong tập thơ của Vũ Đăng Hiến chúng ta bắt gặp nhiều hình ảnh, nhiều tình cảnh. Từ ngày bước chân vào quân ngũ, giống như tâm trạng của bao chàng lính trẻ xếp bút nghiên lên đường chiến đấu, Vũ Đăng Hiến đã có bài thơ ghi lại cảm xúc của mình :
“ Đêm nằm thương mẹ nhớ cha / Rì rào con sóng mơ xa vọng vể / Ra đi nặng một lời thề / Miền nam giải phóng mới về quê hương / Đêm nay ngủ lại Trường Sơn / Chập chờn tỉnh giấc con đường còn xa …”.
( NGÀY NHẬP NGŨ )

Sau khi kết kết thúc chiến tranh, tác giả có dịp trở lại thăm trận địa cũ:
“ Tôi về thăm trận địa năm xưa / Nay bát ngát xanh vùng kinh tế mới / Ôi đã qua những ngày lửa khói / Đã qua rồi ngủ đất nằm sương / Nghe xôn xao những kỷ niệm chiến trường”.
( THĂM LẠI TRẬN ĐỊA CŨ )

Tác giả đã dành nhiều bài thơ viết về bạn học, về ngôi trường, về thầy cô giáo cũ trong những lần gặp lại:
“ Ba mươi năm tạm chia ly / Để cho lòng biển lắm khi vơi đầy / Gặp nhau tay nắm trong tay / Kể cho nhau chuyện tháng ngày chia xa / Chuyện công tác chuyện cửa nhà / Chuyện con ăn học, lên bà - lên ông / Chúc nhau một chén rượu nồng / Chúc thầy, chúc bạn khỏe không tuổi già / Ngày mai ta lại tạm xa / Hẹn ngày gặp lại quê nhà Hè sau”.
( NGÀY GẶP LẠI )

“ Đã đi gần trọn cuộc đời / Để nay gặp lại bao người mến thương / Lớn lên từ một mái trường / Lắng sau trong mỗi bước đường ta đi / Biển xưa đã nói những gì / Để bao con song mãi đi tìm bờ / Vẫn màu cát trắng tuổi thơ / Thắm tình bè bạn bao giờ nhạt phai / Thời gian như giấc mơ dài / Hỏi lòng ai đã nhớ ai bao lần !”.
     ( MÀU CÁT TUỔI THƠ )

Thông qua cuộc sống, Vũ Đăng Hiến luôn giao cảm với ngoại cảnh. Những mảng màu chất liệu phong phú, đa dạng của cuộc sống được chắt lọc qua lăng kính tâm hồn của anh đã bừng lên lấp lánh những giá trị nhân văn, thấm đượm tình người.
“ Đảo Ngư ơi, hòn ngọc quê hương ơi / Xanh xanh ngát màu đất trời xứ Nghệ / Trăng bồng bềnh trăng rơi nghiêng thế / Thêm nao lòng người con ở phương xa / Trăng nhô lên từ hòn đảo quê nhà / Để thêm đẹp quê hương mình Cửa Lò, Cửa Hội”.
( ĐÊM CỬA LÒ )

“ Tôi đến Viên Chăn làm sao đi hết được / Dọc chiều dài đất nước triệu voi / Viết mấy câu sao nói hết chuyện đời / Cảm nhận Viên Chăn một thời để nhớ”.
(CẢM NHẬN VIÊN CHĂN )

“ Tôi về thăm Đồng Lộc / Giữa trưa hè Tháng ngâu / Gió lào tung bụi đỏ / Thêm nghĩa nặng tình sâu … Bốn mươi năm qua mau / Bao mùa thông thay lá / Mùa bồ kết trổ bông / Hương thơm ngát núi rừng. Đồi thông ngày đêm hát / Dịu dàng trong tiếng nhạc / Điệu ví và lời ru / Để người yên giấc ngàn thu”.
(THĂM NGÃ BA ĐỒNG LỘC)

Thơ là kết tinh của cảm xúc thăng hoa xuất thần trong tâm hồn được thể hiện bằng ngôn từ trau chuốt, chuẩn xác, tinh tế của tác giả tạo ra giá trị nghệ thuật. Thơ là tiếng hát cuộc đời của mỗi con người. Qua thơ Vũ Đăng Hiến, làm chúng ta thêm thêm yêu, thêm gắn bó với cuộc sống.
“ Biển đang lặng mong trời đừng nổi giận / Đẩy thuyền xô mặt biển sóng ồn ào / Bến cũ thuyền xưa dây đã buộc sào / Xin hãy để thuyền neo cùng với biển…”.
(THUYỀN VÀ BẾN)
“ Nghe em hát mênh mang điệu ví / Để lòng anh cứ thế xốn xang / Đục con nước dòng Lam / Đục trong câu dặm nặng lòng người ơi”.
( NGỌT TRONG DIỆU VÍ DẶM QUÊ MÌNH )
“ Đừng lỡ hẹn, người ơi đừng lỡ hẹn / Để bến sông cứ đợi mãi con đò / Và đêm dài cứ sống mãi trong mơ / Về đi em, con sông quê vẫn nhớ”
( XIN ĐỪNG LỠ HẸN )

Bên cạnh những bài thơ trữ tình, Vũ Đăng Hiến còn có những bài thơ nói lên sự day dứt trăn trở trước nhân tình thế thái.
“ Đất nước mình có phức tạp lắm không / Từ bộ, ngành xuống đến địa phương / Chưa hết chuyện này đã sang sang chuyện khác / Mời gọi đầu tư mang về bao thứ rác / Rác tư duy, rác công nghệ, rác hiện hữu, vô hình … Chuyện tày đình là “ kế sách dụng binh” / Ba mươi tuổi, cha xếp con làm ông này bà nọ / Thua lỗ kinh doanh bao nhiêu ngàn tỷ / Vẫn nghiễm nhiên làm chưc nọ, quan kia / Phép nước coi khinh tham nhũng lọc lừa / Lợi ích nhóm tầm cao, tầm thấp …”.
( BUỒN VUI THẾ THÁI NHÂN TÌNH )
“ Lũ bành trướng muốn gì trên biển / Mà hung hăng hiếu chiến lắm thay / Giàn khoan, tàu chiến, máy bay / Vòi rồng, va húc, bủa vây bốn bề …/ Bất nhân đạo đức chó dê / Bá quyền bàn trướng vồn nghề xưa nay … Ngàn năm vẫn một lời thề / Biển Đông máu thịt muôn người Việt Nam”.
( TIẾNG GỌI BIỂN ĐÔNG )

Thơ Vũ Đăng Hiến có nhiều cung bậc cảm xúc hòa quyện tự nhiên với nhau mà trong cung bậc nào cũng thăng hoa đến tận cùng. Là âm điệu trữ tình khi viết về quê hương, gia đình và tình yêu đối lứa. Hoặc là những âm điệu tráng ca, hảo sáng khi viết về cuộc sống đời quân ngũ, về tình đồng đội. Và có khi là những cảm xúc suy tư đượm màu sắc triết lý nhân sinh.
“ Đau nhói vết thương xưa / Ký ức chiến tranh một thời máu lửa / Tuổi thanh xuân ra đi từ đó / Để lại cho đời một khúc tráng ca / Mười ba cô gái tuổi mười tám, đôi mươi / Thành bất tử hóa thân vào đất mẹ … Trận địa xưa, nay thành khu tưởng niệm / Tiếng chuông ngân trong gió thu về”.
( VỀ TRUÔNG BỒN )

“ Mưa tháng năm cho nỗi nhớ bâng khuâng / Xua chút lạnh Nàng Bân còn đọng lại / Ngày gặp lại trong cơn mưa mùa Hạ / Tay trong tay đội chung nón đi về . Giờ em đã qua bao cơn mưa trong đời / Từng khát cháy lời yêu trên môi ướt nhẹ / Em đã đi qua bao mùa không mưa lạnh/ Kỷ niệm tuổi học trò đẹp lắm anh ơi”.
( KỶ NIỆM THÁNG NĂM )

“ Lũ con trai yêu bừng đôi mắt / Cái dáng bề ngoài làm ngây ngất con tim / Tụi con gái yêu bằng cái tai / Lời nói ngọt ngào xiêu lòng phái đẹp … Nghịch lý tình yêu như đôi dòng sông mát / Bao cuộc tình đắng cay cũng vì tai - mắt / Triết lý cuộc đời như ngõ nhỏ ta qua”.
( NGHỊCH LÝ TÌNH YÊU )

“ Người khôn tìm chỗ để ngồi / Tìm sông để tắm, tìm người gửi trao / Trăm năm làm phận má đào / Khôn ngoan chi lắm cho đào phôi phai … Chi bằng nhóm lửa tối - mai / Cơm ngon canh ngọt cho ai quý mình …”.
( LỜI KHUYÊN )

“ Một thuyền một bến một dòng sông / Mà sao nghiêng ngả đôi dòng thuyền ơi / Sướng vui một kiếp làm người / Đục trong, nông cạn ai người đếm đong / Mong sao thuyền cứ xuôi dòng / Bên ni, bên nớ nhớ mong tháng ngày”.
( SÔNG VÀ THUYỀN )

“ Cuối đông cái rét về tê tái / Mấy giọt mưa dăng níu chân người / Thương ai thao thức đêm không ngủ / Để lòng vương vấn mãi không thôi”
( CUỐI ĐÔNG )

“ Lời yêu em gửi tặng anh / Bởi yêu nên mới ngọt lành lời ru / Lời ru tiếng mẹ trong mưa / Tiếng cha trong gió bốn mùa thoáng qua / Dịu dàng như điệu dân ca / Trong như giọt nước mưa sa quê mình / Dịu dàng em gửi trao anh / Dịu dàng muôn thuở ngọt lành lời ru”.
( DỊU DÀNG LỜI YÊU )


Với tính đa dạng của đề tài, súc tích về ngôn từ, trong sáng về tư duy và phương pháp diễn đạt, có tính khái quát hình tượng văn học tinh tế mà dung dị, sống động, giàu tình cảm, tập thơ của Vũ Đăng Hiến chắc chắn được người thân, bạn bè và bạn đọc quý mến.
Theo cảm nhận của tôi, tập thơ MÀU CÁT TUỔI THƠ là cả tấm lòng sâu lắng nặng tình, nặng nghĩa của Đại tá PGS TS Vũ Đăng Hiến đối với cuộc đời trên từng bình diện.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc xa gần.

Mỹ Đình, Tháng Chạp năm Đinh Dậu
                       N M Đ




Thứ Tư, 27 tháng 12, 2017

THƯƠNG HIỆU ĐỜI ANH

(Kính tặng Lê Doãn Hợp nhân kỷ niệm 50 năm ngày anh nhập ngũ)
--------------------

                                   Nguyễn Mạnh Đẩu

Tròn 50 năm trước
Thuở đất nước ngùn ngụt lửa chiến tranh
Phía trước phía sau bom gầm đạn nổ
Gấp trang sách học trò, anh lên đường nhập ngũ
Hành trang chất đầy bao nỗi nhớ niềm mong

Suốt mấy tháng sải bước hành quân
Sẻ dọc Trường Sơn vào Miền Đông Nam Bộ
Gội nắng dầm sương
Bao gian lao tôi luyện chí kiên cường

Vào Sư đoàn 5 chủ lực Miền Đông
Ròng rã bao năm chiến trường quyết liệt
Cùng đồng đội anh xông lên phía trước
Vượt qua bao ác liệt hy sinh
Biết bao phen cái chết kề bên
Chẳng nao núng niềm tin Ngày Toàn thắng

Đất nước thanh bình, lịch sử sang trang
Cởi áo lính anh nhập Trường Đại học
Tu chí luyện rèn đắp bồi kiến thức
Với khát khao về xây dựng quê hương …

Mấy mươi năm mọi nẻo đường thời gian
In dấu chân anh trải miền đất nước
Từ quê hương mình xứ sở Nghệ An
Và giữa Thủ đô ngàn năm văn hiến

Nếu chẻ thời gian thành những đoạn trường
Thì chặng đời nào của anh cũng lung linh ánh sáng

Con người anh mang tố chất thông minh
Đầy tâm huyết trên con đường sự nghiệp
Những Hội thảo trên bục cao diễn thuyết
Những buổi đoàn viên chan chứa nghĩa tình

Anh vẫn vậy tròn vai thân thiết
Cứ trầm ấm nói vo từng lời khúc chiết
Đúc kết những bài học trang đời
Ấy là thương hiệu của riêng anh !

Mỹ Đình, chiều ngày 26/12/2017



Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

ĐỌC THƠ THAY LỜI PHÁT BIỂU

Tại cuộc Gặp Mặt cựu cư dân 1 A, Hoàng Văn Thụ - Hà Nội hôm nay, 10 / 12 / 2017, khi được Ban Tổ chức giới thiệu phát biểu, sau phần giáo đầu kính thưa & chúc tụng, tôi đọc bài thơ dưới đây thay lời phát biểu:

VỀ LẠI CHỐN XƯA


                               Nguyễn Mạnh Đẩu

Ta về đây mang cả trời thương nhớ
Xốn xang vui vạt nắng giữa ngày đông
Ngoài xa kia xào xạc gió sông Hồng
Man mác Hồ Tây lá rơi vàng phố cũ

Ta về đây lặng tìm trong lối nhớ
Kỷ niệm xưa tràn nắng gió thân thương
Bước chân quen gõ nhịp tiếp con đường
Về với chính ta trải nỗi niềm hoài cổ

Ta kề nhau về thăm miền quê cũ
Giữa miên man quạnh quẽ phố hè xưa
Bao hoài niệm ập ùa về một thuở
Hiển hiện kia ngơ ngác rặng cây già

Ta về đây từ nhiều miền quê mới
Kề bên nhau bao kỷ niệm đong đầy
Ta tìm lại một trang đời phơi phới
Thuở gian nan mà ấm áp tình người

Xin chào nhé! bạn mình ơi chào nhé
Trọn cuộc đời mang nặng nghĩa cố hương
Dẫu phiêu diêu mọi chân trời góc bể
Góc con tim Hoàng Văn Thụ mãi còn!

Ngày 10 / 12 / 2017

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017




BÚT LỰC ( SỨC VIẾT ) 
CỦA CỤ BÀ U 90


Cụ Nguyễn Thị Minh Thâm năm nay 86 tuổi, quê xã Nghi Trung ( Nghi Lộc, Nghệ An ), cựu giáo chức, hiện sống ở Nguyễn Khang ( Cầu Giấy, Hà Nội ).
Dù không phải là người cầm bút chuyên nghiệp, vốn là giáo viên dạy sinh học, nhưng bút lực của cụ bà thật phong phú, dồi dào. 
Cắt nghĩa điều này, có thể do năng khiếu bẩm sinh, lại được thừa hưởng zen của một dòng họ có truyền thống văn chương ( trong họ Nguyễn Đức của cụ bà thời hiện đại đã có nhiều Nhà văn, Nhà thơ tên tuổi : Hoài Thanh, Hoài Chân, Nguyễn Đức Bính, Nguyễn Đức Đàn, Anh Ngọc, Phan Hồng Giang, Thuý Bắc, Nguyễn Chí Tình, ông nội của cụ là Chí sĩ Liệt sĩ Nguyễn Đức Công - Hoàng Trọng Mậu; thân phụ của cụ là Dịch giả Nguyễn Đức Vân, ... ). Thêm nữa, hơn 60 năm nay cụ là Phu nhân của GS NGND Nguyễn Đình Chú - người trọn đời gắn bó với sự nghiệp giảng dạy, nghiên cứu & sáng tác văn chương.

Bút lực của cụ bà Nguyễn Thị Minh Thâm thật đáng kính nể. Bữa rồi, mấy gia đình chúng tôi đi kết nối thông tin dòng họ Nguyễn Đình tại Hà Nội. 
Khi được cụ trao tặng cuốn sách mới in, tôi hỏi, tính đến nay, cô đã in bao nhiêu đầu sách. Cụ nói, được 11 cuốn rồi! Mọi người trầm trồ, trời ơi ! sức viết của cụ bà U 90.

Cụ ông, cụ bà đều đã U 90 nhưng vẫn rất thông tuệ, vẫn cập nhật mọi thông tin, vẫn chưa buông bút. Hơn thế, hai cụ vẫn sánh vai nhau đi du lịch trong và ngoài nước - lần gần đây nhất là cuộc giao lưu tại Đà Nẵng với giáo viên, sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Là bậc cháu, tôi thật sự kính phục cụ !

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

VĨNH BIỆT ANH NGÔ QUÝ VÂN - 
NGƯỜI ANH TRI ÂM, TRI KỶ

                                              N M Đ

Đúng 2 h sáng nay, 12/9/2017 ( nhằm ngày 22/7 Đinh Dậu ), cháu Vi nghẹn ngào gọi cho tôi: " Chú ơi! Bố cháu " đi " lúc 12 h 32 phút rồi, chú ah ". Dẫu không bất ngờ nữa, vậy mà tôi vẫn thảng thốt giàn giũa nước mắt khi viết những dòng này. 
Không bất ngờ bởi lẽ, sáng qua, 11/9, anh Nguyễn Xuân Định & và chị Bi vợ anh Vân báo cho tôi là anh Vân bị đột quỵ tại nhà chuyển đi cấp cứu ở Viện 108 trong cơn nguy kịch. Đến chiều tối, chị Bi gọi báo cho tôi, chú ah, anh không thể qua khỏi, gia đình xin chuyển về nhà. 
Nghe tin, tôi và anh Xuân Định chạy xe ngay đến nhà, nhìn anh hôn mê sâu, thoi thóp thở bình ô xi, sự sống chỉ còn tính bằng giờ. Chúng tôi tham gia ý kiến với chị và các cháu về việc lo Lễ tang cho anh.
Khuya về nhà, tôi không tài nào ngủ được, bao kỷ niệm với anh hiện về. 
Mới đây thôi, chiều tối ngày 10/9, tôi gọi điện hỏi thăm anh. Anh nói: " Tôi đỡ nhiều rồi chú ah. Tôi về thăm quê sau mấy tháng ốm đau không về". Nghe thế, tôi đã mừng, vì suốt mấy tháng nay anh Vân bị ốm, khi ở Viện khi ở nhà, không đi lại được. Vậy mà ...

( Có điều này thật lạ: Cách đây chỉ mới 4 hôm, ngày 8/9. trên Fb của mình, anh Ngô Quý Vân có đăng một bài thơ, nó như một lời nói trước với gia đình, với họ hàng, bạn hữu rằng, anh đã dự báo sự "ra đi " của anh:
HẸN NGƯỜI Ở CHỐN XA XÔI
Con đường đi tới tuổi già
Dù cong dù thẳng cũng là gặp nhau
Dặm dài kẻ trước người sau
Dẫu tìm đường tránh cũng đâu được nào

Lộc trời kẻ thấp người cao
Mỗi nhà mỗi cảnh cũng nào giống nhau
Thời gian phủ trắng mái đầu
Giang sơn nhẹ gánh dứt sầu nhân gian

Một đời trải mấy mươi năm
Nhọc nhằn trọn kiếp thân tằm nhả tơ
Đã tròn một giấc yêu mơ
Dẫu còn đâu đó mưa xưa thương thầm

Lọ là một cõi trăm năm
Bồng lai tiên cảnh còn nằm trong mơ
Biết đâu bến đợi mà chờ
Bụi trần gió cuốn mịt mờ chân mây

Xin đừng tính tháng tính ngày
Tuổi cao mà vẫn đắm say tình đời
Hẹn người ở chốn xa xôi
Ngàn thu giữ lại một lời biệt ly ...!

8/9/2017 )
Anh Ngô Quý Vân, sinh năm 1943, quê làng Vọng Nguyệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Tôi cùng công tác với anh tại Văn phòng TCCT vỏn vẹn 4 năm ( 1988-1992) và từ đó đến nay, anh em thân quý nhau, ý hợp tâm đầu, tri âm tri kỷ. 
Anh Vân là người có kiến thức giỏi, nhân cách tốt, có tâm hồn, phong cách điềm đạm, khiêm tốn, tinh tế, sâu sắc - anh sống chu đáo, nhân hậu, nghĩa tình, được mọi người trân quý.

Anh hơn tôi 5 tuổi, trong cuộc sống anh luôn coi tôi như chú em trai. Mấy tháng nay biết tôi đi lại nhiều nơi, anh dặn, chú phải giữ gìn sức khỏe. 
Hôm rằm Tháng 7 tôi về quê bị sốt cao. Khi tôi ra HN, anh nhắc là phải vào viện thử máu đề phòng sốt xuất huyết. Tôi bảo, nhưng em đã hẹn mời anh em bạn chiến đấu ở các tỉnh về Gặp Mặt, không thể hoãn được. Anh nói, ừ thì Gặp Mặt xong phải đi thử máu ngay. Và sau khi tôi báo tin là đã thử, kết quả không phải sốt xuất huyết, do cảm nắng thôi. Nghe xong, anh thở phào, vậy là yên tâm rồi.

Cách đây hơn hai tháng, khi đến thăm anh tại Viện 108, thấy anh rất yếu, như có linh tính mách bảo, tôi bàn với anh : " Em biết anh là người làm thơ giỏi, đề nghị anh sưu tập lại rồi chuyển cho em bản thảo để em biên soạn, biên tập thành tập để xuất bản". Anh nói: " Đúng là tôi có làm nhiều thơ, nhưng để tản mác rời rạc, trí nhớ đã hạn chế rồi, sức yếu quá không đi lại được. Thôi chú ah ". Tôi kiên trì thuyết phục động viên anh sưu tầm, tập hợp được gần 140 bài thơ sáng tác từ năm 1963 đến nay. Sau khi biên tập xong, tôi nói: " Anh quen nhiều Nhà văn, Nhà thơ, Nhà phê bình, nên nhờ ai đó viết Lời Giới Thiệu để xuất bản". Anh Vân nói:" Đúng là tôi quen thân với nhiều anh em văn nghệ sỹ - nhất là các anh em cùng ở với tôi thời chống Mỹ - nhưng chỉ có chú hiểu tôi nhất. Tôi nhờ chú viết Lời Giới Thiệu".
Vậy là được anh tin tưởng ủy nhiệm, tôi liên hệ với Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tập thơ MÀU THỜI GIAN, sách dày 191 trang, với 131 bài. Đây là một trong những điều lập ngôn anh để lại cho đời - trước hết là gia đình và bạn hữu xa gần.

Anh Vân ơi ! Vẫn biết Sinh Lão Bệnh Tử là qui luật của muôn người. Nhưng em buồn đau, thương tiếc anh vô cùng. Anh với em như người ruột thịt. 
Từ nay em không còn được đàm đạo sẻ chia nhân tình thế thái với anh theo đúng nghĩa tri âm, tri kỷ ở đời.
Vĩnh biệt anh - một con người em luôn quý trọng suốt mấy chục năm qua. Tình cảm và hình ảnh của anh đọng mãi trong tâm trí em. Kính viếng anh !
Cầu mong linh hồn anh thanh thản siêu thoát, nhàn du tiên cảnh. 
Xin thống thiết chia buồn cùng chị Bi & các cháu cùng đại gia đình !