Menu ngang

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

THẾ NÀO LÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY


                                                   Giáo sư  NGUYỄN ĐÌNH CHÚ


 1. Trên đất nước ta, từ khi có đường lối đổi mới, giường như đã có trào lưu đổi mới tư duy. Từ các nhà lãnh đạo đất nước, các bộ ngành, các cơ quan, đều nói đổi mới tư duy. Một số bậc thức giả cùng bàn đến thế nào là đổi mới tư duy. Đó là điều đáng mứng cho đất nước. Bởi chính sự đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất, tư duy, hơn gì hết, mới là động lực phát triển đất nước.
2. Tuy nhiên, hiểu thế nào là đổi mới tư duy sao cho thật đúng, thật tường minh, hẳn là chuyện hoàn toàn không đơn giản mà không tường minh về sự đổi mới tư duy thì chắc chắn ý nghĩa thực tiễn, tác dụng thực tiễn sẽ bị hạn chế, nếu không muốn nói là vô tác dụng.
3. Để tường minh thế nào là đổi mới tư duy trên phạm vi đất nước hôm nay, không thể không thông qua công việc nghiên cứu, hội thảo khoa học. Và ở đây, vai trò của trí thức phải được đặt lên hàng đầu. Hàng đầu trong việc khai mở nâng cao phẩm chất tư duy cho xã hội. Hàng đầu trong việc tự nâng cao phẩm chất tư duy của chính mính là tri thức. Trong việc nâng cao phẩm chất tư duy của xã hội, trước hết lại phải đặt ra với ngành giáo dục và đào tạo. Mà với ngành Giáo dục-Đào tạo thì trước hết lại phải đặt ra với nền giáo dục đại học.
1. Nhận diện tư duy
 1.1. Tư duy là đối tượng nghiên cứu của cả hai ngành khoa học lớn: tự nhiên (sciences natureles) và xã hội (sciences sociales). Với khoa học tự nhiên mà cụ thể là sinh học đã nghiên cứu đại não thần kinh vốn là rất vi diệu. Thành tựu nghiên cứu này ngày một lớn nhưng vẫn chưa phải đã hết vấn đề: Nhờ những thành tựu đó mà y học hiện đại, kết hợp với vật lý học hiện đại, đưa lại những bước tiến phi thường trong việc chữa bệnh cho loài người. Với khoa học xã hội, tư duy là đối tượng nghiên cứu trước hết của tâm lý học, kế đến là triết học, ngôn ngữ học, rồi nữa là giáo dục học, nghệ thuật học, xã hội học, kinh tế học, quân sự học… Các tôn giáo, ví như Phật giáo, cũng đã có những kiến giải rất phong phú về tư duy Phật giáo. Trên thế giới, kể cả ở Việt Nam ta, đã có khoa học về tư duy. Theo chỗ tôi biết, ở Việt Nam ta, công trình nghiên cứu tư duy đáng được quan tâm, trước hết là công trình “Tìm nguồn gốc ngôn ngữ và tư duy” (Recherches sur l’origine du langague et de la conscience) của triết gia Trần Đức Thảo, viết bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pháp, được dịch ở một số nước, và cũng đã được dịch ra tiếng Việt. Công trình này chính là dựa vào thành tựu của sinh vật học mà tổng kết trên phương diện triết học sự phát triển của ý thức và ngôn ngữ. Trước đó, giáo trình “Biện chứng pháp thần kinh” (1956-1957) cũng đã nghiên cứu từ trạng thái vô sinh đến hữu sinh và phát triển qua các loài từ giun đến bò sát, đến cá, đến chim, đến động vật có vú, đến vượn người, đến người có đại não. Với loài người, sự xuất hiện của ngôn ngữ sẽ khẳng định sự tồn tại của tư duy. Phan Đình Diệu trong một tiểu luận về lịch sử phát triển tư duy cũng cho người đọc thấy sự phát triển là từ tư duy huyền thoại đến suy luận lôgic, đến trí tuệ khoa học (xen vào là tư duy lôgic hình thức), đến tư duy hệ thống… từ trực giác thị giác đến trực giác trí tuệ.
1.2. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, phát hiện, định danh về thế giới tư duy của nhiền ngành, nhiều phương tiện, rất mực phong phú, chứng tỏ sự phong phú, huyền diệu, kể cả sự bí ẩn của tư duy loài người thì có: cảm giác, tri giác, lý tính, trực giác, ý thức, vô thức, tiềm thức, tiền ý thức, cảm xúc, cảm tưởng, cảm tình, cảm thức, tâm thức, tâm tưởng, tâm linh, tâm thế, tâm trạng, tâm khảm, tâm giao, tâm địa, tâm lý, tâm thần, tâm tính, tâm hồn, hoàn hồn, thần kinh, thần sắc, thần thái, thần tình, thần diệu, thần giao, thần giao cách cảm, tinh thần, tư tưởng, ý tưởng, tưởng tượng, liên tưởng, ảo tưởng, mộng tưởng, tương tư, suy tưởng, viễn tưởng, hồi tưởng, hồi ức, hồi vọng, trí tuệ, trí năng, tuệ năng, ngộ, đốn ngộ, giác ngộ, diệu ngộ, nhập diệu, thiền định, nhập thiền, mặc cảm, mặc định, tư duy huyền thoại, tư duy lôgic, tư duy khái niệm, tư duy trừu tượng, tư duy cụ thể, v.v… tư duy văn học, tư duy toán học, tư duy triết học.v.v.. Đúng tư duy là một sản phẩm kỳ diệu tuyệt vời được Thượng đế ban cho loài người và phát triển cùng sự phát triển sự sống của loài người để ngày một xứng đáng là chúa tể của muôn loài.
1.3. Tính chất cá thể và sự phái sinh của tư duy: Nhân loại có 6 tỷ người là có 6 tỷ tư duy cá thể. Hai anh em sinh đôi thì mỗi người vẫn là một tư duy. Nhưng tư duy lại đã phái sinh một cách thiên hình vạn trạng theo sự sống thiên hình vạn trạng của loài người. Từ đó mà có tư duy dân tộc, sắc tộc, tư duy giới tính, tư duy lứa tuổi, tư duy theo trình độ học vấn, theo trình độ thể chất, theo cái ngành nghề, theo cái hình thái thiết chế xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp, quân sự.v.v.. Theo sự phân ngành phân nhánh trong khoa học tự nhiên và xã hội, vừa ở cấp độ khái quát vĩ mô vừa ở cấp độ vi mô cụ thể. Chỉ nói riêng ở bộ môn văn trong ngành nghệ thuật, đã có tư duy sáng tạo, tư duy lý luận, tư duy phê bình, tư duy nghiên cứu. Riêng trong sáng tác, cũng đã có bao nhiêu là kiểu tư duy liên quan đến từng thể loại. Tư duy văn khác tư duy thơ. Trong văn, tư duy tiểu thuyết khác tư duy truyện ngắn, khác tư duy phóng sự, ký sự, tuỳ bút… Trong thơ cũng vậy, mỗi thể thơ có một kiểu tư duy riêng. Tư duy Đường luật khác tư duy thơ tự do, khác tư duy thơ lục bát. Tư duy trường ca khác tư duy thơ thông thường… Tư duy văn học thời trung đại khác thời hiện đại. Tư duy được phát sinh không phải là bất biến mà có vận động. Không phải tự biệt lập mà còn có sự đan xen, liên kết. Rõ ràng ta lại thấy thế giới của tư duy là vô cùng phong phú đa dạng, đa diện, vô cùng huyền diệu, kể cả ví ẩn.
1.4. Nói qua về sự khác nhau giữa kiểu tư duy phương Đông (trong đó có Việt Nam) với kiểu tư duy phương Tây. Nói đến vấn đề này, vô hình trung, ít nhiều đã đặt mình vào cái thế chơi vơi bởi lẽ đã gặp phải tính xác định không đơn giản về hai khái niệm Đông Tây mà trong nhận thức lịch sử từng có sự biến đổi này nọ. Tuy vậy, trong giới hạn đó, thực tế đã có người từng nêu lên vấn đề mà không phải là không có điều khả thủ. Với tôi đã thu nhận được hai điều như sau: a. Sự khác nhau về kiểu tư duy: Nếu tôi không lầm thì người Việt Nam đầu tiên nói đến sự khác biệt giữa tư duy phương Đông và phương Tây là chủ bút Nam Phong – Phạm Quỳnh khi đã viết: “…. đúng là sự khác biệt cơ bản chia cách phương Đông và phương Tây, châu Á và châu Âu. Một phía là niềm say mê cái tuyệt đối và cái toàn thể, phái kia, chủ ý vào cái ngẫu nhiên và cái riêng biệt”. Người tiếp sau là học giả Cao Xuân Huy trong sách “Tư tưởng phương Đông – gợi những điềm nhìn tham chiếu” NXB Văn học 1994. ở Thiên II “Phương thức chủ toàn” và phương thức “chủ biệt” của tư tưởng và từ đó mà có hai ngả rẽ Đông Tây khác nhau. Từ quan điểm của hai học giả này, đặc biệt là từ hai khái niệm “chủ toàn” và “chủ biệt”, người ta đã nói tiếp về hai kiểu tư duy: cầu tính” (esprit sphèrique, globale) của phương Đông, tuyến tính (esprit linéaire) của phương Tây. Đặc điểm của tư duy cầu tính là tính hỗn hợp trong tư duy. Do đó kém tinh thần duy lý và khả năng phân tách (analytique). Ngược lại, với kiểu tư duy tuyến tính thì lại rất giàu khả năng phân tách, do đó mà thuận lợi cho việc phát triển khoa học thực nghiệm, khoa học kỹ thuật để tạo ra một nền văn minh vật chất khổng lồ. Học giả Phạm Quỳnh cũng đã viết tiếp: “chỉ cần rút ra từ đó tất cả các hệ quả để khắc hoạ nên những nét của cái nền văn mình phương Tây và phương Đông. Đắm mình trong chiêm ngưỡng cái lý tưởng chăm chăm vào cuộc tìm kiếm và đuổi theo cái tuyệt đối phương Đông đã đông cứng lại trong sự phát triển của mình, dửng dưng với tất cả những tiến bộ của thế giới bên ngoài, không đủ sức chống lại các bộ lạc du mục man dã xâm chiếm đất nước mình… và mỗi lần như vậy lại rơi vào cảnh phụ thuộc nhục nhã, một nỗi kinh hoàng tinh thần” mà cái dân tộc của họ không bao giờ cuộc sống có thể hoàn toàn bình phục được”. Các nhà duy tân đầu thế kỷ XX cũng đã đưa ra hai khái niệm: văn minh tĩnh và văn minh động để nói về sự khác nhau giữa văn minh phươg Đông và văn minh phương Tây xuất phát từ sự khác nhau về hai kiểu tư duy như trên đã nói.
 Từ sự khác nhau về tư duy giữa phương Đông và phương Tây cũng đã dẫn đến thực tế: một bên coi trọng chủ nghĩa duy linh, một bên coi trọng chủ nghĩa duy lý. Chủ nghĩa duy linh thiên về hướng nội, chủ nghĩa duy lý thiên về hướng ngoại. Hướng nội nên có đời sống tâm linh phong phú nổi trội. Hướng ngoại nên phát triển khoa học kỹ thuật từ đó tạo ra một nền văn minh vật chất bậc cao so với phương Đông. Với phương Đông, chữ Tâm có nội dung bao la đầy đặn, khác chữ Tâm của phương Tây. Năm 1937, giáo sư Đặng Thai Mai viết thư hỏi vị nhạc phục là cụ cử nhân Hán học Hồ Phi Thống về tình hình triết học thế giới. Trong bức thư trả lời con rể, vị nhạc phụ vốn say mê triết học này đã nói về cuộc đấu tranh sôi động ở phương Tây giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Nhưng lưu ý ông con rể cần phân biệt chữ Tâm của phương Đông và của phương Tây. Một sự lưu ý quá đỗi đích đáng. Với chữ tâm phương Đông, Nguyễn Du chẳng đã viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Xem Từ Hải của Trung Quốc sẽ thấy khối lượng từ tố đứng đầu là chữ tâm rất lớn. Điều đó cũng chứng tỏ ở phương Đông (cụ thể ở Trung Hoa) với văn hoá Hán, chữ Tâm có một vị trí lớn lao biết chừng nào. Tư duy phương Đông đã tạo ra cho phương Đông một đời sống vật chất rõ ràng là kém phương Tây. Tuy nhiên, việc đánh giá hơn thua ở đây lại không đơn giản. Bởi đã đến lúc cần nhìn thêm vào mặt trái của cái huân chương phương Tây. Phát triển, giàu có phi thường nhưng cũng phá hoại môi sinh một cách phi thường. Chẳng phải đã có người của phương Tây kêu gọi phương Tây hãy tìm về phương Đông, dĩ nhiên là phương Đông cổ trung đại vốn coi trọng đời sống tinh thần, có đời sống tâm linh siêu hình nhưng lại có ý nghĩa thực tiễn không nhỏ chút nào. Muốn hiểu đúng phương Đông cổ trung đại thì phải hiểu đúng đời sống tâm linh trong đó có thuyết “thiên mệnh”, thuyết tai dị” và những hình thức thiết chế hoá đời sống tâm linh như đã có. Những gì được nói trên đây chủ yếu là nói về phương Đông và phương Tây cổ trung đại. Chứ trên tiến trình giao lưu Đông Tây ngày một mở rộng thì sự khác biệt đó đã nhường chỗ dần cho sự thống nhất trong đó, dĩ nhiên, ảnh hưởng của phương Tây đối với phương Đông là chính.
2. Thử bàn về yêu cầu đổi mới tư duy để phát triển đất nước hôm nay và mai sau Đúng là đang có trào lưu đổi mới tư duy mà tôi không thể theo dõi hết những gì đã có. Tuy nhiên, sơ bộ cũng thấy sự đổi mới tư duy đang được diễn ra chủ yếu ở hai bình diện sau: a. Trước hết và phổ biến là ở cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến các bộ, các ngành, các cơ quan cụ thể. Ví như với bộ Giáo dục và đào tạo của tôi thì đó là “đổi mới tư duy quản lý”. Ví như với ga Hàng Cỏ mà tôi biết được qua đài báo là “đổi mới tư duy bán vé”.v.v.. b. Bàn đến sự đổi mới tư duy ở cấp độ vĩ mô, thuộc phạm vi toàn bộ sự sống của đất nước mà có vị đã chủ trương: hãy từ bỏ chủ nghĩa duy tình duy cảm để chuyển sang chủ nghĩa duy lí. Chúng ta nghĩ gì trước hiện tình đổi mới tư duy ở hai trạng thái đó? Đúng là không thể phủ nhận ý nghĩa và tác dụng của việc đổi mới tư duy đã có đó. Nhưng cũng xin phép được nói thực lòng: quan niệm đổi rmới tư duy như trên chưa thật sự trúng vấn đề, chưa đủ sự chắc chắn của vấn đề. Bởi với trạng thái thứ nhất thì nói là đổi mới tư duy cũng được vì làm việc gì mà chẳng liên quan đến tư duy. Hôm qua, quản lý bằng các việc làm, cách làm này thì có tư duy của việc làm, cách làm này. Hôm nay, quản lý bằng các việc làm khác, cách làm khác thì cũng có tư duy của việc làm khác, cách làm khác. Không ai có thể bác được điều đó. Nhưng ở đây, trong thực tế, lại có hiện tượng vẫn là tư duy cũ, dù hôm qua làm thế này, hôm nay làm thế khác. Rõ là thay đổi cách làm, chưa hẳn đã thay đổi tư duy. Đổi mới tư duy với yêu cầu đích thực, còn có vấn đề khác cơ bản hơn, nền tảng hơn. Còn chủ trương rằng đổi mưói tư duy là từ bỏ chủ nghĩa duy tình duy cảm để chuyển sang chủ nghĩa duy lí thì quả có chút “hạt nhân hợp lý” bởi lẽ đất nước đang cần phát triển chủ nghĩa duy lý. Nhưng xét ở cấp độ vĩ mô, trước hiện tượng thiên hình vạn trung rất mực biến huyễn, huyền diệu, thậm chí còn là bí ẩn như đã nói thì cách đặt vấn đề như thế là phiến diện, bất ổn. Điều cần từ bỏ là chủ nghĩa duy tình duy cảm cực đoan phiến diện, một chiều chứ không phải là chủ nghĩa duy cảm duy tình. Thứ này mà bỏ đi thì con người sẽ là thế nào? Riêng với văn chương, đặc biệt là với thơ ca vốn là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, thì còn đâu mảnh đất để tồn tại nếu đã khai tử chủ nghĩa duy tình, duy cảm. Vậy thì đổi mới tư duy là thế nào? Theo ý chúng tôi, nội dung đổi mới tư duy vẫn phải được đặt ra ở hai bình diện như đã có. Bình diện thuộc phạm vi cụ thể của cái hình thái hoạt động cụ thể vốn là thiên hình vạn trạng trong sự sống của đất nước. Bình diện thuộc phạm vi vĩ mô, bao trùm lên toàn bộ sự sống của đất nước. Mỗi bình diện có nội dung riêng cần đổi mới, nhưng vẫn có quan hệ hỗ trương. Ở bình diện cụ thể, sẽ là chuyện người người đổi mới, ngành ngành đổi mới, việc việc đổi mới… Mà muốn đổi mới thực sự để có kết quả thì phải hiểu đúng thế nào là đổi mới chứ không phải là chuyện “sáng bốn chiều ba” “sáng ba chiều bốn” (triêu tam mộ tứ) của Thư Công nuôi khỉ thuở xưa. Cuốn sách “Bản đồ tư duy trong công việc” (Mind maps at work) của Bộ Giáo dục và Đào tạo đang được hơn 250 triệu người trên thế giới sử dụng và được Nhóm tư duy mới (New Thinking Group) dịch. Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Việt Nam - năm 2007, hẳn sẽ hỗ trợ đắc lực cho chúng ta ở bình diện cụ thể này. Mặc dù chủ yếu là trên phương diện kỹ thuật, thao tác. Qua “Lời giới thiệu” sách (cho bản tiếng Việt), được biết các bạn sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội đã ứng dụng thành công “Bản đồ tư duy” mà đạt kết quả học tập rất cao. Phải chăng, có thể và mở rộng phong trào ứng dụng “Bản đồ tư duy” này, nếu đúng đã có kết quả thực. Trở lên là nói về sự đổi mới tư duy ở bình diện việc làm cụ thể trong cuộc sống. Đến đây, xin nói về sự đổi mới tư duy ở cấp độ vĩ mô bao trùm toàn bộ sự sống của đất nước, cho hôm nay và mai sau. Nội dung tư duy cần đổi mới ở cấp độ bao trùm này lại phải dựa theo quy luật phát triển tư duy để phát triển cuộc sống của lịch sử nhân loại nói chung. Trong thực tế, những nội dung tư duy cần được đổi mới này cũng chính là những điều mà đất nước chưa có, hoặc có nhưng chưa tới độ cần thiết cho sự phát triển đất nước hôm nay và mai sau. Và từ chỗ chưa có, hoặc có nhưng còn thấp đến chỗ có cho ra có hoàn toàn không đơn giản. Vấn đề là phải nhận chân được điều cần có để tìm mọi cách phát động dân tộc, trước hết là ở tầng lớp lãnh đạo quốc gia, đặc biệt tầng lớp trí thức phải đi đầu trong công cuộc khai mở, xây dựng cho đất nước có được những phẩm chất tư duy cần có đó.
3. Đề xuất Với quan niệm như trên, tôi xin đề xuất mấy vấn đề sau đây:
3.1. Phát triển tư duy trừu tượng khoa học Trong tư duy của loài người, có hai kiểu, hai phương thức tư duy tiêu biểu: tư duy trừu tượng và tư duy cụ thể. Năng lực tư duy trừu tượng khoa học là năng lực nhận thức sự vật không chỉ ở cấp độ hiện tượng mà quan trọng hơn với nó là nhận thức về mối quan hệ vốn dĩ là trừu tượng và cũng rất phức tạp, chằng chịt của các hiện tượng. Trong khi năng lực tư duy cụ thể thì kết quả nhận thức sự vật chủ yếu ngừng ở hiện tượng cụ thể nếu có nhận thức được quan hệ giữa các hiện tượng thì cũng chỉ ở mức đơn giản, thô sơ. Trong năng lực tư duy trừu tượng lại có hai trạng thái: Một thứ trừu tượng từng được mệnh danh là trừu tượng khoa học bởi lẽ nó xuất phát từ hiện thực khách quan của sự sống. Một thứ trừu tượng được mệnh danh là tư biện (spéculatif) là thứ trừu tượng đơn thuần không dựa trên thực tế khách quan. Dĩ nhiên, điều cần phát triển là tư duy trừu tượng khoa học. Ngược lại, với trừu tượng tư biện thì cần loại bỏ. Có thể nói được rằng: Người Việt Nam ta giàu về tư duy cụ thể mà nghèo về tư duy trừu tượng. Cứ nhìn vào kho từ vựng tiếng Việt thì thấy rõ điều đó. Từ cụ thể thì phong phú vô cùng. Còn từ trừu tượng thì nghèo và chủ yếu là ngoại nhập. Với ta, cùng một động tác di chuyển một vật thể đến một chỗ khác thě có không biết bao nhięu lŕ từ: mang, xách, ẵm, gồng, gánh, bę, bưng… trong khi với ngôn ngữ Pháp chẳng hạn một từ “porter” là đủ.
Ở ta, không có truyền thống tư duy trừu tượng là do kinh tế Việt Nam xưa là kinh tế nông nghiệp. Tuy dã có kinh tế hàng hoá nhưng không phát triển như ở các nước đã phát triển tư bản chủ nghĩa. Chính kinh tế hàng hoá là cơ sở phát triển tư duy trừu tượng. “Hàng hoá” là biểu tượng có khả năng trừu tượng hoá mọi vật thể, kể cả lương tâm. Điều đáng nói là ở ta do không có truyền thống tư duy trừu tượng nên về cơ bản cũng không có truyền thống khoa học, và cũng có thể nói là không có triết học. Vì không có truyền thống tư duy trừu tượng, nên hễ có ai nói giọng trừu tượng thì thường bị coi là tư biện cả. Ngày nay, trên đã phát triển, đặc biệt là trong tình hình giao lưu quốc tế được tăng lên gấp bội, thì khả năng tư duy trừu tượng của người Việt ta có được nâng cao, tăng trưởng nhưng so với yêu cầu vẫn bất cập, so với thế giới đó đây vẫn thua kém. Với người Việt Nam giỏi toán thì trong lao động toán học đã tỏ ra có năng lực tư duy trừu tượng rất cao. Nhưng rời toán học, về lại đời thường, vẫn là thuộc tình trạng chung của đất nước. Sự yếu kém về tư duy trừu tượng khoa học đã kéo theo một loạt sự yếu kém đối với các hình thái thao tác tư duy khác như: tư duy hệ thống, tư duy tích hợp, tư duy so sánh, tư duy lựa chọn, tư duy quy luật, tư duy sáng tạo nói chung. Cứ nhìn vào tình trạng chung quanh vấn đề an toàn thực phẩm mà việc qui trách nhiệm không biết thuộc về bộ nào: Nông nghiệp? Y tế? Thương mại…? Cứ nhìn vào chuyện phát triển xây dựng nhà cửa, đường sá lộn xộn ở Hà Nội để gây ra tình trạng ngập lụt, ách tắc giao thông. Cứ nhìn vào tình trạng ngành giáo dục trong công cuộc cải cách giáo dục, chăm lo cải tiến sách giáo khoa mà thiếu sự quan tâm xây dựng phòng thực hành để rồi sách mới ra nhưng không có điều kiện thí nghiệm. Cứ nhìn vào việc tha hồ cho xây dựng xưởng máy này nọ mà quên mất khâu bảo vệ môi trường để rồi xảy ra các sự cố như công ty Vêđan xả nước bẩn làm hại môi trường sống của nhân dân trên sông Đông Nai. Đúng là cứ nhìn… cứ nhìn… đâu cũng thấy có chuyện khập khễnh, gây bất lợi cho cuộc sống đất nước nhãn tiền đủ biết là sự thiếu tư duy hệ thống, tư duy tích hợp… đã gây tác hại biết chừng nào. Ngay trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học. cứ chăm chăm vào việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cảm thụ mà quên chăm lo năng lực tư duy trừu tượng thì có chuyện gặp đâu nói đấy, có chuyện thầy bói sờ voi cũng không phải là hiếm. 3.2. Phát triển tư duy triết học Tạm hiểu tư duy triết học là tư duy có khả năng nhận thức, phát hiện những quy luật của cuộc sống và cũng là năng lực nhận thức sự sống con người ở độ sâu sắc nhất, tinh diện nhất, kể cả sự bí ẩn. Quả là Việt Nam ta, chưa có truyền thống tư duy trừu tượng khoa học do đó cũng chưa có truyền thống tư duy triết học. Thông thường, trước những vấn đề của cuộc sống vốn dĩ là thiên hình vạn trạng, là vô cùng phức tạp, khả năng nhận thức của chúng ta vẫn chủ yếu ngừng ở trình độ nhận thức xã hội học thường là chỉ ở phạm vi bề ngoài của sự sống. Cũng do thiếu năng lực tư duy triết học nên đã có sự ngự trị của tư duy chính trị một cách không bình thường và không lợi cho sự phát triển đất nước. Hẳn là ở ta, hiện đã có viện triết học, có một số giáo sư, phó giáo sư triết học. Nhưng liệu như thế đã có thể nói là có triết học được chưa. Xin mượn lời của giáo sư Trần Văn Giàu vốn được dư luận coi là vị giáo sư triết học sáng giá nhất dưới chính thể cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nói trong bài viết về Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trường Đại học Duy Tân 18 giáo sư Trần Đức Thảo rằng: Trên đất nước ta, nếu có một người xứng đáng là triết gia thì không ai khác là Trần Đức Thảo. Giàu này chỉ là một giáo sự dạy triết học. Quả là một sự tỉnh táo, trung thực. Bởi lẽ triết gia thì phải tạo ra triết thuyết riêng. Chứ đâu như giáo sư triết học chỉ là người đọc sách triết của người khác rồi truyền đạt lại cho học trò. Đất nước chẳng phải ngày nay không có triết gia mà trong quá khứ cũng đâu đã có. Hạn chế của văn hoá Việt Nam là thế. Vì thiếu một năng lực tư duy triết học, nên ngay ở việc tiếp nhận triết học của thế giới vào nước mình cũng thiếu bản lĩnh. Đáng nói nhất là vì không có tư duy triết học, nến có bao nhiêu quy luật của cuộc sống đang diễn ra một cách rõ mồn một, mà không thấy giới khoa học xã hội Việt Nam, các vị tự nhận là nhà nghiên cứu triết học nói đến. Ví như các quy luật: về sự đối trọng, về cạnh tranh sinh tồn, về sự trỗi dậy của cái tôi cá thể, vệ sự trỗi dạy của đời sống tâm linh, về quy luật “Sự văn minh tiến hoá bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hoá bấy nhiêu”, quy luật về sự khập khễnh, không tương đồng giữa giàu có và đạo lý… Nói riêng trong lãnh vực nghiên cứu văn học của chúng tôi, mà chủ yếu là thuộc khả năng nhận thức về thế giới con người, sự sống con người vốn dĩ rất phức tạp, rất kỳ diệu, kể cả sự bí ẩn, bí hiểm thì cũng dễ thấy sự hạn chế không nhỏ do thiếu tư duy triết học. Một ví dụ “Chuyện người con gái Nam Xương” trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ mà từ trước tới nay, sách giáo khoa vẫn theo lối nhìn xã hội học giản đơn để cho rằng cuộc đời Vũ Nương tan nát đến phải tự vẫn là do chế độ nam nữ bất bình đẳng và chiến tranh. Trong khi, nếu nhìn theo triết học thì chẳng phải thế. Bởi lẽ, nam nữ có bình đẳng đến đâu, Trương sinh không đi trận mà đi xa với bất cứ trạng thái nào, về nhà, con không nhận cha, lại bảo cha là người khác thì chuyện Trương Sinh đánh ghen vẫn xảy ra và chuyện Vũ Nương uất quá đến tự vẫn, là chuyện dễ có, dể hiểu. Với cách nhìn triết học, sẽ thấy ở chuyện “Người con gái Nam Xương” chính là chuyền về cái mong manh vô cùng mong manh của hạnh phúc đàn bà, trước sự trớ trêu, sự bất trắc không ai có thể lường trước được mà cuộc đời phải tan nát. Con hỏi mẹ bố đâu? Mẹ chỉ vào bóng mình trên vách bảo là cha đó. Đó không phải là sự đồng nhất tuyệt đối trong tình vợ chồng sao? Nhưng trời ôi, sự tan vỡ đời Vũ Nương oái ăm thay bắt đầu lại chính từ gắn bó đồng nhất đó với chồng. Giả sử, khi con hỏi bố đâu? Vũ Nương nói cha đi trận. Thì đâu đến phải tan nát cuộc đời. Rồi nữa, tham gia vào phá nát cuộc đời Vũ Nương, không ai khác lại chính bé Đản do nàng đứt ruột đẻ ra, mà nó thì trong trắng, ngây thơ nhưng trong trường hợp này lại trở thành tác nhân trực tiếp phá nát đời mẹ nó. Trớ trêu, oái ăm trong sự sống con người mà liên quan đến hạnh phúc Vũ Nương là ma quái thế đó. Rồi nữa, còn là cái máu ghen mà tạo hoá cũng đã trớ trêu một lúc ban cho các cặp vợ chồng, các cặp trai gái tình yêu nồng thắm ngây ngất mãnh liệt thế kia nhưng cũng ban nốt cho họ cái máu ghen để rồi như một quả mìn đặt sẵn dưới giường hạnh phúc gái trai và nổ lúc nào không biết. Đúng là đất nước trên đường đi lên phải làm sao có được năng lực nhận thức sự sống bằng triết học để từ đó có cách xử sự trong cuộc sống vững chắc hơn. Lấy thêm một ví dụ cho điều đang muốn nói ở đây. Đó là nếu có được nhận thức triết học về quy luật đối trọng mà học thuyết âm dương trong Kinh Dịch đã gợi mở để áp dụng vào việc xây dựng cuộc sống, điều hành đất nước, chắc chắn sẽ hay hơn nhiều so với những gì đang là hiện thực trước mắt. Vào những ngày đầu đổi mới, trên báo chí đã thấy xuất hiện ý tưởng đó mà tiếc rằng người đưa ra cũng chưa hiểu chắc vấn đề, rồi người phản đối lại cũng không hiểu vấn đề. Dĩ nhiên đây là chuyện không giản đơn chút nào. Mong có dịp khác sẽ nói rõ hơn.
 3.3. Vấn đề tư duy cá thể Chính đây là vấn đề cơ bản nhất, trọng tâm nhất mà công cuộc đổi mới tư duy của đất nước phải đặt ra để giải quyết và quyết tâm thực hiện theo yêu cầu phát triển vững chắc, bề thế, đích thực của đất nước, không chỉ là trước mắt mà còn lâu dài. Để có được điều này, trước hết phải có sự nhận thức trường minh và vấn đề con người – cá thể trong sự sống của loài người là gì? Một vấn đề của triết học mà tiếc rằng giới nghiên cứu triết nói riêng, giới khoa học xã hội nhân văn nói chung ở nước ta còn bỏ quên hoặc lảng tránh. Chúng ta đều biết sở dĩ có loài người là do có những con người – cá thể (l’individu). Con người – cá thể là tế bào tạo nên cơ thể là các hình thái cộng đồng xã hội. Nó vừa là thực thể xã hội có quy luật sinh học tự thân, vừa là thực thể xã hội với hai thuộc tính: cá thể và cộng đồng. Trong thực tiễn cuộc sống, nó là một nhưng thành hai. Một thuộc bản chất nhân văn chân chính có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, nên cầu nguyện cho nó sớm trỗi dậy càng mãnh liệt bao nhiêu càng tốt, càng có lợi cho đất nước, cho nhân quần bấy nhiêu. Một nữa thì ngược lại, phản nhân văn, nhân bản, huỷ hoại lợi ích của cộng đồng, nên tiêu diệt được nó sớm phút nào là xã hội, nhân dân được nhờ phút ấy. Ở đây quả là có hai thuật ngữ: con người – cá thể (l’individu) và chủ nghĩa cá nhân (l’ individualisme). Tiếc rằng, ở ta, do thiếu tư duy triết học và cũng là thiếu óc duy lý, thiếu khả năng tư duy phân tách nên đã không tách bạch được hai phạm trù cá thể đó tuy xuất phát từ một nhưng đã thành hai ngả đối lập nhau như nước với lửa. Mà thực tế, tình hình nhận thức lại giường như chỉ ngừng ở ngả sau. Cho nên hễ nói đến con người – cá thể thì chỉ thấy đó là chủ nghĩa cá nhân mà thôi. Điều này, dĩ nhiên cũng liên quan đến một thực tế ở nước ta là nặng về tâm lý cộng đồng vốn là một nét đẹp, trong chủ nghĩa nhân văn Việt Nam nhưng ngay ở đó lại là có mặt trái của vấn đề là coi nhẹ, là không nhận thức đầy đủ và cần thiết về con người cá thể. Chính đây là điều có sự khác nhau giữa phương Đông và phương Tây, bởi phương Tây, nhờ có sự phát triển sớm nền kinh tế tiền tư bản và tư bản chủ nghĩa nên cũng đã sớm phát hiện được con người cá thể và biết tận dụng nó để phát triển cuộc sống, đưa xứ sở lên cõi văn minh phi thường. Còn phương Đông chậm phát hiện cái tôi, cá thể xét đến cùng cũng là do trong quá khứ sống chủ yếu với nền kinh tế nông nghiệp dù ít nhiều cũng có kinh tế hàng hoá. Và điều đó, dĩ nhiên đã gây bất lợi cho phương Đông không ít. Những gì nói về con người – cá thể như trên quả là còn sơ sài nhưng thiết tưởng cũng đã đủ để nói về vấn đề tư duy – cá thể. Không ai khác, chính Đề các (Descartes) triết gia của Pháp ở thế kỷ XVII là người đầu tiên phát hiện ra vấn đề này với mệnh đề “ Tôi tư duy ấy là tôi tồn tại” (Je pense donc je suis). Đúng thế, con người hơn muôn loài là nhờ ở tư duy như đã nói. Có tư duy mà không tư duy thì khác gì muôn loài. Tư duy cá thể là để tự tìm lấy chân lý, chứ không phải là để nghĩ lung tung bừa bãi. Hiện tình ở nước ta, không ít người vì không tường minh vấn đề nên hễ nói đến tư duy – cá thể là sợ có tình trạng bừa bãi, nghĩ và nói lung tung vô chính phủ. Tình trạng bao cấp về tư tưởng khá nặng nề một thời mà đến nay dù đã có sự phê phán nhưng trong thực tế không dễ gì thanh toán được tệ hại đó, kể cả tệ nạn độc tài tư tưởng không phải không có. Chính đó là những cản trở lớn trước yêu cầu đổi mới tư duy để có tư duy cá thể. Trong nhà trường, cũng đã có khẩu hiệu: phát huy độc lập suy nghĩ của học sinh, dĩ nhiên cũng đã có tác dụng nhất định nhưng về cơ bản vẫn chưa ăn thua gì cả. Bởi nói chung, cả xã hội, chủ yếu vẫn sống theo tình trạng trên bảo sao, dưới nghe vậy điều mà tư duy chính trị với công tác tuyên huấn rất muốn như vậy. Ở ta, chủ yếu vẫn sống trong tình trạng rót chân lý vào đầu các cá thể mà chưa phải là để các cá thể tự tìm lấy chân lí. Trẻ con nằm trên nôi, thì được mẹ qua lời ru, rót cho “chân lý”: “Việt Nam đất nước ta ơi. Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”. Tiếp đến, cô giáo mẫu giáo rót tiếp, rồi nhà trường cấp I, cấp II, cấp III… cứ thế mà rót. Phải nói rằng những gì được rót đó không phải không là chân lý nhưng về mặt khoa học, sự rót vẫn là bất lợi về cơ bản. Có thể nói, nếu cứ sống mãi với tình trạng này thì chẳng bao giờ đất nước này có giải thưởng Nobel dù rằng người Việt Nam ta khả năng trí tuệ không hề thua kém, một số nước đã có giải thưởng Nobel. Giải quyết được vấn đề tư duy – cá thể một cách thực sự đúng hướng như đã nói thì cũng là điều kiện tất yếu để giải quyết tốt vấn đề dân chủ, dân quyền một điều mà chính đất nước đang muốn giải quyết. Để đảm bảo cho việc giải quyết vấn đề tư duy – cá thể đi đúng hướng, không sợ gây ra mặt trái của vấn đề thì phải áp dụng quy luật đối trọng. Cụ thể là cùng một lúc khuyến khích và tạo điều kiện cho tư duy. – cá thể được thực thi thì phải phát triển mạnh mẽ tư duy pháp luật, ý thức pháp luật. Để cuối cùng là trên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước mà tha hồ tự do tư duy, kế đó là tự do phát ngôn chân lý tự mình đã trải qua quá trình tư duy nghiêm túc và công phu để tìm được, mà không ai có thể cấm đoán, gây khó dễ. Như đã nói vấn đề tư duy – cá thể là vấn đề cơ bản nhất, trọng đại nhất của công cuộc đổi mới tư duy phải được đặt ra với toàn bộ đất nước, với mọi người dân. Nhưng thiết thực hơn thì trước hết là phải đặt ra với đội ngũ trí thức, nhất là trí thức khoa học xã hội và nhân văn. Bởi đặc trưng bản chất của trí thức là hơn người về trí tuệ, có năng lực tư duy hơn ai hết. Do đó, trí thức phải được giải phóng khỏi tình trạng thụ động về tư duy để có được độc lập về tư duy, đặng có thể làm đầu tầu cho công cuộc đổi mới tư duy. Ở đây, rất cần được thiết chế hoá, chế tài hoá một cách chân chính cần cho sự đổi mới tư duy để có tư duy – cá thể. Tiếp sau vấn đề với tri thức, là vấn đề đối với tuổi trẻ học đường mà hiện thời đã có mầm mống nhất định. Khẩu hiệu chống lại tình trạng nặng về thuyết giảng, thầy giảng, trò ghi, trò nhớ, trò nói lại như vẹt là điều đáng khuyến khích và phải có cách làm sao cơ bản hơn những gì đang có, cũng là chuyện vô cùng khó khăn. Các nhà lãnh đạo đất nước, lãnh đạo ngành giáo dục phải nhận thức được rằng: Nếu muốn có một cuộc cải cách giáo dục thực sự đích thực thì không thể không đặt lên hàng đầu vấn đề tư duy – cá thể. Có thể nói không sợ sai rằng: chừng nào vấn đề tư duy – cá thể chưa được giải quyết thì chừng đó nền giáo dục nước nhà vẫn là nền giáo dục lạc hậu. Rộng ra, cũng có thể nói, chừng nào vấn đề tư duy – cá thể với đất nước, chưa được giải quyết thấu đáo và thành hiện thực thì chừng ấy khả năng phát triển đất nước vẫn ỳ ạch, chậm chạp so với khu vực, với thế giới văn minh.
4. Kết luận

Những gì được trình bày trên đây dù là đã được suy nghĩ từ nhiều năm tháng, và không kém phần tâm huyết, nhưng bản thân vẫn thấy chưa dễ gì dã được quí bạn chấp nhận. Và những gì được viết trên đây cũng chưa thể hiện hết những gì đã nghĩ mà chưa thể nói ra hết. Chỉ mong được qúi vị chỉ bảo thêm, trao đổi thêm, kể các đối thoại để mong rằng có sự hợp lực trong việc nâng cao chất lượng vấn đề. Và điều quan trọng hơn nữa là làm sao có thể đưa vấn đề vào cuộc sống của đất nước mà trước hết là cuộc sống trí thức, cuộc sống học đường

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Dịch vụ nhạy cảm

Mại dâm không thể là hành vi đơn lẻ, thực hiện một mình, nó luôn gắn với chuỗi tội phạm như dắt mối, bảo kê, cho vay nặng lãi, hợp pháp hóa nhân thân, rửa tiền…
Bạn có thể dễ dàng nhìn thấy ở góc phố nào đó, cô gái đứng đợi khách bên một gốc cây. Sau thỏa thuận, khách có thể chở cô ấy đi đâu đó, một chốc hoặc qua đêm. Những cô gái “người cây” nói với tôi cô ta phải nộp tiền “chiếu” cho chỗ đứng tối hôm đó - nộp ngay, tiền bảo kê nộp hàng tuần cho loạt dịch vụ thuê quần áo, thuê xe, xe ôm, khách sạn - nhà nghỉ, cảnh giới và giải cứu…
Tôi cũng cược với bạn số tiền hàng đêm của các cô gái cùng với các loại tiền “bẩn” khác sẽ chạy qua hệ thống nhà hàng, karaoke, spa… và biến thành tiền sạch chui vào túi ai đó được gọi là trùm.
Tương tự nếu cô gái là người nổi tiếng qua các cuộc thi nhan sắc cũng sẽ phải trả các loại tiền “dịch vụ” tương tự nếu dấn thân vào con đường tăm tối.
Tôi biết mô thức này lần đầu tiên vào những năm 1990 khi cảnh sát hình sự phá vụ sex tour Ánh Dung và “phi đội mại dâm bay Tân Cảng”. Tôi đã nói chuyện với nhiều người trong số họ. Ánh Dung là bí danh của bà trùm có dưới tay vài chục cô gái trẻ đẹp, phục vụ mại dâm từ bình dân đến cao cấp từ TP HCM đến các tỉnh và nước ngoài theo yêu cầu của khách. Một cô trong số đó nói hài lòng với công việc vì vừa sống sung sướng, vừa có tiền gửi về quê nuôi chồng con. Điều cô không nói là mỗi ngày cô phải tiếp ít nhất 5 lượt khách và nhiều nhất là 20 lượt, cô chỉ được 40% số tiền khách trả, còn lại cho các dịch vụ như trên nêu. Một cô gái khác kể bán “trinh” trên 15 lần, bán xong có bác sĩ “tân trang” thay cái mới vào, chắc theo công thức dân gian từ thời cụ Nguyễn Du.
“Phi đội mại dâm bay” Tân Cảng là hàng trăm chiếc xe gắn máy chở mấy cô “mua chiếu” đứng ở khu Tân Cảng, các cô làm tại các điểm “nhạy cảm” như gội đầu, cạo gió giác hơi, nhà hàng quán nhậu, karaoke… về các nhà trọ để bán dâm. Tiếng động cơ gầm rú kéo dài mấy tháng làm “nhũn não” cả con đường Điện Biên Phủ, Ung Văn Khiêm, Xô Viết Nghệ Tĩnh…, nhà tôi ở ngay đây nên tôi làm bổn phận công dân báo cho Bí thư phường.
Cảnh sát hình sự cùng với công an quận với nhiều chuyên án mới căn bản xóa được “phi đội” kỳ quái này. Lời khai của những người liên quan cho thấy mô thức như trên.
Tôi cũng liên hệ được với đường dây mại dâm cao cấp của bà trùm Sa. Tại cà phê sang trọng góc Đồng Khởi – Lý Tự Trọng, tôi chứng kiến cảnh đường dây đem cô gái tuyệt sắc và cực kỳ nổi tiếng đến để cùng đi đến khách sạn ở cuối đường Nguyễn Văn Thủ. Một tay môi giới nói với tôi, thích cô nào thì nói, có người sẽ đưa đến điểm hẹn.
Những điều vừa nêu xem ra đã lạc hậu so với tình hình hiện nay khi mà các tổ chức mại dâm còn in card visit phát ở khu vực trung tâm như phát tờ rơi. Còn các điểm mà ta gọi là dịch vụ “nhạy cảm” đều tiềm ẩn mại dâm và tội phạm khác, cơ quan chức năng kiểm tra điểm nào thì điểm đó “dính chấu”.
Đôi lúc lang thang trên mạng xã hội tôi nhận được lời mời tham gia các nhóm “kín” thực ra là các hình thức mại dâm member, tức là khi được chấp nhận là thành viên bạn mới được “mua”, “bán” “cái trời cho”, nơi tụ tập là quán bar và spa…. Slogan của những nhóm kín này: “Không cần biết em là ai - Cho dù gái hay là trai”. Tiếc là sau đó khi dò ra trang Facebook có lý lịch của tôi họ ngưng kết bạn và chặn thông tin.
Mại dâm phát triển đến mức khó lường, đa hình thức và luôn gắn với dịch vụ “nhạy cảm” nào đó như vũ trường, quán bar, nhà hàng bia ôm, săn sóc sắc đẹp, massage… Ngược lại các dịch vụ “nhạy cảm” luôn gắn với mại dâm và chuỗi tội phạm như cho vay nặng lãi, đánh bạc, bảo kê, đâm thuê chém mướn, rửa tiền… theo kiểu cộng sinh, không thể tách rời. Những cô làm nghề dịch vụ “nhạy cảm” cho dù là phân tán như hiện nay hay “thu gom” thành khu như đề xuất của Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội không thể sống như công nhân, đến giờ là vào, hết giờ là về mà chắc chắn sẽ bị khống chế bởi các băng nhóm chuỗi tội phạm.
Ông Lê Văn Quý, Chi cục phó chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội, nói với truyền thông rằng, lập khu “nhạy cảm” chứ không cho phép mại dâm. Khi được hỏi không cho phép mại dâm thì lập khu “dịch vụ nhạy cảm” để làm gì? Ông Quý cho rằng, luật pháp chỉ cấm mại dâm, kích dục chứ không cấm những hình thức như ngồi gần khách hàng phục vụ đồ ăn, nước uống, nói chuyện, ca hát, đụng chạm tay chân. Cũng theo ông này, thành lập khu dịch vụ “nhạy cảm” tập trung như ở Bình Quới hoặc Cần Giờ, có nghĩa tách biệt với cộng đồng dân cư.
Rõ là những người chuẩn bị cho đề án này vẫn nặng về tư duy thu gom, muốn quản lý nhưng chưa rõ sẽ quản lý cái gì và quản lý như thế nào? Đề án cũng xem các cá nhân hành nghề “nhạy cảm” cũng giống như những người làm công ăn lương bình thường mà chưa đánh giá đầy đủ tính “cộng sinh”, “chuỗi tội phạm” của nó.
Nếu bạn chưa tường tận chuỗi cung ứng các dịch vụ nhạy cảm và tính chất quy mô của nó thì theo tôi, đừng bao giờ nghĩ đến chuyện thu gom như một cách tư duy duy ý chí.
Hoàng Linh

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Hải quân Hoa Kỳ sẽ đưa khu trục hạm vào khu vực 12 hải lý của các đảo Trung Quốc

Tác giả: Andrea Shalal và David Brunnstrom (Reuters)
Người dịch: Trần Văn Minh
.Hải quân Mỹ có kế hoạch đưa tàu khu trục USS Lassen vào khu vực 12 hải lý của các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây ở Biển Đông trong vòng 24 giờ tới, là đợt đầu tiên trong một loạt các thách đố đối với các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, một viên chức quốc phòng Mỹ cho biết hôm thứ Hai.
Chiến hạm USS Lassen (DDG 82), (bên phải) đang tuần tra theo đội hình với chiến hạm Sokcho của Hải quân Nam Triều Tiên (PCC 778) trong cuộc tập trận Foal Eagle năm 2015, ở vùng biển phía đông bán đảo Triều Tiên ngày 12-3-2015. Ảnh do Hải quân Mỹ cung cấp.
Chuyến tuần tra sẽ xảy ra gần Đá Xu Bi và Đá Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa, là những thực thể bị ngập nước khi thủy triều cao trước khi Trung Quốc bắt đầu dự án nạo vét khổng lồ để biến chúng thành các hòn đảo vào năm 2014.
Tàu khu trục có lẽ sẽ được đi kèm với một máy bay giám sát P-8A của Hải quân Mỹ và một máy bay giám sát khác, có lẽ là, P-3, là máy bay từng thực hiện công việc giám sát thường xuyên trong khu vực, theo viên chức này, nói với điều kiện giấu tên.
Các cuộc tuần tra tiếp theo sẽ được thực hiện trong những tuần kế tiếp và cũng có thể được tiến hành quanh các thực thể do Việt Nam và Philippines xây dựng trong quần đảo Trường Sa, viên chức này nói thêm.
Viên chức này nói: “Việc [tuần tra] này sẽ thường xuyên hơn, chứ không phải một sự kiện duy nhất. Điều này không chỉ đặc biệt đối với Trung Quốc”.
Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, ông Josh Earnest đã dành các câu hỏi về chi tiết hoạt động cho Ngũ Giác Đài, nhưng nói rằng Hoa Kỳ đã làm rõ cho Trung Quốc biết tầm quan trọng của tự do thương mại trong khu vực Biển Đông.
Ông Earnest nói tại một buổi họp báo: “Hàng tỷ đô la thương mại đi qua khu vực này của thế giới. Bảo đảm luồng tự do thương mại đó … là quan trọng đối với kinh tế toàn cầu”.
Cau nhiều tháng cân nhắc, cuộc tuần tra sẽ là thách thức nghiêm trọng nhất của Mỹ từ trước đến nay đối với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc xung quanh các hòn đảo này.
Hành động này có nguy cơ làm xáo trộn đáng kể mối quan hệ vốn đã căng thẳng với Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, mà các doanh nghiệp và lợi ích kinh tế của Mỹ đã đan xen sâu sắc.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên hầu hết vùng Biển Đông và vào ngày 9 tháng 10, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cảnh báo rằng, Bắc Kinh sẽ “không bao giờ cho phép bất cứ nước nào xâm phạm lãnh hải và không phận trong quần đảo Trường Sa, trên danh nghĩa bảo vệ tự do hàng hải và hàng không”.
Đây sẽ là lần đầu tiên Hoa Kỳ đi vào bên trong vùng 12 hải lý của những thực thể biển kể từ khi Trung Quốc bắt đầu xây dựng trên các rạn san hô vào năm 2014. Lần cuối cùng Mỹ đi vào trong vùng 12 hải lý của lãnh thổ do Trung Quốc đòi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa là vào năm 2012.
Các Tranh chấp chủ quyền
Cuộc tuần tra sẽ xảy ra chỉ vài tuần trước các hội nghị thượng đỉnh châu Á-Thái Bình Dương mà Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ tham dự vào cuối tháng 11.
Hoa Kỳ cho rằng, theo luật pháp quốc tế, xây dựng đảo nhân tạo trên các rạn san hô ngập nước không cho phép một quốc gia tuyên bố giới hạn lãnh thổ và rằng điều rất quan trọng là phải duy trì tự do hàng hải trong vùng biển mà luồng thương mại thế giới 5 ngàn tỷ USD đi ngang qua hàng năm.
Washington lo ngại rằng, Trung Quốc xây dựng các hòn đảo với mục đích mở rộng tầm hoạt động quân sự tại Biển Đông.
Ông Tập đã gây ngạc nhiên cho các viên chức Mỹ sau cuộc họp với ông Obama tại Washington tháng trước, trong đó ông Tập nói rằng Trung Quốc “không có ý định quân sự hóa” các hòn đảo.
Tuy nhiên, ngay cả trước đó, các hình ảnh vệ tinh đã cho thấy Trung Quốc xây dựng 3 đường băng với tầm mức quân sự tại quần đảo Trường Sa, bao gồm một trên Đá Vành Khăn và một trên Đá Xu Bi.
Một số viên chức Mỹ cho biết rằng kế hoạch tiến hành cuộc tuần tra, một phần, nhằm mục đích thách thức tuyên bố của ông Tập về chuyện ‘không quân sự hóa’.
Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông với Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines, mà tất cả đều là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cũng như với Đài Loan.
Vào tháng 5, hải quân Trung Quốc đã đưa ra 8 lời cảnh báo đối với phi hành đoàn của máy bay giám sát P8-A Poseidon của Mỹ, trong lúc bay gần các hòn đảo nhân tạo nhưng không vào bên trong giới hạn 12 hải lý, theo CNN, là những người có mặt trên máy bay.
Cũng trong tháng đó, chiến hạm USS Fort Worth, một tàu chiến duyên hải, “gặp phải nhiều” tàu chiến Trung Quốc trong một cuộc tuần tra ở quần đảo Trường Sa, Hải quân Mỹ cho biết vào thời điểm đó. [Tuy nhiên] Họ đã không cho biết chi tiết.
Vào năm 2013, Tổng thống Obama đã ra lệnh cho 2 máy bay ném bom B-52 bay qua khu vực Nhận dạng Phòng không mà Trung Quốc thiết lập ở Biển Đông Á trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản.
Các viên chức Ngũ Giác Đài nói rằng Hoa Kỳ thường xuyên tiến hành các hoạt động tự do hàng hải trên toàn thế giới để thách thức các tuyên bố chủ quyền quá đáng.
Hồi đầu tháng 9, Trung Quốc đưa tàu hải quân vào khu vực 12 hải lý của quần đảo Aleutian ngoài khơi Alaska. Trung Quốc cho biết họ ở đó như là một cuộc thực tập thường lệ diễn ra sau cuộc tập trận với Nga.
Tường trình của Andrea Shalal và David Brunnstrom, được Sandra Maler và Cynthia Osterman chỉnh sửa

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015


NHỚ MẸ NHÂN NGÀY 20 / 10


                                                    N M Đ

Thuở con còn ấu thơ
Mẹ làm phụ nữ xã
Cha - bộ đội xa nhà
Mẹ một nách hai con
Việc chung riêng vất vả vuông tròn...


Chị 17 tuổi đi công nhân
Tuổi 16 con lên đường chiến đấu
Một thời trong gian khổ, đạn bom
Khuya sớm tảo tần Mẹ nuôi các em
Ngày mỗi ngày khôn lớn

Mùa Xuân năm sáu sáu
Mẹ sinh lần cuối cùng
Bị hậu sản trong căn hầm lạnh lẽo tránh bom
Em mới được năm ngày, mẹ vĩnh viễn ra đi!

Mãi nửa năm sau tận chiến trường xa
Nhận thư nhà, con mới biết hung tin
Trang thư Cha nhạt nhòa nước mắt
Và con mong ngày thống nhất,
Được sống để trở về
thắp hương Mẹ - trọn đạo làm con

Ngày con trở về
sau gần chục năm trời xa cách
Nghẹn lòng một mình đứng khóc
trong gian bếp nơi Mẹ tiễn con đi
Hình ảnh kính yêu của Mẹ hiện về...

Khi chúng con nên người
thì mẹ không còn nữa
Đền đáp sinh thành là điều không thể
Dẫu chỉ là tấm áo, gói quà

Cả một đời làm người
như thế hệ cùng thời
Mẹ chưa hề được tặng hoa
nhân những ngày PHỤ NỮ !

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

CHUYỆN NGƯỜI 1A HOÀNG VĂN THỤ

ÔNG SƯ TRƯỞNG TA BỊ ĐỊCH BẮT -

    MỘT TRƯỜNG HỢP HY HỮU

                                                                   N M Đ

Tôi không có may mắn được chiến đấu, công tác cùng ông. Nhưng do quan hệ của gia đình bên ngoại và lại là đồng hương “ Quân khu 1A Hoàng Văn Thụ”, nên tôi được tiếp xúc với ông một số lần và được biết qua lời kể của người khác. 

Ông là Trần Văn Trân, quê ở thành phố Huế, vào bộ đội từ năm 1945. Thuở ban đầu là chiến sĩ chăn dắt ngựa cho Trung đoàn trưởng. Trong chiến đấu ông lần lượt trường thành qua các cấp từ Tiểu đội trưởng trở lên. Kết thúc kháng chiến chống Pháp, ông giữ chức Trung đoàn phó.

Cuối năm 1964, từ Quân khu 4, ông lên đường vào chiến trường Miền Nam với cương vị là Tư lệnh phó Sư đoàn 325. Sư đoàn ông chiến đấu ở Thừa Thiên một thời gian ngắn, rồi hành quân vào chiến trường Tây Nguyên. Cuối năm 1969, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 1 ( Hồi đó gọi là Tư lệnh, chứ chưa phải là Sư trưởng như sau này). Đầu năm 1970, cấp trên điều Sư đoàn 1 từ Tây Nguyên vào chiến trường Nam Bộ. Tháng 2 / 1970, ông chỉ huy đoàn cán bộ của Sư đoàn đi nghiên cứu địa hình. Khi vượt qua Kênh Vĩnh Tế ( Châu Đốc, An Giang), chẳng may đoàn cán bộ bị lọt vào ổ phục kích của quân Mỹ. Ông chỉ huy đánh trả. Nhưng lực lượng quá chênh lệch, nhiều anh em hy sinh, ông bị thương và bị địch bắt. Lúc bị thương, ông quờ tay sang bên cạnh, đồng chí y tá đi cùng đã bị trúng đạn hy sinh. Ông quàng túi thuốc quân y vào người. Khi bị địch bắt, ông tự nhận mình tên là Nguyễn Văn Thương, Thượng sĩ Đông y. Bọn địch hỏi ông, y tá thì làm những gì. Ông nói, chuyên đi hái lá thuốc Nam trên rừng và nấu cao hổ cốt. Chúng lại hỏi, nấu cao hổ cốt, thì cần có cái gì. Ông trả lới, có cái chảo gang và cái gáo để hớt váng,…Không tra khảo được gì, bọn địch giải ông về giam giữ khi thì ở Cần Thơ, khi thì ở Hố Nai, Suối Máu ( Đồng Nai). Suốt 3 năm trong trại giam, ông nếm trải mọi cực hình. Người xưa nói: “ Nhất nhật tại tù / Thiên thu tại ngoại “. Đằng này, ông là tù binh trong trại giam của Mỹ Ngụy những hơn 1000 ngày!

Sau khi ông bị bắt, đơn vị cho người đi tìm ở bãi chiến trường, những tưởng ông đã hy sinh. Nhưng sau đó, tin của cơ sở ta trong lòng địch báo ra là: Có một tù binh tên là Thương, khai có người anh em tên là Viên.

Lúc ông Trần Văn Trân làm Tư lệnh Sư đoàn, thì ông Nguyên Viên là Chính ủy. Khớp nối thông tin, cấp trên khẳng định là ông bị địch bắt chứ không phải hy sinh. Nhằm giữ bí mật và an toàn cho ông, cấp trên quyết định tiến hành báo tử để che mắt địch.
Mùa hè năm 1970, trong nỗi đau thương vô hạn, bà Võ Thị Bích Hà vợ ông nhận được giấy báo tử và di vật là một chiếc đài bán dẫn do Tổng cục Chính trị tiến hành. Lúc ấy, người con nhỏ nhất của ông bà mới lên 6 tuổi. Tiếp đó, Tổng cục Chính trị bố trí chỗ ở cho gia đình ở X7 khu 1A. Nghe nói, một thời gian sau báo tử, có lần bà Hồ Thị Bi, Thiếu tá, cán bộ Cục Chính sách đang đêm sang nhà gặp riêng bà Hà rỉ tai nói nhỏ: Cô hãy bình tĩnh và bí mật, Thực chất, chú ấy bị bắt, chứ không phải đã hy sinh đâu! Báo tử là để che mắt địch.
Ngày 18 / 3 / 1973, theo Hiệp định Paris, ông được trao trả tại sông Thạch Hãn ( Quảng Trị ). Khi ông lên bờ, có chiếc xe Quân khu 4 đón sẵn, chạy vù đi. Tận lúc đó, bọn địch mới chưng hửng biết đó là một cán bộ cao cấp của quân đội. 
Tháng 11 năm 1973, cấp trên Quyết định bổ nhiệm ông làm Tư lệnh Sư đoàn 341. Đây là điều hy hữu đối với một cán bộ bị địch bắt mới trao trả đã được trao cầm quân chỉ huy chiến đấu. Trong lịch sử từ xa xưa chỉ mới có một trường hợp: Vào năm 1427, trong trận chiến đấu ở Hoàng Mai, do voi chiến sa lầy, tướng quân Đinh Lễ và tướng quân Nguyễn Xí bị giặc Minh bắt. Tướng Đinh Lễ bị quân địch giết. Còn Tướng Nguyễn Xí bị bắt giam. Đang đêm, mưa to gió lớn, lợi dụng sơ hở của địch, ông bẻ khóa vượt ngục, trở về với Nghĩa quân. Đức Lê Lợi cả mừng và lại giao cho Tướng Nguyễn Xí tiếp tục chỉ huy một cánh quân đánh thành Thăng Long.
Mùa xuân 1975, Sư đoàn 341 do ông Trần Văn Trân làm Tư lệnh trong đội hình Quân đoàn 4 tham gia Chiến dịch Hồ chí Minh giành Đại thắng.
Sau này, ông lần lượt giữ chức vụ : Phó Tư lệnh Quân đoàn 4, Phó Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt, Tham mưu phó, rồi Tham mưu trưởng BTL Quân Tình nguyện Việt Nam ở CPC.
Ông Trần Văn Trân có gương mặt đẹp nam tính, dáng người cao to, tính cách khảng khái, quyết liệt, mà lại rất hài hước, dí dỏm, nên mọi người rất dễ gần. Được biết, vị Trung đoàn trưởng thuở ông Trân làm chiến sĩ chăn dắt ngựa, tên là Võ Lương. Năm 1958, cả hai ông đều được phong quân hàm Trung tá một đợt. Nghe nói, có lần gặp lại nhau ông Trân nói nửa đùa nửa thật với ông Lương : Eng có mấy o con gái. Gả cho tui một o hè! Ông Lương hồn hậu mời ông Trân về nhà chơi. Và sau đó, ông Trân lấy bà Hà - Ông Lương thành bố vợ. 
Có người kể: Hồi ở chiến trường, ông Trân bị viêm mũi dị ứng, hay bị hắt hơi. Mỗi lần như vậy, sau một tràng dài hắt hơi, ông cười nói: Thiệt khổ! Miềng đã dặn mụ Hà ở nhà có đi đái thì chọn chỗ sạch. Ai dè, cứ ngồi phải chỗ có cỏ xước, làm miềng bị hắt hơi thế ni hoài. Nghe ông đùa, mọi người cười vui tếu táo.
Cuối năm 1989, bà mẹ vợ tôi ở SG, bị hen viêm phế quản. Ông Trân nhắn tôi lên nhà, để ông lấy cho loại cây thuốc Nam sắc uống. Từ số nhà 26 Trường Sơn tôi đến Làng Đại học ( Thủ Đức ) vào nhà ông. Thoạt nhìn thấy tôi, ông cười nói, chứ mi mần chi mà đang con níc đã mang hàm Đại tá rồi ? Tôi thưa: Dạ, cháu mới là Đại tá 3 sao, chú ạ. Ông nói tiếp, đã là Đại tá lại còn phân biệt 3 sao với 4 sao! Dở ẹc! Bày đặt! Thôi, đi theo chú. Ông dẫn tôi đi hái lá thuốc Nam. Giữa trưa nắng, ông vừa hái lá vừa chuyện trò với tôi: Mi biết tau với ông già vợ mi là thế nào không? Tôi nói, Dạ chú với Ba cháu cùng quê Trị Thiên, cùng họ Trần. Ông nói, đếch phải rồi! Tau ở Huế, ông Sâm ở Hải Lăng, Quảng Trị - đồng hương như rứa thì vô kể. Họ Trần thì từ xa xưa có cùng gốc hay không thì chẳng biết. Thế này nhá! Hồi đầu chống Pháp, tau là lính của ông Sâm. Khi ông Sâm làm Trung đoàn trưởng 95 rồi Trung đoàn trưởng 101, thì tau còn nhỏ lắm. Tau quí ông từ hồi ấy cơ. Sau đó, ông lại xoay sang chủ đề khác…Tính cách ông Trân là thế: Trực diện, trào lộng mà chính kiến rõ ràng.
Cuộc đời và sự nghiệp của Thiếu tướng Trần Văn Trân còn sôi động, phong phú hơn nhiều. Mấy điều tôi viết trên đây chỉ mới là lướt qua, với một góc nhìn rất hạn hẹp ./.

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

CHUYỆN NGƯỜI 1A HOÀNG VĂN THỤ

                        BÀ HỒ THỊ BI
                                                    N M Đ
Hồi ở 1A Hoàng Văn Thụ, bà Hồ Thị Bi là Phó phòng Hậu phương Cục Chính sách TCCT. Từ nhỏ và khi chiến đấu ở chiến trường, tôi đã nghe kể về bà. Tên thật bà là Hồ Thị Hoa, sinh năm 1916 tại Hóc Môn ( Gia Định ). Trên chiến trường Nam Bộ, bà là nữ chỉ huy quân sự đầu tiên có nhiều chiến công trong kháng chiến chống Pháp. Chuyện kể rằng, lúc đã là Tiểu đoàn phó chỉ huy chiến đấu, nhưng bà mới biết chữ. Trong mọi chỉ thị, mệnh lệnh bà đều ký chữ BI nhưng do mới tập viết, chữ nguệch ngoạc 3 nét, người đọc cứ ngỡ là ký hiệu của bà là 131. Và tên gọi Madame 131, hoặc Capitaine 131 cũng ra đời từ đó. Trong chiến đấu, nữ chỉ huy quân sự cấp Tiểu đoàn hồi dó là to và quý hiếm. Nghe nói, ở chiến trường có lúc bà ngồi trên lưng ngựa, súng lục dắt hông, oách lắm. Tên tuổi bà được nhiều người biết với sự khâm phục, ngưỡng mộ. Cán bộ cấp dưới của bà sau này nhiều người là sĩ quan cấp Tướng. Năm 1953, bà ra Việt Bắc, lần đầu tiên gặp Bác Hồ, được Bác Hồ gọi là Nữ Kiệt Miền Đông. 

Khi thực hiện chế độ quân hàm, bà là nữ sĩ quan cấp bậc Đại úy đầu tiên của QĐNDVN. Bà còn là Đại biểu Quốc hội khóa 2, khóa 3. Trong kháng chiến chống Mỹ, bà có công lớn trong công tác chính sách hậu phương quân đội: chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ; tổ chức quản lý và thực hiện chính sách đối với gia đình có quân nhân đi chiến đấu ở các chiến trường B,C,K. Do vị thế, uy tín, sự thông minh, quyết đoán, nhân cách trong sáng, tình cảm chân thành, mối quan hệ sâu rộng với các cơ quan hữu quan trong, ngoài quân đội và các địa phương, bà Hồ Thị Bi đã giải quyết được rất nhiều vấn đề chính sách thiết thực, hữu ích. 
Đầu tháng 12 năm 1973 khi đã 57 tuổi, bà còn xung phong vào chiến trường, hành quân bộ dọc tuyến đường Trường Sơn. Ngày bà chuẩn bị lên đường, cơ quan tổ chức liên hoan chia tay. Bà ghé tai nói với tôi, mọi thứ cô chuẩn bị đủ cả rồi, chỉ còn thiếu trầu cau. Vậy là, các chú, các cô ở Cục giao cho tôi chạy ra phố mua cau tươi, trầu tươi, lấy bẹ chuối tươi bọc lại. Thấy thế, bà cười, vậy là đủ rồi, cô có thể dùng đủ trên đường đi vào tận Nam Bộ. 
Hồi ở 1A, có lần bà gọi tôi sang ăn cơm với nhiều món ngon theo khẩu vị Nam Bộ. Bữa đó bà kể với tôi: Trước đây có lần cô mời bác Nguyễn Chí Thanh ra đây ăn cơm, ngồi đúng chỗ cháu đấy. Lúc đầu, mấy cậu bảo vệ và bác sĩ không đồng ý. Sợ thế nọ, thế kia. Ông Nguyễn Chí Thanh nói, các cậu sợ bà Năm Bi đầu độc hoặc ám sát tớ chắc. Nghe thế, mấy cậu ấy mới cho đi. Làm cán bộ to quá cũng khổ! 
Còn nhớ, năm 2000, Cục Chính sách TCCT được BQP và TCCT giao nhiệm vụ sang CPC tìm kiếm, cất bốc hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình ( 1908- 1952) đưa về nước. Nguyễn Bình (tên thật là Nguyến Phương Thảo) Tư lệnh Nam Bộ. Năm 1948, Bác Hồ ký Sắc lệnh phong Tướng lần đầu tiên, thì có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Bình và 9 Thiếu tướng. Trung tướng Nguyễn Bình là người trí dũng song toàn, có công và có uy tín lớn ở Nam Bộ những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Giai thoại về ông khá nhiều. Ông hy sinh năm 1952, trên đường ra Việt Bắc. Trước hôm tổ chức Lễ an táng Trung tướng Nguyễn Bình theo nghi lễ cấp Nhà nước, có một vấn đề đặt ra: Ai là vợ chính thất của ông. Bởi lâu nay, người được xác định là bà Nguyễn Thị Thanh, nhưng trên thực tế có một số người khác cũng tự nhận mình là vợ Nguyễn Bình. Với cương vị là Cục trưởng Chính sách, tôi phải cùng cơ quan xác minh lại việc này. Tôi chạy đến nhà bà Hồ Thị Bi - nhân chứng lịch sử còn lại không nhiều. Tôi hỏi, cô Năm ơi! Cô là người cùng thời với bác Nguyễn Bình. Vậy trên thực tế, bác ấy có mấy vợ. Ngoài bà Thanh ra, còn những ai? Tôi vừa dứt lời, bà Bi nói ngay: Ối dào! Cháu không biết đấy thôi! Thuở đó, làm Tướng như cháu bây giờ, thì quan hệ với nhiều phụ nữ lắm - Toàn người trẻ đẹp thôi. Là người nổi tiếng, vừa có tài năng, vừa ga lăng, lãng tử nên ông Nguyễn Bình có ngót một tiểu đội chị em nữ tì phục vụ. Chẳng sao đâu. Hồi đó, chiến công và uy tín của ông át đi. Hơn nữa, trong chiến tranh, mọi người chú trọng quan tâm vào tài cầm quân của ông ấy. Mong sao diệt được nhiều địch mà bộ đội ta thương vong ít nhất mới là thật là thước đo tài đức cán bộ. Chứ ai chú ý đến những vấn đề thuộc về sinh hoạt cá nhân. Nghe xong, tôi cười, vậy hả cô. Tối đến, khi ăn cơm với BTL Quân khu 7, tôi kể lại chuyện này, anh Ba Kiên Tư lệnh QK vừa cười vừa nói: Vậy chưa chừng, bà Năm Bi cũng là bồ của ông Nguyễn Bình nữa đấy, Ba Đẩu ạ. Lúc ấy, bà Năm Bi mới ngoài 30 tuổi, xinh gái, lại có tài, con còn nhỏ, chồng đã hy sinh, nếu có chuyện đó, âu cũng là thường tình. Chúng tôi cùng cười và coi điều anh Ba Kiên nói là đùa tếu táo cho vui trong bữa ăn.
Sau Giải phóng, bà Năm Bi chuyển vào SG. Căn nhà của bà ở X11 được cấp cho ông Ngô Phương, bà Hoa Na - Ông Phương lúc đó là Cục phó Cục Chính sách, bà Hoa Na là giáo viên; có 3 người con là Hà, Tuấn, Hương. Bà Bi vào SG chuyển nhà nhiều nơi : Khi thì ở Làng Đại học Thủ Đức, lúc thì ở 75 Ngô Thời Nhiệm, lúc ở gần kênh Nhiêu Lộc và cuối cùng ở đường Nguyễn Kiệm. Chỗ ở nào của bà tôi cũng đã đến, không phải một mà là nhiếu lần. Từ năm 1972 đến mãi sau này, trong quan hệ, bà Năm Bi luôn dành tình thương đối với tôi- Tôi tôn kính bà. Bà coi tôi như con. 
Đại tá, Anh hùng Hồ Thị Bi - một thời khá dài là công dân 1A - từ trần ngày 20 /10/2011, hưởng thọ 95 tuổi. Trước đó, hôm lễ tang ông Trần Sâm ( từ trần 13 / 8 / 2009 ), anh Trương Văn Đa ( nguyên Phó chủ tịch HĐND tp HCM ) con trai bà đến viếng. Anh Đa cầm tay tôi nói: Đẩu ơi ! Những tưởng bà nhà anh đi trước. Ai ngờ hôm nay dẫu đã yếu lắm rồi, khi nghe tin ông mất, bà đã khóc và yêu cầu anh phải thay mặt bà đến viếng sớm.
Khi viết những dòng này, tâm trí tôi hiện lên hình ảnh kính quí của bà Hồ Thị Bi - một mẫu người điển hình xuất sắc - để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp không bao giờ phai.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

KỶ NIÊM HOA TÓC TIÊN
 "Tôi viết bài này khi đến thăm anh bị trọng bệnh, là bác sĩ anh bảo:" Nếu giữ giỏi, tao còn sống được 18 tháng nữa." Nghe sốc quá, về viết ngay trong đêm hôm sau mang đến đưa anh đọc, tôi thấy anh vui khi nhắc lại một thời về người lính ra trận".

                                                 Tác giả : Khắc Việt

Một người bạn Sài Gòn gọi điện cho tôi, nhắn:” Nghe tin Phước Hòa ốm, mày đến thăm nó xem sao!”. Buông điện thoại, tôi nhớ đến Hoa Tóc Tiên, loài hoa tôi chưa biết nhiều về nó.
Hoa Tóc Tiên, tên của bài hát tôi được nghe chỉ một lần ở Quảng Trị, khi hai thằng bạn Trỗi K7 chúng tôi gặp nhau. Sau hiệp định Pa Ri, đơn vị được lệnh chuyển vào Phong Điền, Thừa Thiên. Bàn giao chốt cho các đơn vị của tỉnh đội Quảng Trị, chúng tôi đi theo đường 15N, con đường nhánh nhỏ của hệ thống đường Trường Sơn theo trục Bắc Nam, chạy sát vùng giữa ta và địch. Đường nhỏ hẹp, nhiều đoạn chỉ vừa một chiều xe đi, len qua phần đồi núi thấp phía đông Trường Sơn, ít đèo dốc hơn nhưng gần địch nên trên đường vào thỉnh thoảng vẫn gặp lính ta ở các đơn vị đang chốt giữ vùng giáp ranh.
Vượt qua con đèo dài, tới thung lũng Ba Lòng rất sớm, khi nắng chiều còn gắt. Đơn vị nghỉ lại ở dải rừng thưa bên một dòng sông. Mới vào mùa khô nước sông còn nhiều, dòng chảy hiền hòa, trong xanh. Khúc sông này ở Thành cổ gọi Thạch Hãn còn trên rừng dòng nhỏ hơn, hai bên bờ có nhiều đá mồ côi, nhìn nó như một con suối lớn có tên Ba Lòng. Mắc võng sát bờ sông, tôi nhìn nhánh Trúc Đào vươn cành là là mặt nước, lại nhớ bóng liễu rủ bên hồ Gươm Hà Nội. Xa nhà mới tám tháng mà sao bỗng hôm nay nhớ quá…
Đang miên man về Hà Nội, chợt thấy một người lính lang thang dọc bờ sông, dáng nhàn nhã như đi dạo. Người lính lạ đến gần, tôi nhận ra Phước Hòa, thật khó tin! Tôi nghĩ: mình đã rất may mắn mới gặp được bạn Trỗi ở đất Quảng Trị này. Nghe tôi gọi, bạn cũng tròn mắt ngỡ ngàng.
Chúng tôi ngồi ngay mép nước bên bụi Trúc Đào trò chuyện. Dòng sông xanh mát như dòng Li Giang bên Trung Quốc ngày bé chúng tôi vẫn thường ra tắm mỗi chiều. Bao chuyện của Trỗi những ngày Quế Lâm, Trung Hà như vừa mới hôm qua. . . chuyện về các bạn mình, nghe nói lính Trỗi vừa rồi vào Quảng Trị nhiều lắm, khóa nào cũng có nhưng chúng tôi chẳng hề biết tin tức về nhau. Hồi tháng 9/72 tôi gặp Mạnh Thắng ở Quảng Bình trên đường hành quân, rồi mỗi thằng mỗi ngả. Đến Bãi Hà gặp Sĩ Luyện bị thương, tay băng trắng trên đường ra viện, Luyện báo tin Y Hòa hy sinh ở Tích Tường Như lệ, thật buồn! Không biết ai còn, ai mất trong lính Trỗi chúng tôi sau một mùa hè đỏ lửa, Quảng Trị..
Phươc Hòa mới vào Quảng Trị được ít hôm, thấy sông nước miền Trung lạ và đẹp, lang thang ngắm cảnh không ngờ lại gặp tôi. Lúc này mới biết bạn là lính cao xạ 37 li bảo vệ ga Thị Long ở Thanh Hóa, tháng 12/72 đơn vị kéo ra bảo vệ Hà Nội. Sau trận đánh B52 ở Hà Nội, được về phép vài ngày, bạn lại cùng trung đoàn vào gấp Quảng Trị. Trung đoàn 223 cao xạ của Phước Hòa nhập vào mặt trận B5 (Trung đoàn có nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm). Lính cao xạ có khác, chỉ vài ngày đã có mặt ở Quảng Trị, còn chúng tôi đi bộ rạc cẳng, mấy tháng trời mới vào tới nơi. Bởi thế gặp nhau là tôi hỏi Phước Hòa nhiều chuyện về Hà Nội, về Khâm Thiên, An Dương, Uy Nỗ… bị B52 rải thảm thế nào, trong này chúng tôi nghe tang thương lắm. Chuyện những người bạn cũ ở Hà Nội giờ ra sao (?) v.v… Vẫn nhớ Phước Hòa có người bạn gái cùng lớp xinh lắm. Tôi gặp một lần khi bạn và cô ấy đến chào mấy người bạn Trỗi trước ngày đi lính. Khi hỏi Phước Hòa chuyện xưa, bạn lặng im không nói… Không khí như trầm lại, tôi biết mình đã lỡ, nhưng sao lại thế? Lính Trỗi vốn “nhát” gái, nhưng khi yêu thì chân thành sâu sắc và tôi hiểu bạn sẽ buồn nhiều khi tình yêu tan vỡ. Ngày ấy đám Trỗi nhìn họ thật ngưỡng mộ, khao khát những tưởng rằng Phước Hòa sẽ là thằng hạnh phúc nhất. Mối tình đẹp vậy! Không lẽ ngắn ngủi thế sao? Nghĩ thế thôi, tôi không dám hỏi gì thêm nữa.
Phước Hòa lặng lẽ bứt từng lá trúc đào thả xuống lòng sông, lá dập dềnh trôi theo làn nước, xa mãi. Chợt bạn quay sang hỏi:
- Đơn vị có đàn không?
Thật may, đơn vị có nhiều anh em Hà Nội, nhiều người biết ghi ta, trình độ chỉ bập bùng “cơm nguội “ nhưng đàn lúc nào cũng có.
Chỉnh lướt dây đàn cho đúng lại, bạn hát. Tôi nhìn ra phía dòng sông lắng nghe từng lời hát. Giọng trầm buồn cùng âm thanh của cây đàn gỗ lan toa trên mặt sông lấp lánh trong nắng chiều, len giữa rừng thưa đến từng cánh võng. Anh em trong đơn vị ngồi cả dậy, lặng nghe. Bài hát lạ, tôi chưa từng nghe, nhưng buồn làm sao, cái buồn của người lính nơi xa, của mất mát, lời hát không trách cứ ai nhưng âm thầm cô quạnh, day dứt…
…Dù rằng đến cuối đời, bên khói hương lúc khóc người yêu tôi, tôi đã yêu suốt một thời …
Ngưng hát, Phước Hòa kể cho tôi nghe về Hoa Tóc Tiên _ Tên bài hát. Loài hoa chỉ nở khi đến mùa giông bão, có người gọi là Hoa Báo Vũ, loài hoa đẹp nhưng yếu ớt mong manh như tình yêu trong chiến tranh vậy.
Một người, rồi hai người trong đơn vị tôi lặng lẽ đến, lấy cớ mượn cái điếu, hút xong rồi ngồi cả lại, lính Hà Nội với nhau cả mà. Biết mọi người muốn nghe Phước Hòa hát, tôi nhìn bạn thỉnh cầu khích lệ. Chiều ý mọi người, Phước Hòa lại hát. Tiếng hát, tiếng rít thuốc lào của đám lính trẻ vọng lan cả cánh rừng suốt đến chiều tối. Bài hát chia tay, Phước Hòa hát có tên “ Gặp nắng trên đường mùa đông ”, cũng là một bài hát của bạn, mới viết sau ngày Hà Nội ngừng tiếng bom, sau một mối tình tan vỡ, viết trên đường hành quân vào Quảng Trị.
Đêm ấy tôi thao thức không sao ngủ được, vui được gặp bạn, buồn vì chuyện bạn... lặng nghe dòng sông chảy, tôi cứ miên man nghĩ về những người bạn lính của mình. Người vừa ngã xuống khi chưa tròn 18, người bị thương bỏ lại một phần thân thể nơi chiến trận đẫm máu và hôm nay một người bạn nữa, tiếp tục lên đường vào mặt trận vẫn mang theo nỗi đau mất mát của mối tình đầu. Hoa Tóc Tiên ấy, sao lại có nó nhỉ? Hoa đẹp! Nhưng thứ Hoa này không phải dành cho lính?
Tôi bỗng nhớ câu thơ của ai đó:
Chiến tranh là chồng chồng nỗi đau se thắt. Nỗi đau làm ta đông cứng khi ngoải nhìn, nhớ lại...
Tôi tin bạn mình, người lính sẽ vượt qua được nỗi đau này. Bài hát cuối cùng lúc chia tay “ Gặp nắng trên đường mùa đông” ấy, tôi đã lờ mờ nhận ra, dù còn buồn nhưng mạnh mẽ làm sao. Năm đó mùa đông lạnh lắm, phải chăng cái nắng từ phương Nam đang sưởi ấm trái tim người đồng đội của tôi trên đường tiến ra mặt trận (?)
Sau lần ấy, chúng tôi không còn gặp lại, nhưng tôi và Phước Hòa vẫn bên nhau trong các trận đánh ở Phong Sơn, sông Bồ trong chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng năm 1975. Ngày đánh trận Phổ Lại, đơn vị tôi được tăng cường một đại đội cao xạ 37li. Lính cao xạ hạ nòng cùng bộ binh đánh các điểm cao, khi có máy bay họ lại nổ súng bảo vệ chúng tôi. Trong một tình huống buộc phải nổ súng, khi trên đầu chúng tôi đang có máy bay trinh sát OV10 của địch. Trận địa bị lộ, pháo khói chỉ điểm vừa bắn vào trận địa đã thấy chiếc A37 bổ nhào xuống trận địa. Loạt bom đầu chúng tôi chỉ kịp lao vào hầm. Máy bay lượn lên chuẩn bị cho đợt bổ nhào tiếp theo, được lệnh rời trận địa, chúng tôi chạy thật nhanh, càng xa trận địa càng tốt. Khi chạy, tôi nghe những tiếng nổ đầu nòng rộ lên “thùng thùng” xung quanh dưới mặt đất, trên trời ran dài những tiếng “lục bục”, tôi biết cao xạ mình lên tiếng. Chiếc A37 không dám xà xuống nữa, cắt loạt bom vu vơ rồi bỏ đi. Hết máy bay chạy trở lại, trận địa còn nguyên vẹn, bom địch bị hất ra xa. Cảm ơn lính cao xạ…
Khi nghe Phước Hòa kể chuyện vượt sông Bồ vào Huế, mới biết bạn ở chính cái đơn vị tăng cường cho chúng tôi ngày đó, vậy mà không hề gặp mặt.
Hôm nay đến thăm bạn, ngồi trong căn hộ bình dị của Phước Hòa, hai đứa lật trở về quá khứ, nhớ lại những ngày ở Trị Thiên mà bồi hồi xúc động. Lại chuyện Quế lâm-Hưng Hóa, lại chuyện Thạch Hãn-Sông Bồ, ký ức cứ nối dài. Chuyện Hoa Tóc Tiên, nỗi đau riêng của người lính chẳng đáng gì với những người đã ngã xuống hôm qua, với những bà mẹ mấy chục năm nay vẫn ra cổng làng ngóng con về và hàng triệu những đóa hoa tươi ngày chiến thắng không có người nhận. Trên bàn làm việc là tấm hình Hoa Tóc Tiên của bạn chụp, thật đẹp vẫn thấy màu tím trong sắc hoa, vậy mà đã có lúc chúng tôi không tin có nó…
Câu chuyện nhỏ về Phước Hòa cũng là một trong những nỗi buồn chiến tranh mà người lính phải lãnh nhận, gánh chịu. Bạn tôi đã vượt qua được hoàn cảnh để tiếp tục lên đường vào mặt trận, bi quá nhưng cũng là thường như bao người lính trận khác. Tôi đã đọc nhiều câu chuyện về chiến tranh, chưa thấy ai viết về lính thất tình ra trận như bạn tôi ngày ấy. Phải chăng khi đó người ta không muốn làm nản lòng chiến sĩ...
Chuyện cũ đã qua lâu rồi. Bên Phước Hòa hôm nay là một gia đình hạnh phúc, là người vợ rất yêu lính và hai đứa con trưởng thành, năng động. Thăm gia đình Phước Hòa cũng là thăm hai người bạn cũ, Vợ Phước Hòa, Tân Hương vốn là bạn cùng lớp phổ thông với tôi. Chúc hai bạn thêm sức khỏe và hạnh phúc, sớm có cháu nội, ngoại để vui vầy bên chúng, để còn kể cho chúng nghe về Hoa Tóc Tiên xưa và nay.
(Quảng Trị 3/1973_Hà Nội 20/12/2008)