Menu ngang

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

NÓI VỚI TRÁI TIM MÌNH


NMĐ

Ta biết em khổ lắm tim ơi
Trải mấy mươi năm gõ nhịp đời
Khi dập dồn đau buồn thảng thốt
Lúc rộn ràng háo hức bến bờ vui

Cám ơn Trời, cám ơn Mẹ Cha
Cho ta trái tim suốt một đời bền bỉ
Để cho ta những điều gì có thể
Trái tim ơi,
             hoà nhịp đập trang đời !


29/8/2016

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016

Hôm nay, 25/8/2016, kỉ niệm Sinh nhật lần thứ 105 của Đại tướng, tôi đăng lại bài này

BA LẦN ĐƯỢC TIẾP KIẾN 
ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP


Có thể nói, thế hệ chúng tôi và cả lớp trước nữa, ai được gặp các lãnh tụ, các vị lãnh đạo cao cấp là một dịp may mắn, phấn khởi. Khoảnh khắc đó được coi là một kỷ niệm đẹp. Đặc biệt, người nào trong cuộc đời được gặp Bác Hồ thì quả thật là một niềm tự hào, vinh hạnh lớn. Và, cũng có thể nói, sau Bác Hồ là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Điều đó dường như là một lẽ tự nhiên xuất phát từ tình cảm tự nguyện của mỗi con người, với một niềm tin lớn lao, ở một thời kỳ lịch sử đặc biệt của đất nước - cái thời mà mỗi suy tư trăn trở của lãnh tụ và các vị lãnh đạo trong sự nghiệp cách mạng đều phù hợp với niềm mong mỏi bình dị và sâu sắc của mỗi người dân.

Trong cuộc đời quân ngũ của mình, trừ những năm tháng chiến đấu trên chiến trường, còn lại thời kỳ công tác ở cơ quan Bộ Quốc phòng, làm anh lính mà tên gọi chung là trợ lý, rồi bền chí phấn đấu trong công tác được bổ nhiệm đến chức Phó phòng, Trưởng phòng, thuộc diện “đầu binh cuối cán” ở cơ quan cấp chiến lược, nhiều lần tôi được gặp, thực ra là chỉ được nhìn thấy (mục sở thị) các bậc lãnh đạo trong các buổi lễ lớn và được nghe các “cụ” giảng giải từ xa với một sự trọng vọng, ngưỡng mộ. Mãi tới sau này, từ năm 1992 trở đi, trên các cương vị, nhiệm vụ và tính chất công tác cao hơn, tôi mới có dịp được gặp gỡ, tiếp kiến, thậm chí là được tiếp chuyện thân mật, cởi mở với một số cán bộ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, Quân đội. Trong đó, một số lần, tôi may mắn được tiếp kiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị tướng huyền thoại của nước ta và được biết, cách đây không lâu, Ông đã được Hội đồng khoa học có tên tuổi của một nước ở phương Tây bình chọn là một trong mười danh tướng kiệt xuất trong mọi thời đại của thế giới. 

Tôi xin kể đôi điều về ba lần ấn tượng nhất trong số lần tôi được tiếp kiến Ông.
Lần thứ nhất :
Để chuẩn bị kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành chính sách quân đội ( 26/2/1947 – 26/2/1997), lãnh đạo Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị đã cử mấy cán bộ đến thăm, báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Đại tướng, đồng thời kính mời ông dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày Truyền thống ngành chính sách quân đội sẽ được long trọng tổ chức vào ngày 26 tháng 2 năm 1997, tại Hội trường Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Theo kế hoạch đã hợp đồng trước với Đại tá Nguyễn Văn Huyên, thư ký của Đại tướng, chiều ngày 13 tháng 2 năm 1997, trong tiết trời nắng ấm, mấy anh em chúng tôi gồm: tôi - Đại tá, Cục trưởng; anh Đỗ Quang Bích - Đại tá, Cục phó; anh Đinh Công Cử - Đại tá, Trưởng phòng và anh Trần Văn Minh - Trung tá, Trợ lý Phòng Nghiên cứu Tổng hợp Cục Chính sách (hiện nay anh Minh là Đại tá, Tiến sĩ, Cục trưởng Cục Chính sách - TCCT), đến nhà Đại tướng tại 30 phố Hoàng Diệu - Hà Nội. Tôi quen biết anh Huyên từ trước. Chúng tôi cùng quê Nghệ An. Anh Huyên ở huyện Diễn Châu, cách quê tôi ở huyện Nghi Lộc chừng 20 cây số. Trước 3 giờ chiều, theo hướng dẫn của anh Huyên, chúng tôi đã ngồi chờ sẵn tại phòng tiếp khách. Đây là một căn phòng ở tầng một, rộng vừa phải, sạch sẽ, bày biện đơn sơ ngăn nắp, xung quanh treo mấy bức tranh. Ở sát tường là một tủ sách lớn, trong đó có rất nhiều sách, tạp chí. Giữa phòng là một bộ sa - lông mây. Tôi được biết, tại nhà riêng của Đại tướng có hai phòng tiếp khách. Phòng lớn hơn ở nhà bên cạnh là để tiếp các đoàn đại biểu trong nước và quốc tế đến thăm với số lượng nhiều người, được bài trí tương đối trang trọng, có phần mang tính lễ nghi, đối ngoại. Còn phòng nhỏ là tiếp các đoàn có số lượng ít, thân tình. Anh Huyên nói với chúng tôi rằng, hôm nay, Đại tướng mới tiếp khách quốc tế ở phòng khách lớn.

Đúng 3 giờ, trong bộ com-lê màu sáng, Đại tướng từ trong nhà đi ra. Ngày đó, mặc dù đã 86 tuổi nhưng nhìn Ông còn khỏe mạnh. Đại tướng có gương mặt đẹp, nhân từ và sắc sảo, ánh mắt tinh anh, tóc bạc trắng như cước, da dẻ hồng hào, bước đi vững chãi. Ông nở nụ cười đôn hậu, thân mật niềm nở bắt tay và hỏi han từng người.

Anh Huyên giới thiệu tôi với Đại tướng. Ông bắt tay và hỏi tôi với chất giọng Quảng Bình trầm ấm:
- Đồng chí Cục trưởng quê Nghệ An à, ở huyện nào?
- Dạ thưa, cháu ở huyện Nghi Lộc ạ .Tôi trả lời.
Ông cười:
- À, Nghi Lộc, “cà có cuống, cà có đuôi”, phải không?
(Sự thể là, tiếng người Nghi Lộc quê tôi phát âm “cà” và “cá” na ná như nhau, cho nên khi nghe có người vờ như không hiểu, phải hỏi lại là loại cà có cuống hay loại cà có đuôi. Câu hỏi đó lâu nay vẫn được lưu truyền trong mọi người chỉ để đùa vui).
Tôi thưa:
- Dạ, phải ạ !
Chúng tôi cùng cười vui vẻ. Một bậc khai quốc công thần, vị tướng bậc nhất trong lịch sử hiện đại của Việt Nam, tiếp chúng tôi một cách thân tình, dung dị. Thật sự, chúng tôi coi đây là một vinh hạnh, mừng và xúc động lắm. Vừa bắt tay ông, tôi vừa giới thiệu từng thành viên trong đoàn đến thăm.
Sau khi đã yên vị, Đại tướng đi thẳng vào việc:
- Ta bắt đầu nhé. Tôi đã nghe anh Huyên báo cáo, hôm nay các đồng chí Cục Chính sách đến thăm, báo cáo tình hình công tác chính sách và cho biết việc chuẩn bị kỷ niệm 50 năm ngành chính sách quân đội. Chính sách là một mặt công tác rất quan trọng. Cả trong và ngoài quân đội đều vậy. Nào, bây giờ đồng chí Cục trưởng trình bày đi.
Tôi cầm quyển sổ đứng dậy báo cáo. Đại tướng vẫy tay:
- Thôi, chỉ mấy người thôi, đồng chí cứ ngồi báo cáo cũng được, rồi chúng ta còn trao đổi nữa.
Nghe Đại tướng nói vậy, tôi xin phép được ngồi.
Vậy là, cùng ngồi với ông trên chiếc đi - văng, tôi mở sổ công tác, theo phần đã chuẩn bị sẵn, lần lượt báo cáo một cách từ tốn, rành rọt về quá trình hình thành, phát triển công tác chính sách và cơ quan chính sách trong quân đội; về tính chất, yêu cầu nhiệm vụ và những kết quả đạt được của công tác chính sách trong chiến tranh, sau chiến tranh và trong tình hình hiện nay. Cuối cùng là tôi báo cáo về việc chuẩn bị tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành chính sách quân đội.
Thời gian tôi báo cáo khoảng 25 phút. Vừa báo cáo, tôi vừa ngước nhìn sang ông. Ông chăm chú nghe, dõi theo từng nội dung. Thỉnh thoảng, tôi thấy ông gật đầu, rồi gõ ngón tay trỏ xuống bàn như thể biểu dương, khích lệ, tán đồng. Điều đó truyền cho tôi cảm hứng phấn chấn, thêm tự tin trong khi báo cáo.
Tôi vừa dứt lời, Đại tướng hỏi:
- Thế nào, các đồng chí khác có thêm ý kiến gì không?
Anh Bích, anh Cử và anh Minh đều nói:
- Dạ thưa, nhất trí với báo cáo của Cục trưởng.
Sau khi nghe xong, Đại tướng biểu dương nội dung báo cáo của Cục Chính sách đầy đủ, ngắn gọn, súc tích, vừa có tính khái quát, lại vừa có số liệu minh chứng cụ thể. Ông cho rằng, với nội dung báo cáo như vậy, chứng tỏ việc chuẩn bị của Cục khá công phu, nghiêm túc, có chất lượng, các đồng chí lãnh đạo Cục đã nắm chắc nội dung, làm chủ tình hình.
Tiếp đó, Đại tướng dành nhiều thời gian nói chuyện với anh em chúng tôi. Ông nói về tính tất yếu khách quan, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Ông cho rằng, ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến - 19/12/1946 và trước đó nữa, kể từ khi Nam Bộ kháng chiến, cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975, rồi tiếp đến cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế, ròng rã hơn 30 năm chiến tranh. Trước họa xâm lăng, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, lớp lớp thanh niên thuộc nhiều thế hệ nối tiếp nhau lên đường chiến đấu. Trong cuộc chiến đấu sinh tử, vô cùng cam go ác liệt, đầy gian khổ, hy sinh, hơn một triệu cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng ngã xuống, hàng chục vạn người đã bỏ lại một phần xương máu trên các chiến trường. Ở hậu phương lớn Miền Bắc, trong điều kiện vừa sản xuất vừa đánh trả quyết liệt cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Đế quốc Mỹ, công tác chính sách chăm sóc gia đình có người đi chiến đấu rất được coi trọng và thu được nhiều kết quả, góp phần cổ vũ tiền tuyến, ổn định hậu phương. Ông khen công tác khen thưởng đã triển khai tích cực, kịp thời, góp phần động viên phong trào thi đua lập công, tri ân những người có thành tích xuất sắc và những gia đình có công với cách mạng,..v.v.. Tất cả những điều đó đặt ra yêu cầu rất cao, chứng tỏ công tác chính sách hết sức lớn, rất quan trọng.
Đại tướng đã nhận xét đánh giá về kết quả công tác chính sách, cả trong chiến tranh và giải quyết hậu quả chính sách sau chiến tranh. Ông khẳng định, công tác chính sách đã hình thành, phát triển cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta. Suốt mấy chục năm qua, trong chiến công chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, công tác chính sách đã góp phần rất xứng đáng. Đặc biệt là, trong năm 1994, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam - Ngày Hội quốc phòng toàn dân, Cục Chính sách đã tham mưu cho Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng trình lên Đảng, Nhà nước ban hành danh hiệu vinh dự Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng kèm theo chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với các mẹ. Đây là một chính sách có ý nghĩa chính trị xã hội to lớn, sâu sắc, được các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội trong cả nước hoan nghênh, hướng ứng.
Kết thúc cuộc trao đổi, Đại tướng nhấn mạnh những yêu cầu, nhiệm vụ của công tác chính sách trong thời kỳ mới và trách nhiệm của Cục Chính sách - cơ quan đầu ngành về công tác chính sách trong quân đội. Ông cho rằng, trong tình hình mới, công tác chính sách cần tập trung nghiên cứu và chỉ đạo tổ chức thực hiện trên hai vấn đề lớn. Một là, cần chỉ đạo tổ chức thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chính sách đã ban hành; tập trung sức giải quyết nhanh gọn, chu đáo những tồn đọng về chính sách sau các cuộc chiến tranh - đây là vấn đề có nhiều khó khăn, phức tạp, rất bức thiết, đồng thời có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. Hai là, cần tiếp tục nghiên cứu đề nghị ban hành nội dung chính sách mới, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, từng bước hiện đại, trong điều kiện cả nước hòa bình, ổn định, phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chúng tôi tâm đắc, coi đó là những lời huấn thị của người anh Cả của Quân đội ta, có ý nghĩa chính trị lớn cả trước mắt và lâu dài đối với nhiệm vụ chính trị của Cục Chính sách nói riêng và ngành chính sách trong quân đội nói chung; đồng thời là những lời chỉ bảo ân tình, sâu sắc của bậc ông cha đối với các thế hệ con cháu.

Lần thứ hai :
Nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam - Ngày Hội quốc phòng toàn dân, ngày 19-12-2002, Đoàn cán bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1 do anh Nguyễn Hữu Hạ, Thiếu tướng, Hiệu trưởng và tôi, Thiếu tướng, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng về Chính trị, dẫn đầu về Hà Nội thăm, chúc mừng Đại tướng. Thành viên của Đoàn gồm có anh Nguyễn Tiến Ngùng, Đại tá, Phó Hiệu trưởng, cùng lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, các khoa giáo viên và các đơn vị quản lý học viên, khoảng hơn 30 người.

Hôm đó là một ngày đẹp, nắng vàng, trời xanh, gió heo may thổi nhẹ, chúng tôi xuất phát từ Sơn Tây lúc một giờ chiều, trên chặng đường gần một tiếng đồng hồ thì đến nhà Đại tướng.

Khi cả Đoàn đã ngồi vào phòng khách lớn, tôi và anh Hạ sang nhà bên đón Đại tướng. Ông mặc bộ lễ phục mùa đông màu trắng. So với 5 năm trước, sức khỏe Ông có phần sút hơn, bước đi đã chậm. Gánh nặng thời gian đè lên mọi cuộc đời. Tôi dứng nghiêm chào Ông theo đúng Điều lệnh Quân đội. Anh Huyên giới thiệu tôi, Ông mỉm cười, gật đầu và khẽ nói, tôi biết rồi.

Sau khi mọi người đã yên vị ở phòng khách, trong không khí xúc động và đầm ấm, thay mặt Đảng ủy - Ban Giám hiệu Nhà trường, tôi đã phát biểu bày tỏ sự vui mừng phấn khởi của cán bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1 được đến thăm, chúc mừng Đại tướng; đồng thời báo cáo tóm tắt với Đại tướng về thành tích của Trường trong những năm qua; bày tỏ lòng biết ơn đối với Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với Đại tướng và các đồng chí lãnh đạo khác đối với quá trình xây dựng và trưởng thành của Trường Sĩ quan Lục quân 1 trong suốt chiều dài truyền thống, cả trong thời kỳ chiến tranh và hiện nay.

Kết thúc phần báo cáo, thay mặt Nhà trường, tôi đã kính tặng Đại tướng bức ảnh Bác Hồ trao lá cờ thêu sáu chữ vàng “ Trung với nước, hiếu với dân” cho học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn nhân ngày khai giảng Khóa 1 và lẵng hoa tươi thắm.

Trước mấy chục con người cùng mặc lễ phục trắng, trong không khí ấm cúng mà trang nghiêm, với nhận thức và tình cảm kính mến sâu nặng, tôi đã trân trọng nói lên những lời chúc mừng chân thành, sâu lắng. Tôi nói với giọng xúc động mà rành rõ về một điều thiêng liêng rằng, năm tháng sẽ qua đi, những tên đất, tên người vĩ đại sẽ mãi mãi trường tồn. Cùng với Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa oanh liệt,… chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử huy hoàng chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trên thế giới, Việt Nam là tấm gương lớn trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc; Hồ Chí Minh - Võ Nguyên Giáp - Điện Biện Phủ đã trở thành biểu tượng của Việt Nam.
Cuối cùng, thay mặt lãnh đạo, chỉ huy và toàn thể cán bộ, giáo viên, học viên, chiến sĩ toàn Trường, tôi kính chúc Đại tướng, bằng tài năng, đức độ, trí tuệ, nhân cách và vị thế của mình, tiếp tục có nhiều cống hiến lớn lao cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Đặc biệt là, xin thành kính chúc mừng Đại tướng đã bước qua tuổi Đại thọ 90, tiếp tục phấn đấu tiến tới và vượt qua mốc Hồng thọ, Tiên thọ tuổi 100. Nghe xong, Đại tướng cười hiền, nói rất cám ơn về lời chúc của đồng chí Bí thư Đảng ủy Nhà trường.
Sau phần chúc mừng, Đại tướng đã nói chuyện thân mật với Đoàn cán bộ Nhà trường. Đại tướng nhắc về lịch sử của Trường: Trường Sĩ quan Lục quân 1 mà tiền thân là Trường Quân chính kháng Nhật, được thành lập từ ngày 15/4/1945 theo Nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ và Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Sau Cách mạng Tháng 8/1945, đổi tên là Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Được mang tên danh tướng kiệt xuất bậc nhất của dân tộc ta là niềm vinh dự, tự hào của mọi thế hệ cán bộ, giáo viên, học viên Trường Sĩ quan Lục quân. Đây là nhà trường đầu tiên của quân đội và cũng là nhà trường đầu tiên của chế độ ta. Sự ra đời của Nhà trường đánh dấu một bước chuyển biến mới của cách mạng, kịp đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ quân sự, chính trị làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang nhân dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trải qua gần 60 năm, Nhà trường đã đào tạo hàng chục vạn cán bộ làm nòng cốt cho đội ngũ sĩ quan chỉ huy - tham mưu của Quân đội, góp phần rất xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc...
Đại tướng biểu dương về thành tích đạt được và sự trưởng thành mọi mặt của Trường Sĩ quan Lục quân 1 trong nhiều năm qua, mong Nhà trường tiếp tục phấn đấu giữ vững và phát huy truyền thống anh hùng trong giai đoạn mới.
Sau khi nhận định, phân tích tình hình thế giới, khu vực và trong nước, nhiệm vụ của Quân đội, Đại tướng đã ân cần căn dặn: Trong tình hình hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác giáo dục đào tạo cán bộ của Trường Sĩ quan Lục quân càng phải được nâng cao. Đặc biệt là, phải kết hợp giữa đào tạo nâng cao trình độ kỹ - chiến thuật quân sự với giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ chính trị, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, để học viên tốt nghiệp ra trường đủ sức lãnh đạo, chỉ huy đơn vị cơ sở và sẵn sàng chiến đấu cao. Trong đào tạo, Nhà trường phải coi trọng huấn luyện thực hành sát với thực tế chiến đấu và xây dựng đơn vị, nhất là phải tiếp cận với sự phát triển của khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới. Sĩ quan ra trường phải biết sử dụng vi tính, có kiến thức khoa học công nghệ, khoa học quân sự, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Đoàn cán bộ chúng tôi vô cùng cảm kích về sự thông tuệ và những lới dạy bảo ân tình của Đại tướng. Cuối buổi tiếp, Đại tướng đã chụp ảnh chung với toàn đoàn. Mọi người lưu luyến chia tay Đại tướng, cầu mong Ông trường thọ.

Lần thứ ba:
Tháng 12-2004, Thủ tướng Chính phủ quyết định điều động bổ nhiệm tôi từ Trường Sĩ quan Lục quân 1 về giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật về Chính trị (sau này là Chính ủy TCKT) thay anh Hoàng Anh Tuấn. Sau đó, tháng 6 - 2005, Thủ tướng Chính phủ quyết định điều động bổ nhiệm anh Trương Quang Khánh từ Quân khu 1 về giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật thay anh Đỗ Đức Pháp. Như vậy, chúng tôi là cặp chủ trì lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục Kỹ thuật trong quãng thời gian ngót 3 năm, 2005 - 2007. Quãng thời gian đó để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Trên cương vị lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục cũng như trong đời sống sinh hoạt, trong tình cảm riêng, giữa tôi và anh Khánh có sự đồng cảm trên nhiều phương diện. Bởi thế, giữa chúng tôi luôn tạo được tiếng nói chung, nhất quán, đồng thuận trong nhận định đánh giá tình hình cũng như trong điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Tổng cục Kỹ thuật.

Đầu tháng 2 năm 2006, anh Trương Quang Khánh và tôi được Nhà nước thăng quân hàm Trung tướng, cũng là thời điểm chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Bính Tuất. Nhân dịp ấy, tôi và anh Khánh bàn với nhau thay mặt lãnh đạo chỉ huy Tổng cục Kỹ thuật đến thăm, chúc tết Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Chu Huy Mân và Đại tướng Lê Đức Anh.

Đã có hẹn trước, Đại tướng tiếp chúng tôi ở phòng khách lớn, dẫu chỉ có ba người. Sau phần chào hỏi trang trọng mà thân mật, anh Trương Quang Khánh báo cáo tóm tắt với Đại tướng về tình hình tổ chức, biên chế và kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ của Tổng cục Kỹ thuật trong thời gian qua. Trong mọi hoàn cảnh, Tổng cục Kỹ thuật đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chỉ đạo bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và các nhiệm vụ khác của quân đội. Đồng thời, anh Khánh đã báo cáo một số chủ trương kế hoạch công tác trong thời gian tới. Thay mặt lãnh đạo chỉ huy Tổng cục Kỹ thuật, đồng thời thay mặt ngành kỹ thuật toàn quân, anh Khánh đã nói lời cám ơn sự quan tâm sâu sắc của Đại tướng đối với quá trình phát triển và những thành quả đạt được trong hơn 30 năm qua, kể từ ngày thành lập Tổng cục Kỹ thuật. Tiếp lời anh Khánh, nhân dịp bước sang năm mới, thay mặt Đảng ủy - Thủ trưởng cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ Tổng cục, tôi kính chúc Đại tướng luôn luôn mạnh khỏe, trường thọ, tiếp tục dành cho Tổng cục Kỹ thuật sự quan tâm, theo dõi.

Được biết, hồi đó Ông mới điều trị ở bệnh viện về, sức khỏe không thật tốt, chúng tôi cố tình nói ngắn nhưng đủ ý.
Sau khi chúng tôi dừng lời, Đại tướng đã dành phần lớn thời gian còn lại nói chuyện với chúng tôi. Với giọng trầm ấm, đầy tâm huyết, Ông nói rằng: Vũ khí, trang bị kỹ thuật là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và tiềm lực quốc phòng của đất nước. Bất cứ ở đâu và thời nào cũng vậy, có quân đội là phải có vũ khí, trang bị kỹ thuật. Có vũ khí, trang bị kỹ thuật thì tất yếu phải có công tác bảo đảm kỹ thuật. Khoa học công nghệ càng phát triển, thì vũ khí và trang bị kỹ thuật của quân đội càng hiện đại. Và vũ khí, trang bị kỹ thuật càng hiện đại, đòi hỏi công tác bảo đảm kỹ thuật càng tinh vi, càng hiện đại.
Dừng lại vài phút, nhấp một ngụm nước, nhìn chúng tôi với nụ cười đôn hậu, Ông tiếp tục trao đổi. Ông khẳng định rằng, sự phát triển của công tác kỹ thuật luôn luôn gắn liền với sự phát triển trưởng thành của quân đội.Trong kháng chiến chống Pháp, vũ khí trang bị của quân đội tuy còn ít và đơn sơ nhưng công tác bảo đảm kỹ thuật cũng đã từng bước hình thành và đi vào hoạt động. Ngành quân giới, ngành quân khí, ngành xe máy quân sự đã ra đời từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, trước yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu, được sự chi viện của các nước anh em, vũ khí, trang bị kỹ thuật của quân đội ta đã có sự phát triển, từng bước hiện đại, cả về số lượng và chất lượng. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào thời kỳ cuối, do yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu của quân đội, vũ khí trang bị kỹ thuật đã phát triển cả về số lượng, chất lượng, qui mô, chủng loại và phức tạp về kỹ thuật; theo đề nghị của Quân ủy Trung ương, ngày 10/9/1974, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Kỹ thuật. Đây là một bước phát triển mới quan trọng trong việc chỉ đạo tập trung thống nhất công tác kỹ thuật. Ngay từ khi mới thành lập, Tổng cục Kỹ thuật đã chủ động bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho chiến trường Miền Nam, góp phần rất xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta - giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước…
Tiếp đó, Đại tướng đã biểu dương thành tích của Tổng cục Kỹ thuật trong mấy năm qua. Đại tướng căn dặn: Trong điều kiện sự phát triển của khoa học - công nghệ nói chung và sự phát triển của vũ khí trang bị, của khoa học kỹ thuật quân sự nói riêng, Tổng cục Kỹ thuật phải không ngừng phấn đấu làm tốt chức năng tham mưu cho Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng cũng như vai trò chỉ đạo toàn quân về công tác bảo đảm kỹ thuật. Ông nhắc, Tổng cục cần chú ý bằng nhiều biện pháp, không để xẩy ra cháy nổ; phải thường xuyên bảo đảm tuyệt đối an toàn đối với con người và vũ khí, trạng bị kỹ thuật. Cần làm cho mọi người trong Tổng cục Kỹ thuật và ngành kỹ thuật toàn quân luôn chú trọng công tác nghiên cứu, học tập để không ngừng tiến bộ.
Cuối cùng, nhân dịp chuẩn bị bước sang năm mới, Đại tướng chúc toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ trong Tổng cục mạnh khỏe, chúc Tổng cục Kỹ thuật hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.
Chúng tôi thật sự ngạc nhiên và khâm phục về trí tuệ và sự sáng suốt của Đại tướng. Không thể tin nổi, ngày đó Ông đã ngót trăm tuổi, so với mấy năm trước, sức khỏe đã yếu nhiều hơn rồi, việc đi lại đã có dấu hiệu khó khăn, tiếng nói đã chậm hơn, vậy mà Ông vẫn còn thông tuệ, mẫn tiệp đến như vậy!

* * *
Ngoài trăm tuổi trong cõi nhân sinh đã là hiếm, trong hàng lãnh tụ, danh nhân, tướng lĩnh, thì xưa nay quả là cực kỳ quí hiếm. Một cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú, sôi động - đặc biệt là trong nhiều năm chiến tranh cách mạng được Trung ương Đảng và Bác Hồ giao đảm nhiệm trọng trách Tổng Tư lệnh Quân đội - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là con người đặc biệt của lịch sử thời hiện đại.

Viết về Đại tướng đã có biết bao sách báo, phim ảnh. Về lâu dài, chắc sẽ còn rất nhiều giấy mực viết về Ông trên từng bình diện và góc độ đề cập. 

Với tôi, tôi chỉ xin ghi chép lại đôi điều tại ba lần vinh hạnh được tiếp kiến Ông - một vị tướng lừng danh thế giới. Tôi coi đây là những kỷ niệm đẹp của đời mình./.

Mỹ Đình, ngày 11 tháng 11 - 2011

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

MỘT GIA ĐÌNH GIA GIÁO, THÀNH ĐẠT

Đó là gia đình Trung tướng, Anh hùng LLVT Khuất Duy Tiến, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3, nguyên Cục trưởng Cục Quân lực / BTTM, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1. 
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông chiến đấu ở Chiến trường Tây Nguyên, còn tôi ở Chiến trường Trị Thiên. Mãi tới khi ông được Bộ Quốc phòng điều động từ Tư lệnh Quân đoàn 3 về giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực, do mối quan hệ công tác giữa Cục Chính sách với Cục Quân lực, tôi mới có nhiều dịp làm việc với ông. Tiếp đó, khi ông làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 rồi nghỉ hưu theo chế độ, thì tôi được điều về Trường. Theo mối quan hệ tân - cựu giữa cán bộ chủ trì của Trường Lục quân qua các thời kỳ, chúng tôi còn tiếp xúc gặp gỡ nhiều hơn. 
Ông Khuất Duy Tiến sinh năm 1931, quê ở xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội - Cách Trường SQLQ 1 không xa. 
Có lần, vào cuối năm 2000, ông mời tôi về thăm nhà ở quê. Vùng này có một đặc điểm ẩm thực là: Trong các bữa ăn thịnh soạn, ngoài những món ăn ngon quen thuộc như nhiều miền quê khác, thì bao giờ trên mâm cũng phải có món củ chuối non nấu xáo với xương lợn. Ăn rất ngon.
Qua nhiều năm, từ những lần gặp đầu tiên ( khoảng năm 1992 ) cho đến tận bây giờ, cảm nhận xuyên suốt của tôi về ông Khuất Duy Tiến: Đó là một cán bộ có năng lực giỏi, đã từng trải qua nhiều cương vị, có bề dày thành tích, vốn sống, kinh nghiệm phong phú, phong cách điềm đạm vui vẻ dễ gần, chân thành, cương trực. Thêm nữa, điều tôi kính quí và học hỏi ông còn ở chỗ ông giàu vốn Nho học . Ông thuộc rất nhiều câu danh ngôn Hán - Việt có tính triết lý nhân sinh sâu sắc. 
Tôi khâm phuc nhà ông - một gia đinh nền nếp, gia giáo, có truyền thống văn hóa. Ông cùng vợ ông - bà Vũ Thị Hồng Vân - sinh thành dưỡng dục nên 4 người con thành đạt : Con trai cả là Trung tướng, Tiến sĩ Khuất Việt Dũng, Chính ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng / Bộ Quốc phòng ; con gái thứ hai là Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hôi.; con gái thứ ba là Thạc sĩ, Bác sĩ Khuất Hải Oanh, Giám đốc Trung tâm phát triển xã hội ; Và con trai út là Tiến sĩ Khuất Việt Hùng, Phó Cục trưởng Cục Vận tải - Bộ Giao thông vận tải, đồng thời là Phó Chủ tịch Ủy ban an toàn giao thông quốc gia. 
Với tôi, do không được học nên không biết chữ Nho. Nhưng vì thích tìm tòi nghiên cứu, học hỏi, nên tôi cũng có biết được nghĩa của nhiều từ Hán Việt. Nhờ thế, tôi liều viết ra vài ba câu đối, vài ba bài thơ Đường bằng âm Hán, để tự vịnh hoặc đề tặng người khác. Viết tiếng Việt xong, tôi nhờ người biết chữ Nho viết ra giấy. Bằng cách đó, tôi làm câu đối, làm thơ tặng một số người mà tôi thân quí - nhất là nhân dịp mừng Sinh nhật, Kỉ niệm ngày cưới, ... Tôi thường đem cái mình viết ra để hỏi các bậc cha chú thành thạo chữ Nho. Đọc xong họ nói rằng, câu đối, bài thơ như vậy là đúng nghĩa và đúng niêm luật chặt chẽ của Đường thi. 
Thật ra, tôi thuộc loại điếc không sợ súng!
Năm trước, khi biết tin chú Khuất Việt Dũng - con trai cả của ông Khuất Duy Tiến - được thăng quân hàm cấp Trung tướng,học hỏi, bắt chước người xưa, tôi kính tặng gia đình ông đôi Câu đối bằng chữ Nho :
“ Phụ tử tướng quân thiên hạ thiểu 
Công danh khanh tước quốc triều đa” 
Nghĩa là: Cha con cùng làm tướng trong thiên hạ là ít . Các chức tước khác của Quốc gia thì nhiều .
Hôm qua, 20/8/2016, nhân có việc tôi đến thăm nhà, ông Khuất Duy Tiến thân tình chỉ cho câu đối đó được viết bằng chữ Nho treo lên tường. Kèm theo dòng đề phía bên phải ( cũng bằng chữ Nho) : Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu đề hạ. 
Chia tay ông, tôi thật mừng !
ĐỌC TIỂU THUYẾT QUỶ VƯƠNG CỦA VŨ NGỌC TIẾN

Tôi quen Nhà văn Vũ Ngọc Tiến và vợ anh - chị Minh Thi - từ năm 2010. Đó là khi chúng tôi cùng tham gia với vai trò tư vấn cho Trung tâm Ma Rin ( tên đây đủ là Trung tâm tư vấn và trợ giúp pháp lý gia đình Liệt sĩ ) . Anh Tiến và chị Thi dã tham gia từ nhiều năm trước. 
Ngần ấy năm, qua nhiều lần tiếp xúc, trong mắt tôi, anh Vũ Ngọc Tiến - một chàng trai tuấn tú chính tông Hà Nội của mấy chục năm trước, mà nay vẫn giữ được phong độ trí thức đa tài, đàng hoàng, khiêm cung, lịch lãm. Với thể hình và gương mặt đẹp. Tóc bạc phơ. Da dẻ căng mịn, hồng hào. Có thể nói, ngày trước anh thuộc loại điển trai và bây giờ là đẹp lão. 
Ngày 20 tháng 7 năm 2016, tại buổi họp báo NGÀY TRỞ VỀ của Trung tâm Ma Rin, tôi được Nhà văn Vũ Ngọc Tiến tặng cuốn tiểu thuyết QUỶ VƯƠNG. Đây là cuốn sách thứ hai tác giả tự tay trao tặng. Trước đó, năm 2013, anh đã tặng tôi cuốn tiểu thuyết SÓNG HẬN SÔNG LÔ - cũng là tiểu thuyết lịch sử. 
Tôi đang chờ đến ngày đi dự buổi giới thiệu tiểu thuyết QUỶ VƯƠNG theo lời mời thân tình của tác giả - kế hoạch là ngày 6 tháng 8 năm 2016) - thì bỗng dưng trước đó vài ngày anh Vũ Ngọc Tiến thông báo rằng, buổi giới thiệu sách phải hoãn lại do cơ quan có chức năng thẩm quyền chưa đồng ý với nội dung một vài câu ở một trang viết. Tôi hỏi ở trang nào. Anh Tiến nói ở trang 213.
Tôi nghiệm ra một hiện tượng nghịch lý : Xưa nay hễ cuốn sách nào “ có vấn đề “, thì lượng độc giả tìm đọc nhiều hơn. Điều đó có phần kích thích tính hiếu kỳ. Nhưng theo tôi, cái chính là, độc giả muốn kiểm chứng đối chiếu giữa nhãn quan, nhận thức của mình với nội dung tư tưởng, nghệ thuật của tác giả và chính kiến của cơ quan kiểm duyệt. 
Tôi có thói quen đọc sách là: Mở sách đọc ngay vào nội dung để tiếp nhận thông tin trực tiếp; chưa đọc bât cứ lời giới thiệu, lời bình nào - Bởi tôi không muốn sự cảm thụ của mình lại thông qua lăng kính của người khác, dễ bị nhiễu loạn thông tin. Đọc xong sách rồi, tôi mới đọc đến lời bình, lời giới thiệu, để có sự so sánh đối chiếu nhận thức của mình với những người khác khi cùng đọc một cuốn sách. 
Tôi đọc khá kỹ cuốn tiểu thuyết QỦY VƯƠNG - Thậm chí tôi còn phát hiện ra vài chỗ in sai. 
Đã có người viết giới thiệu khá hay, khá kỹ về tiểu thuyết này.
Với tôi, tôi nhân thấy rằng: Đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử với nội dung phong phú. Phải chăng, đây là một phương pháp dạy lịch sử dưới hình thức văn chương có hiệu quả. Tác giả dùng phương pháp đồng hiện câu chuyện lịch sử cài đan với câu chuyện của thời nay. Tiểu thuyết dựng lên những câu chuyện lịch sử trong một cung đoạn suy tàn của Vương triều Lê sơ - từ vua Lê Uy Mục ( Quỷ Vương ) đến vua Lê Tương Dực ( Trư Vương ), cho đến khi cha con Mạc Đăng Dung - Mạc Đăng Doanh soán ngôi vua, dựng lên Vương triều nhà Mạc. Đồng thời, tác giả dựng lên câu chuyện của thời nay - một câu chuyện dù là hư cấu nhưng không hiếm, đã và đang diễn ra với đầy tính bi kịch. 
Với lối viết hấp dẫn, đầy ắp thông tin trên nhiều bình diện, góc cạnh; tác giả kể lại, tả lại với nhiều tình tiết sống động, lôi cuốn người đọc; Đồng thời qua đó, tác giả đưa ra những lời bình có tính triết lý khách quan. Đó như là những thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Tôi đọc một mạch tiểu thuyết QUỶ VƯƠNG. Nhưng khi gấp sách lại, một nỗi buồn man mác không tên xâm nhập cõi lòng tôi !

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2016

NHẬT KÝ HÀNH HƯƠNG
THÁNG 7- THÁNG TRI ÂN
Ngày 22/7/2016, chúng tôi- các CCB cơ quan chính trị TCKT - BQP, với tấm lòng tri ân, bắt đầu hành hương về lại Chiến trường xưa Quảng Trị, kính viếng các Anh hùng Liệt sĩ.
Xe xuất phát lúc 6 giờ tại HN. Theo Chương trình, Đoàn sẽ đến kính viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tham quan Địa đạo Vịnh Mốc, tham quan Di tích Thành cổ Quảng Trị, viếng Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn.
Trưởng đoàn và là Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, 72 tuổi nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm TCKT về Chính trị ; Các CCB khác cũng đều đã trên dưới 60 tuổi. Tuổi cao nhưng ai nấy đều rất phấn khởi hăng hái lên đường - Coi đây là một nghĩa cử tri ân và tâm linh.
Hơn 12 h, Đoàn dừng lại tại Nhà hàng cơm gà Thượng Hải, phố Hồng Sơn, ở phía Nam thành phố Vinh ( Nghệ An ) ăn trưa để tiếp tục lộ trình về Quảng Trị.
Bữa ăn ngon hội đủ 3 yếu tố : Thời điểm ăn; Khung cảnh ăn ( ăn ở đâu, ăn với ai ); Thức ăn ngon !
VIẾNG ĐẠI TƯỚNG
Chiều 22 tháng 7, nắng vàng rực rỡ, trời xanh, biển xanh, những hàng cây biếc ở Vũng Áng, cách bờ không xa là Đảo Yến trầm mặc.
Chúng tôi trong quân phục chỉnh tề gia nhập cùng nhiều đoàn người xếp hàng vào viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nguyên Tổng Tư lệnh QĐNDVN - Anh Cả LLVT- Vị tướng cùng song hành với Lịch sử Dân tộc. Tôi làm bài thơ :
Giữa chiều Hè nắng đỏ
Chúng cháu về Vũng Chùa
Viếng anh linh Đại tướng
Thỏa lời nguyền, ước mơ !

ĐỒNG HỚI
Chẵn 10 năm, nay mới có dịp về nghỉ lại Nhà khách 30/4 của Tỉnh đội Quảng Bình ở ven biển Thị xã Đồng Hới.
52 năm trước, tôi - chàng tân binh vừa tronf 16 tuổi của Sư đoàn 325 ( thực tế là tôi khai tăng thêm một tuổi để nhập ngũ ) - ngày Chủ nhật xúng xính trong bộ quân phục mới tinh, đi bộ từ Doanh trại gần ga Thuận Lý ra Thị xã chơi, với khoảng cách chừng 3 cây số.
Năm 1966, sau gần hai năm chiến đấu ở chiến trường, đơn vị chúng tôi - Trung đoàn 29 Quân khu 4 - hành quân từ Nam ra Bắc. Thủ trưởng Trung đoàn chọn đường đi dọc bờ biển để tạo ra bất ngờ, phòng tránh máy bay Mỹ. Một đêm Hè, không trăng sao, trời oi nồng, từ Bảo Ninh cả đơn vị lần lượt đi đò vượt qua sông Nhật Lệ sang thị xã Đồng Hới. Đêm ấy, trong những con đò đưa bộ đội qua sông, có con đò Mẹ Suốt – Người Mẹ chèo đò đã lập công xuất sắc dũng cảm chở bộ đội qua sông trong bom đạn ác liệt của máy bay Mỹ, được tuyên dương AHLLVTND.
Khi sang tới bờ, tôi ngước nhìn lên không xa, thấy Nhà thờ Động Tòa chỉ còn trơ lại tháp chuông. ( Được biết, thời gian trước đó, Nhà thờ đã bị bom Mỹ đánh sập tan tành ).
Nhiều năm sau này, khi đang làm việc, trong nhiều chuyến công tác, tôi đã nghỉ lại Đồng Hới. Lần gần nhất là năm 2006.
Đồng Hới trong tôi với nhiều kỉ niệm.
Đoàn chúng tôi đến đây trong một chiều tràn nắng, trời xanh, biển xanh, hàng cây xanh và cồn cát trắng.
Sáng tinh sương nhìn ra biển một màu xanh tím biếc, binh minh ló rạng phía chân trời.

CHIA TAY ĐỒNG HỚI
Sáng tinh khôi chia tay Đồng Hới
Tiếp hành trình về chiến trường xưa
Đường trải nhựa băng cồn cát trắng
Xe bon bon trong nắng sớm giao hòa !
7h 23/7/2016

VỊNH MỐC
Về thăm địa đạo Vịnh Mốc
Bồi hồi nhớ thuở chiến tranh
Hàng trăm người sống trong lòng đất
Suốt bao năm bám trụ kiên cường
9 h 23/7/2016

DỌC ĐƯỜNG VEN BIỂN
Qua Cửa Tùng rồi vào Cửa Việt
Nắng vàng, cát trắng, biển xanh
Mùa du lịch mà đường thưa, biển vắng
Bởi môi sinh chẳng còn được an lành !
10 h 23/7/2016

THÀNH CỔ
Lại trở về Thành Cổ
Giữa trưa Hè chói chang
Đồng đội nằm dưới cỏ
Thấu chăng - lòng tri ân
11 h 30 23/7/2016

NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN
Trưa 23/7/2016, sau khi thắp hương, dâng hoa ở Thành Cổ, buổi chiều chúng tôi lên Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn - Nơi an nghỉ của 10.263 Liệt sĩ thuộc Đoàn 559 ( Bộ Tư lệnh Trường Sơn) thời đánh Mỹ.
Đây là Nghĩa trang được xây dựng từ năm 1973. Từ đó đến nay được nâng cấp nhiều lần và hiện tại là một Công viên Nghĩa trang bề thế. Người có công đầu trong việc nêu chủ trương, chọn địa điểm, thông qua thiết kế và chỉ đạo thi công là Trung tương Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh BTL Trường Sơn.
Chiều nay, chuẩn bị kỉ niệm Ngày 27/7, nhiều đoàn khách từ nhiều địa phương, nhiều ngành về đây kính viêng tri ân Liệt sĩ.
Sau 9 tiếng chuông do anh Hoàng Anh Tuấn, anh Nguyễn Hữu Thìn và tôi thỉnh lên vang ngân, trong không khí thành kính, trang nghiêm, Đoàn chúng tôi thắp hương ở Đài Tổ quốc ghi công trước cây Bồ đề cao to cành lá xum xuê, xanh tươi.
Tiếp đó, thay mặt anh chị em trong Đoàn, tôi đã xúc động đọc bài thơ vừa sáng tác trên đường đi, kính dâng lên anh linh các Liệt sĩ:

TRI ÂN
Giữa ngày Hè chang chang nắng đỏ
Chúng tôi hành hương về chiến trường xưa
Kính viếng anh linh đồng đội một thời hoa lửa
Trọn vẹn tuổi xuân gửi lại chiến trường
Lại trở về bao kỉ niệm thân thương
Một thời đạn bom một thời tuổi trẻ
Cháy bỏng khát khao có bao giờ hơn thế
Bao lớp người hy sinh cho Tổ quốc trường tồn !.
Kết thúc Lễ dâng hoa, dâng hương, mọi người tỏa ra đi thắp hương mộ Liệt sĩ trong Nghĩa trang.
Tôi đến khu mộ các Liệt sĩ là Anh hùng. Tại đây, tôi đã thắp hương Trung tá Lê Văn Lẫm, hy sinh năm 1972, khi làm Trung đoàn trưởng Pháo Cao xạ Đoàn 559.
Tôi gọi ông bằng chú họ. Nhà chú cách nhà tôi 50 mét. Chú nhập ngũ cùng ngày với Cha tôi - 15 tháng 3/1946. Hai năm sau tôi mới sinh.
Khi tôi ở chiến trường ra, Cha tôi kể: Khoảng giữa năm 1968, trong một lần ở Chiến trường ra Bắc họp, được tranh thủ về nhà, chú Lẫm sang chơi, nói với Cha tôi : " Lần này vào lại trong đó, tôi sẽ cố tìm gặp cháu".
Nhưng chú cháu chưa một lần gặp nhau tại chiến trường, thì chú Lê Văn Lẫm đã anh dũng hy sinh trong một trận chiến đấu quyết liệt với máy bay Mỹ, được Nhà nước truy tặng Danh hiệu Anh hùng LLVTND.
Tôi đã nhiều lần lên viếng Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn. Và lần nào cũng vậy, tôi đều đến kính viếng mộ phần chú Lê Văn Lẫm.
16 h 23/7/2016

ĐÔNG HÀ
Đêm ngủ lại Đông Hà
Lòng xốn xang nỗi nhớ
Đồng đội xưa một thuở
Nay ai mất ai còn
Người mất - tuổi thanh xuân
Người còn - thành già cả
Chiến tranh và thời gian
Ấy - hai điều nghiệt ngã
Đông Hà xưa bé nhỏ
Thị xã ven dòng sông
Đông Hà nay thành phố
Thênh thang mấy con đường
Tạm biệt Đông Hà hẹn nhiều lần trở lại
Mảnh đất thiêng đọng mãi giữa hồn tôi !
8 h 24/7/2016

ĐƯỜNG 9
Xe bon bon qua đồi núi trập trùng
Giữa nắng sớm ban mai rừng cây thắm biếc
Thuở chiến tranh dưới vòm trời khốc liệt
Băng vượt qua đây biết mấy những binh đoàn
9h 24/7/2016

KHE SANH
Kỷ niệm một thời hoa lửa
Ập ùa dệt những trang thơ
Trời Khe Sanh một màu xanh muôn thuở
Hàng cây xanh trong nắng khẽ đung đưa
11 h 24/7/2016

MỘT NGÀY

Sáng Đông Hà, Khe Sanh, Lao Bảo
Trưa Dakrong, Chiến khu Ba Lòng
Chiều Long Đại - một thời máu lửa
Tối Hà Tĩnh thành phố quê hương
Một ngày đi qua biết mấy dặm trường
Tìm lại tuổi xuân, tri ân đồng đội
19 h 24/7/2016

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

MỘT VÀI CẢM NGHĨ

Hôm nay, 17/7/2016, tôi đọc Báo QĐND bài lược ghi một số Tham luận tại Hội thảo do Bộ Quốc phòng tổ chức với chủ đề : “ Không có gì quí hơn Độc lập - Tự do “ trong Lời Kêu gọi của Bác Hồ cách đây tròn 50 năm trước.
Các tác giả trên từng phương diện, với cách tiếp cận và đề cập khác nhau, nhưng đều hay, đều đúng.
Theo đó, tựu trung lại, “ Không có gì quí hơn Độc lập - Tự do" trong Lời Kêu gọi của Bác Hồ ngày 17/7/1966 là thể hiện :
- Quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của Tổ quốc chúng ta;
- Truyền thống dựng nước và giữ nước trong lịch sử mấy ngàn năm của Dân tộc ta;
- Khát vọng cháy bỏng ngàn đời của Nhân dân ta;
- Chân lý phổ biến của thời đại;
- Cương lĩnh, mục tiêu chiến đầu, tư tưởng chỉ đạo hành động;
- Lẽ sống, nguồn sức mạnh của mỗi con người, từng tập thể và cả Dân tộc; ...
Hồi đó, tôi - một chiến sĩ, 18 tuổi, chiến đấu trên chiến trường Miền Nam được nghe Lời Kêu gọi của Bác Hồ qua Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam giữa những ngày cam go, ác liệt. Lời Kêu gọi cuả Bác Hồ là hiệu triệu, là Tiếng kèn xung trận.
Trong cuộc chiến đấu quyết liệt, một mất một còn, rất nhiều đồng đội cùng trang lứa với tôi đã anh dũng hy sinh ở tuyến đầu. Với họ, mãi mãi tuổi hai mươi ...
Nhiều năm sau này, tôi đã nhiều lần đọc câu nói bất hủ “ Không có gì quí hơn Độc lập - Tự do” bằng chữ mạ vàng mỗi khi vào Lăng viếng Bác. Và gần đây nhất, ngày 26/6/2016, trong chuyến tham quan du lịch Nga, tôi đã đọc câu nói đó được đúc đồng bằng tiếng Nga gắn lên Tượng đài Hồ Chí Minh ở Matscova.
Cảm nghĩ của tôi là :
1 - Câu nói của Bác Hồ có tính so sánh. Vậy so sánh với cái gì để nói rằng Độc lập - Tự do là quí hơn tất cả?
Theo thiển ý của tôi: Ở đời, cái quí nhất của mỗi con người là mạng sống của mình. Châu báu, bạc vàng, danh vọng, địa vị, … bất cứ cái gì, dù có giá trị đến đâu, cũng không thể đem ra để đánh đổi được mạng sống của họ. Nói một cách nôm na, đơn giản, dễ hiểu là : Phàm là con người thì bất cứ ai cũng sợ chết ! Ấy vậy mà, thực tiễn lịch sử diễn ra trên Đất nước ta khẳng định rằng: Mọi người dân Việt - từ thế hệ này sang thế hệ khác - mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng đã nhất tề đứng lên, bất khuất mọi gian khổ, ác liệt, sẵn sàng chấp nhận hy sinh “ Dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí". Với mục tiêu cao cả là giành và giữ bằng được Độc lập - Tự do cho Tổ quốc.
Bởi sự chi phối của điều kiện địa lý, lịch sử, từ ngàn xưa đến nay, cái giá mà Nhân dân ta phải trả cho Độc lập - Tự do của Tổ quốc là vô cùng to lớn. Có ai biết số liệu thương vong của quân dân ta trong các cuộc kháng chiến phá Tống, bình Nguyên, đuổi Minh, Thanh ra khỏi bờ cõi.
Dưới sự chỉ huy của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ, để chiến thắng 29 vạn quân Thanh trong mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789), chắc chắn số thương vong của quân dân ta không hề ít.
Trong kháng chiến chống Pháp và nhất là kháng chiến chống Mỹ, để giành được chiến thắng trong từng giai đoạn, đi đến thắng lợi cuối cùng, số lượng quân dân ta hy sinh còn lớn hơn nhiều.
Phải chăng, khi Bác Hồ nói : “Không có gì quí hơn Độc lập - Tự do" ngoài các căn cứ lý lẽ như dã nói trên, cũng còn xuất phát từ điều đó!
2 - “ Không có gì quí hơn Độc lập - Tự do “ là chân lý tư tưởng trong suốt chiều dài lịch sử của Dân tộc ta.
Chân lý tư tưởng đó không chỉ là mục tiêu, động lực trong Chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, mà cả trong Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - Bảo vệ Nhân dân, bảo vệ thành quả Cách mạng; Bảo vệ lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, đảo, thềm lục địa…
Chân lý tư tưởng đó không chỉ diễn ra trong lĩnh vực Quân sự, Quốc phòng - lĩnh vực then chốt trong bảo vệ Tổ quốc - mà còn diễn ra trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của Đất nước : Chính trị, Kinh tế, Văn hóa, …
Hễ còn có sự chi phối của các thế lực nước ngoài về: Kinh tế, Tài chính, Văn hóa, Môi trường ... dưới dạng này hay dạng khác, với mọi cấp độ, qui mô, hình thức, ...,thì hiển nhiên Độc lập-Tự do của Tổ quốc chúng ta chưa trọn vẹn.
Một vài cảm nghĩ của tôi là vậy !

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

NÓI ÍT - MỘT TÍNH CÁCH MẤY MẪU NGƯỜI

N M Đ

Trong đời sống cộng đồng - trừ những người nói nhiều do chức năng công việc - còn nói chung, mọi người thường thiện cảm với tuýp người nói ít. Chẳng thế mà, người đời đã khái quát hình tượng : Tạo hóa sinh ra con người có 2 tai, 2 mắt mà chỉ có 1 miệng - Điều đó như có ý nhắc nhở con người rằng: Trong giao tiếp với người khác - nhất là giữa đám đông - chủ yếu là nghe, quan sát, học hỏi; và hạn chế nói.
Biết bao câu danh ngôn khuyến cáo về việc nói nhiều: “ Bệnh tật vào từ miệng. Tai họa từ miệng mà ra”, “Hãy nghĩ kỹ về điều mình nói. Đừng nói hết mọi điều mình nghĩ”, “Lời chưa nói ra, ta là chủ nó. Lời nói ra rồi, nó là chủ ta”, “ Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” ( Một lời nói ra, cỗ xe bốn ngựa khó đuổi kịp ), " Phúc thủy nan thu " ( Cốc nước đã đổ xuống, khó thu lại được), “ Nếu anh có một người bạn ít nói, thì đó là một người bạn chân thành. Ngược lại, nếu anh có một kẻ thù ít nói, thì đó là kẻ thù nguy hiểm nhất”, “ Nên để người ta dành thời gian mà nghĩ, đừng bắt người ta phải nghe nhiều”, ..v..v…
Tựu trung lại, nói ít là một điều nên làm.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở đời cùng một tính cách nói ít, nhưng lại có mấy mẫu người khác nhau. Và không phải người nào nói ít cũng đều là tốt.
1 - Có một số rất ít thuộc loại người uyên bác. Họ coi nói ( ngôn ngữ ) là phương tiện giao tiếp nhằm diễn đạt tư tưởng, trí tuệ, tình cảm. Nên khi họ nói, người nghe cảm thấy như đang đếm chữ. Những điều họ nói ra chính xác tựa như viết; chẳng bao giờ sai, thừa, thiếu.
2 - Có nhiều người nói ít hoặc nói ngắn gọn, vì trước khi nói, họ suy nghĩ thấu đáo, kỹ càng: Mình là ai, nói cái gì, nói với ai, nói ở đâu, nói lúc nào, nói đến đâu, lập luận logic thế nào … và điều quan trọng nhất là nói để đạt mục đích gì. Có những vấn đề trong cuộc sống họ xét thấy nói cũng được mà không nói cũng được, thì dứt khoát là họ không nói.
3 - Có người từ khi sinh ra, tính cách vốn dĩ rất ít nói - thuộc diện trầm tĩnh, phản ứng chậm. Họ chỉ nói cái gì thật cần thiết vào thời điểm thích hợp và có liên quan trực tiếp đến bản thân.
4 - Có người do kiến thức, năng lực rất hạn chế - thực ra là trong tư duy của họ không có gì để trình bày. Hễ ai nói gì, vì không hiểu, nên bề ngoài họ tươi tỉnh gật gù, tỏ thái độ tán thưởng. Thường là, họ không có chính kiến trước mọi lập luận, phương án. Đến khi cuộc họp biểu quyết lựa chọn ra quyết nghị, thì dứt khoát là họ quan sát cả bốn phía và bao giờ cũng ngả theo số đông. Nói chung, họ thuộc mẫu người chẳng sắc nhưng cũng ít khi sai! Họ là người luôn biết cách hòa đồng với xung quanh. Vì vậy, họ luôn được đánh giá là: trầm tĩnh, điềm tĩnh, chững chạc, chín chắn, cẩn trọng và đặc biệt là rất khiêm tốn. Nhờ đó, họ thường được tín nhiệm, được cân nhắc trong công việc - dù xét ra năng suất, chất lượng, hiệu quả của họ thuộc loại bình bình, thường thường bậc trung.
Quả thật ở đời, nhìn bề ngoài, nhiều người nhầm lẫn tai hại: Một kẻ không biết gì để nói lại cứ tưởng đó một người thông thái im lặng.
Đôi điều lạm bàn tản mạn trên đây, chắc rằng không trùng với quan niệm của nhiều người khác. Âu đó cũng là bình thường. Trong cuộc sống, trên từng phương diện, muôn người muôn nẻo nghĩ!
Top of Form


XƯNG HÔ - MỘT VÀI Ý NGHĨ VỤN

N M Đ

Trong quan hệ con người với nhau, điều đầu tiên là xưng hô. Được biết, người nước ngoài xưng hô với nhau đơn giản hơn ta. Dĩ nhiên, cùng một đại từ nhân xưng, nhưng ngữ điệu biểu cảm khác nhau - tùy thuộc mối quan hệ cụ thể. Người Việt ta xưa nay theo nếp “ gia đình chủ nghĩa”, hoặc “ gia đình hóa xã hội” trong xưng hô. Nhìn một cách tổng thể, xưng hô thế nào là biểu thị mối quan hệ và văn hóa ứng xử của mỗi con người.
Từ ngày còn nhỏ, tôi được các bậc bề trên bày dạy về cách xưng hô: Trong họ xem hàng, ngoài làng xem tuổi, ra xã hội xem chức. Đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy hoàn toàn đúng.

Tôi có người anh con bác ruột hơn tôi 17 tuổi. Ngay từ thuở bé, tôi đã được anh ấy gọi bằng chú - chú của các con anh. Kế đó, các em tôi đều xấp xỉ - thậm chí ít hơn - tuổi con anh, nhưng trong tiếp xúc, anh đều gọi họ bằng chú, bằng cô. Tương tự, tôi có một người chú họ hơn tôi 19 tuổi, là Giáo sư sáng danh, vào Đảng từ khi tôi chưa sinh. Thế nhưng, bao giờ cũng vậy, trong tiếp xúc ông đều thân mật gọi tôi bằng anh - anh của các con ông. 
Khi còn đương chức, do tính chất công việc, tôi được tiếp xúc quan hệ với khá nhiều cán bộ cao cấp. Qua đó, tôi học được ở họ nhiều điều hay. Và có thể nói, cái “ găm “ vào đầu tôi đầu tiên và cũng khó dứt ra được là cách xưng hô của các cụ với cấp dưới. Khi tiếp xúc với cấp dưới, bất phân tuổi tác, cương vị, mối liên hệ,… các cụ không bao giờ gọi họ bằng “ thằng “, hoặc bằng “ hắn”. Các cụ dùng chung một đại từ : “ông” rất thân thiết, dung dị khi nói chuyện với công vụ, lái xe, thư ký, trợ lý,.. Tôi cho rằng, cách xưng hô như vậy là đúng trong mọi hoàn cảnh, đối tượng, thể hiện vừa nghiêm túc, vừa thân tình, bình đẳng. Người đối thoại cảm thấy được tôn trọng nhân cách.
Được biết, trước đây có lần Bác Hồ không bằng lòng với cách tuyên truyền ấu trĩ là gọi người đứng đầu phía đối phương bằng “ thằng nọ”, “ thằng kia”. Bác bảo, dù thế nào, họ cũng là những người đã có tuổi, không được gọi thế.
Khi Miền Nam mới giải phóng, tôi gặp nhiều người dân sống dưới chế độ cũ. Trong trao đổi chuyện trò, họ đều nghiêm túc gọi những người cầm quyền trước đây là: “ Cụ Ngô” “ Ông Thiệu”, “ Ông Kỳ”, hoặc “ Ông Minh Lớn”.

Vậy mà, trong mấy năm gần đây, xuất hiện khá nhiều một hiện tượng không mấy hay ho. Đó là trên các bàn nhậu, bên quán cóc ven đường, trên phương tiện giao thông, ngoài chợ búa,…Ở bất cứ đâu, trong câu chuyện về thế thái nhân tình - mà ai cũng có thể tham gia được - khi cao đàm khoát luận, nhiều người hứng chí công khai gọi bất cứ ai cũng là : “ Thằng” !
Đây là một hiện tượng xã hội đáng xem xét, cần có cách tiếp cận, nghiên cứu nghiêm túc.
Có thể, nhiều người do quá bức xúc, ức chế, bất bình - thậm chí là phẫn nộ trước các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, quan liêu của một bộ phận không nhỏ có chức quyền trong bộ máy Nhà nước - mà người ta gọi như thế. Nhưng, trên thực tế cũng có một loại người chẳng đủ thông tin, thấy người ta gọi thì cũng chạy theo “mốt”. Không gọi thế, hóa ra mình thua kém người khác! Chắc có người cho rằng, gọi như thế mới “oách”, mới " oai ", là một cách để tự nâng mình lên!

Sự vật hiện tượng nào cũng có nguồn gốc sâu xa và nguyên nhân trực tiếp. Câu hỏi đặt ra: Tại sao trước đây - kể cả thời kỳ đất nước khó khăn nhất - cũng không có hiện tượng này. Và ngay như bây giờ, không phải ai cũng “ bị” gọi như thế.
Nếu cho bõ tức, xả stress, thì cách gọi mọi cấp lãnh đạo bằng “thằng” cũng chẳng thu được kết quả gì. Miệng nói tai nghe, tạo nên một thói quen xấu trong từng con người và làm vẩn đục bầu không khí xã hội. 
Thiết nghĩ, bất cứ ai tự xét thấy có tài năng thật sự, đem lại lợi ích cho Dân, cho Nước, thì xin mời đứng ra công khai hiến kế. Chửi đổng cho sướng miệng, ở chỗ nọ chỗ kia, phỏng có ích gì!

Xét đến cùng, ở bất cứ đâu, với bất cứ ai cũng vậy, tôn trọng người khác tức là tự tôn trọng chính mình. Sự tôn trọng người khác trong quan hệ, trước hết thể hiện qua cách xưng hô. Các cụ xưa dạy rằng: Danh có chính, ngôn mới thuận; ngôn có thuận, sự mới thành!

Hiển thị thêm cảm xúc
Bình luận