Menu ngang

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

Số 0 đến vô tận

Tác giả: Tuấn Khanh
Tiền thật lạ. Tiền quyến rũ dân đen phạm pháp, hấp dẫn quan chức tham nhũng, và tiền cũng tự biến mất, mà không lời hồi đáp. Tiền có thể biến một người công nhân cùng khổ thành người tranh đấu, và biến những công chức thành kẻ cắp.
image
Rất nhiều bản tin hôm nay, đặc biệt là tin giải trí, hay nói tới tiền. Dù là mang tính chê bai hay ca ngợi, tiền đang được đề cập đến như một khát vọng cháy bỏng khác thường trong xã hội hôm nay.
Ông bạn giáo viên lâu ngày gặp lại, nói được đôi câu đã bắt sang thời sự. “Sao chuyện như vầy mà người ta có thể viết thành một bài báo?”, ông bạn chìa cho tôi xem một bản tin về người đẹp nào đó đang xách chiếc túi hàng hiệu trị giá vài ngàn USD, nội dung của một bài viết dài, cũng chỉ quanh chuyện chiếc túi đắt tiền và người đẹp sang trọng đó đã bỏ tiền mua.
Đâu chỉ có riêng bài báo đó, mà dường như cả thế giới thông tin hôm nay đang nóng bỏng nhìn ngó xem ai có nhà tiền tỷ, ai là đại gia, ai đang thất thế, ai dám tung tiền gây chú ý… những câu chuyện vô bổ, không biết để làm gì đang dẫy đầy trên báo chí, truyền hình. Cả xã hội đang phản ánh một điều đáng lo ngại trong việc kính ngưỡng sự giàu có, bất kỳ ai giàu có đều có thể thành trung tâm thông tin, thậm chí trở thành nhân vật lên bìa của một tờ báo, mà nội dung thì nhạt nhẽo.
Có tiền, những kẻ vô danh được tung hô một cách kệch cỡm. Không tiền, thì bị đẩy xuống tận bùn sâu. Mới đây chẳng bao lâu, một người kinh doanh trẻ tuổi được báo chí ca ngợi, giới thiệu dàn xe hơi đắt tiền nhất nhì Việt Nam của anh, thế rồi lúc anh kinh doanh khó khăn, lại thấy những tin tức diễu cợt không mục đích, nói rằng anh đang cùng cực vì ngồi trên món nợ 3000 tỷ.
Mới đây, một “đại gia” đeo vàng xuất hiện ở Hà Nội – cũng là đề tài báo chí giật lên, xôn xao, rồi có hẳn một tờ báo đi tận Tuyên Quang để tìm ra nhà của người giàu có đó. Bài viết giới thiệu, kính cẩn gọi nhân vật đó, nhắc đi nhắc lại là “vị đại gia”. Ngay trong từng câu chữ, người ta cũng đọc được sự thèm khát của tác giả trước cảnh giàu có một người khác.
Những điều đó, có thể chỉ là chuyện lá cải tầm phào, không đáng quan tâm, nhưng giờ đây, khi đầy dẫy trên các trang tin tức, cũng là một góc nhìn cho thấy một xu thế mê đắm vật chất. Một hiện trạng tôn thờ đồng tiền và chạy theo nó một cách vô nghĩa. Nó phản ánh cháu giết bà chỉ vì cần vài chục ngàn chơi game, con giết mẹ chỉ vì nuôi ăn tốn kém. Thậm chí với thần thánh cũng chỉ cần nhét tiền lên bàn thờ, vào tượng là sẽ mua được may mắn, phước đức.
Thế nhưng cần một lời nói đúng, chia sẻ cho hoàn cảnh của 90.000 công nhân của công ty PouYuen đang đình công thì thật khó tìm lúc này. 90.000 con người lao động chân chính hốt hoảng khi nghe tin chính sách bảo hiểm xã hội thay đổi, đã kinh hoàng ngừng việc và yêu cầu công bằng cho họ. Thế nhưng chuyện 90.000 con người tranh đấu với yêu cầu đúng của mình, vẫn bị chìm ngập trong những dòng thông tin hưởng thụ và giải trí xa rời thực tế.
Theo chính sách mới, điều luật 60 BHXH, người lao động khi không được nhận tiền bảo hiểm, ngoại trừ khi họ đến tuổi hưu. Giả như một công ty thuê công nhân chỉ trong 5 năm, sau đó đóng cửa. Những công nhân này phải đợi đến tuổi hưu của họ mới được nhận tiền BHXH, dù lúc đó, có thể họ chỉ mới 21 tuổi. Mức bảo hiểm xã hội ấy dù chỉ ở mức 300-400 ngàn, lại phải đợi đến tuổi hưu mới được nhận.
Những câu chuyện về tiền quẩn quanh đất nước này. Và như có liên đới với nhau. Khi chính sách mới về không phát tiền BHXH cho người lao động như thường lệ, cũng là lúc mà người dân nhận được tin Quỷ bảo hiểm xã hội tự nhiên không cánh mà bay 1.052 tỷ đồng. Phiên họp của quốc hội năm ngoái công bố như vậy. Thậm chí sau khi thanh tra, hồ sơ gốc chỉ thấy có 700 tỉ, còn bao nhiêu biệt dạng. Đã vậy, chỉ tính đến năm 2013, báo cáo về chi phí quản lý quỹ bảo hiểm xã hội lại cao ngất trời: 3.718 tỉ đồng.
Tiền thật lạ. Tiền quyến rũ dân đen phạm pháp, hấp dẫn quan chức tham nhũng, và tiền cũng tự biến mất, mà không lời hồi đáp. Tiền có thể biến một người công nhân cùng khổ thành người tranh đấu, và biến những công chức thành kẻ cắp.
Tiền thật thú vị, dường ít có ai phải chịu trách nhiệm về nó trong hệ thống công quyền. Chỉ có nhân dân kiệt sức đóng thuế là người ngẫm nghĩ về nó, và giống như ông bạn thầy giáo của tôi, chìa tờ báo ra, với câu hỏi không bao giờ được giải đáp, như một số 0 đi vào vô tận.
Theo : Kim Dung / Kỳ Duyên

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Vài nét về Phạm Xuân Ẩn – người cán bộ tình báo xuất sắc

QĐND Online - Phạm Xuân Ẩn, người cán bộ tình báo được cả thế giới biết đến như một “điệp viên hoàn hảo”. Sách báo viết về ông khá nhiều, bài viết dưới đây của một tác giả đặc biệt. Ông là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), nguyên Cụm trưởng Cụm H63 mà Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên chủ lực của Cụm. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Ông Sáu Trí – một huyền thoại tình báo

QĐND Online - Năm nay, Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm (tức Sáu Trí) đã sắp bước vào tuổi 90. Với giọng nói nhỏ nhẹ, gương mặt phúc hậu, ông khiến mọi người thấy gần gũi khi tiếp xúc, dù mới lần đầu được gặp. Những thăng trầm, những chiến công của một chiến sĩ hơn 50 năm chiến đấu trong ngành tình báo như in dấu trên mái tóc bạc trắng và cả khoé mắt ưu tư nhưng lúc nào cũng đọng nét cười của ông.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

“Chỗ cần nhà nước thì không thấy đâu”

– Các chuyên gia kinh tế hàng đầu VN thừa nhận thực tế suốt gần 30 năm đổi mới, đã có nhiều cuộc thảo luận, nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng câu trả lời vẫn mù mờ.
VietNamNet giới thiệu phần 1 cuộc bàn tròn với TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch Đầu tư và TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN.

30 năm vẫn chưa rõ
Nhà báo Việt Lâm: Tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã phát biểu rằng: “Kinh tế thị trường là thế nào? Định hướng xã hội chủ nghĩa là thế nào? Phải nói cụ thể chứ không thể chung chung mãi được.” Ban Kinh tế Trung ương cũng đang bắt đầu lấy ý kiến thảo luận để đưa định nghĩa về kinh tế thị trường định hướng XHCN vào văn kiện Đại hội Đảng sắp tới. Những động thái này nói lên điều gì?
TS. Lưu Bích Hồ: Thủ tướng là một người lãnh đạo có tư duy đổi mới rất rõ. Từ khi xây dựng Chiến lược 2011-2020 do Thủ tướng chủ trì đã thể hiện nhiều quan điểm đổi mới trong phát triển đất nước, đăc biệt là về phát triển kinh tế thị trường, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và mở rộng dân chủ xã hội. Những thông điệp đầu năm đều thể hiện tinh thần đó.
Năm nay, Thủ tướng không có thông điệp đầu năm, nên tôi nghĩ những phát biểu trong phiên họp tháng 2/2015 chính là một dạng thông điệp cho năm nay, tập trung vào những vấn đề đang được xã hội đặc biệt quan tâm và Chính phủ tập trung chỉ đạo để tháo gỡ những hạn chế, trở ngại trong việc thực hiện các nhiệm vụ của năm 2015, đặc biệt là đẩy mạnh cải cách thể chế kinh tế, cũng là một bước chuẩn bị quan trọng tiến đến ĐH XII của Đảng. Thủ tướng cũng đã từng khẳng định, động lực mà những cải cách trước đây tạo ra đã không còn đủ mạnh và “đây là lúc” chúng ta cần có thêm động lực. Quan điểm mới này rất có thể sẽ là chìa khóa để giải quyết những vấn đề lớn đòi hỏi tư duy đột phá và tầm nhìn xa, để từ đó đưa đất nước tiến nhanh vào giai đoạn phát triển mới.
Đương nhiên, khi đề cập những vấn đề lớn như thế này, cần có cách tiếp cận từ những tư duy lý luận và quan điểm chung, bao trùm; đồng thời phải làm sáng tỏ từ những vấn đề rất cụ thể đang đặt ra trong cuộc sống, trong thực tiễn chỉ đạo điều hành của Chính phủ, từ đó trở lại làm rõ hơn và khẳng định những quan điểm cơ bản. Cách nêu vấn đề của Thủ tướng rất có ý nghĩa và có sức thuyết phục trong tiến trình đổi mới, cải cách và phát triển của đất nước.
TS. Trần Đình Thiên: Tôi thì nhìn nhận phát biểu của Thủ tướng ở hai khía cạnh.
Thứ nhất, Thủ tướng là người điều hành, người thực thi cơ chế, triển khai các chính sách, phân bổ các nguồn lực, tổ chức phân phối, nói cách khác là người vận hành trong nền kinh tế thực. Khi mà Thủ tướng đã nói như vậy tức là những nguyên tắc, nguyên lý về kinh tế thị trường định hướng XHCN mà chúng ta hay nói lâu nay đã không đủ cho việc điều hành mà cần phải cụ thể. Điều này cũng gắn với thực tế là quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu kinh tế khởi động mấy năm nay đang rất vất vả vì động chạm đến những vấn đề mang tính nguyên lý, đường lối. Bởi vậy, khi người điều hành nền kinh tế này phải nói như vậy, trong bối cảnh mà đất nước đang đòi hỏi phải có những xoay chuyển căn bản để đối mặt với hội nhập thì tôi tin rằng phát biểu đó xuất phát từ một sự đúc kết, chiêm nghiệm sâu sắc.
Thứ hai, trong sự phát triển của một quốc gia thì đường lối đóng vai trò quan trọng nhất. Không có đường lối thì dẫn dân tộc đi đâu? Tại sao phải có Đảng? Bởi vì Đảng là người đưa ra đường lối. Mà muốn một đường lối dẫn được dân tộc đi thì nó phải đúng nhưng cũng phải rõ ràng và cụ thể. Tất nhiên, chúng ta chọn cái gọi là kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đường lối. Nhưng cho đến bây giờ sau 30 năm, chúng ta vẫn thấy là nó chưa đủ cụ thể.
Tôi và anh Hồ đều là những người làm nghiên cứu. Có một câu chuyện thế này. Cứ 5 năm lại có một hoặc nhiều chương trình nghiên cứu nhà nước. Trong những chương trình ấy, thường có một vài đề tài để trả lời cho câu hỏi thế nào là kinh tế thị trường định hướng XHCN. Cứ cho là ít nhất có 25 năm, tức là 5 đợt làm chương trình thì có thể hình dung đã có bao nhiêu đề tài nghiên cứu phải trả lời: thế nào là kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đến đợt này vẫn còn trả lời tiếp. Thậm chí, còn nhiều đề tài khác không có tên ấy nhưng cũng để trả lời câu hỏi đó. Như thế nghĩa là chúng ta đã rất cố gắng để đi tìm một định nghĩa thực sự làm chúng ta thấy tin tưởng và hài lòng. Nhưng thực tế là đến bây giờ chúng ta vẫn chưa rõ, vẫn cứ phải đi tìm câu trả lời. Trên tinh thần đó, tôi cho rằng cách đặt vấn đề của Thủ tướng gợi ra một phương pháp luận để giải quyết vấn đề này một cách thực tiễn.
kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, Trần Đình Thiên, chệch hướng
TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch Đầu tư là một chuyên gia gạo cội, tham dự vào quá trình hoạch định chiến lược phát triển từ những năm đầu Đổi Mới. Ảnh: Lê Anh Dũng
Vướng trần về nguyên tắc, tư tưởng?
Việt Lâm: Tại sao quá trình đi tìm câu trả lời cho rõ ràng, cụ thể lại mất nhiều thời gian đến thế?
TS Trần Đình Thiên: Nhận thức là một quá trình nhưng như vậy quả thật là quá chậm. Chúng ta phải đặt vấn đề là nếu 30 năm mà chưa trả lời đầy đủ được một vấn đề về đường lối cơ bản thì chúng ta cần phải xem lại nó khiếm khuyết ở chỗ nào, phương pháp luận có vấn đề gì không. Phải chăng chúng ta bị hạn chế bởi cách tiếp cận nguyên lý, trừu tượng? Phải chăng chúng ta còn có ngại ngùng?
Thế còn cụ thể như thế nào? Xưa nay ta hay nhắc đến những câu nguyên lý chung: kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những ý đó rất hay, nhưng lại chung chung. Rồi những tuyên bố như kinh tế nhà nước là chủ đạo, các thành phần kinh tế khác đóng vai trò quan trọng, bảo đảm công khai, minh bạch. Những định nghĩa này mới dừng ở tuyên bố, chứ chưa đủ cụ thể để tạo ra một cơ chế hành động.
Vấn đề thứ hai là giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN, hai yếu tố vốn là đối lập, vốn là loại bỏ nhau trong quan niệm cổ truyền về chủ nghĩa xã hội hay là về kinh tế thị trường trong học thuyết chính thống. Câu hỏi này phải được trả lời một cách minh bạch và triệt để, chứ không thể né tránh mãi. Lúc trước chúng ta lý luận rằng hai mệnh đề này loại trừ nhau. Bây giờ, chúng ta lại khẳng định có thể kết hợp được với nhau. Như thế là không triệt để về mặt lý thuyết, lý luận nên những vấn đề giải quyết về mặt thực tế cứ bị vướng víu.
Hoặc ngay cả từ “định hướng” cũng gây ra nhiều tranh cãi. Định hướng là như thế nào? TQ thì định danh nền kinh tế của họ là kinh tế thị trường XHCN. VN thì thêm từ định hướng vào. Thực chất, các nước đều có vô số mô hình kinh tế thị trường chứ không phải riêng VN mới có mô hình đặc thù. Vấn đề là các nước khác đều chuyển thành những cơ chế, thiết chế cụ thể để hành động. Do vậy, cách tiếp cận của Thủ tướng là một hướng mở có tính đột phá về tư duy.
Chúng ta đã mất gần 30 năm thảo luận, tranh luận gay gắt đủ cả về mô hình phát triển, nhưng dường như vẫn hiện diện đâu đó cái gọi là “trần về nguyên tắc, về tư tưởng”. Nay có một cách tiếp cận khác xuất phát từ thực tiễn, xuất phát từ tư duy xử lý vấn đề. Hi vọng cách tiếp cận mới này sẽ khởi đầu cho một cuộc thảo luận thực chất.
TS Lưu Bích Hồ: Tôi muốn bổ sung thêm một chút. “Cái trần” mà anh Thiên vừa nói là gì? Tôi thì hiểu đó là một khung lý thuyết, học thuyết cũ mà chúng ta kế thừa bao nhiêu năm nay. Bây giờ, Đảng đã đặt ra yêu cầu phải đột phá, phải đổi mới về tư duy. Tôi nghĩ ở đây có hai cách tiếp cận quan trọng: một là thực tiễn, hai là cụ thể. Chân lý là cụ thể chứ không thể chung chung được. Chúng ta phải làm sao nếu như chứng minh được thì nó là đột phá cả cái trần.
Chỗ cần nhà nước thì không thấy nhà nước đâu!
Việt Lâm: Vừa rồi hai vị khách mời đều nhắc đến sự vênh nhau giữa lý luận và thực tiễn. Tôi nhớ có câu nói rằng “lý thuyết thì màu xám mà cây đời thì mãi mãi xanh tươi”. Thực tiễn thì vận động, biến đổi hàng ngày. Qua quan sát của các vị khách mời thì sự chung chung, thiếu cụ thể trong định nghĩa về mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN như vừa qua đã gây ra những hệ lụy gì?
TS. Lưu Bích Hồ: Sự mù mờ/chưa rõ ràng về kinh tế thị trường định hướng XHCN thể hiện ở cả hai mặt: kinh tế thị trường và định hướng XHCN. Về kinh tế thị trường, chúng ta chưa thật thấu suốt việc phải tuân thủ những nguyên tắc và quy luật phổ quát của kinh tế thị trường trong chính sách và vận hành mà bất cứ một mô hình cụ thể nào cũng phải áp dụng như là quy luật cung cầu, cạnh tranh minh bạch, lấy sở hữu tư nhân làm nền tảng. Chính vì thế, dù đã nói là phải thị trường hóa nhưng nhà nước vẫn can thiệp quá nhiều về mặt hành chính vào giá cả, thị trường.
Về định hướng XHCN, chúng ta chưa thật rõ về khái niệm cụ thể và cách làm thế nào để thực hiện có hiệu quả trên thực tế mà không trái với những nguyên tắc, quy luật phổ quát của kinh tế thị trường.
Sự lúng túng, tù mù này là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến chúng ta chưa phát huy được những ưu việt, lợi thế của kinh tế thị trường để huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả, để tăng sức cạnh tranh, để hội nhập quốc tế có hiệu quả cao…Hệ quả là sự phát triển kinh tế của đất nước còn chậm so với yêu cầu và khả năng của ta, còn bị tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Hơn nữa 10 năm gần đây nền kinh tế còn rơi vào tình trạng bất ổn và suy giảm nặng nề. Đây đều do thể chế kinh tế thị trường chưa được xây dựng và vận hành tốt cùng với quản lý có những sai lầm thiếu sót không phù hợp với chuẩn tắc, yêu cầu của kinh tế thị trường.
kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, Trần Đình Thiên, chệch hướng
TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, một trong những chuyên gia nổi tiếng vì những phát biểu sắc sảo, thẳng thắn. Ảnh: Lê Anh Dũng
TS. Trần Đình Thiên: Tôi đồng ý với ý kiến của anh Hồ. Tôi cho rằng, sự mù mờ ở đây là cách hiểu về kinh tế thị trường. Trước kia, chúng ta mới chỉ hiểu về kinh tế thị trường, còn thực tiễn nó vận hành như thế nào thì còn khá mơ hồ. Tất nhiên, thực tiễn cũng có. Ví dụ như sau giải phóng, kinh tế thị trường vốn rất phát triển từ phía nam đã âm thầm lan dần ra bắc theo mạch vận động ngầm của người dân trong bối cảnh cấm đoán, “ngăn sông cấm chợ”.
Nhưng ngược lại, lúc đó cũng có một luồng quan điểm về CNXH đóng đinh về mặt nguyên lý trong nhận thức chúng ta là gắn với kế hoạch hóa tập trung, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể mà về bản chất là công hữu. Luồng tư duy này tràn vào nam theo con đường quốc doanh hóa.
Hai làn sóng ngược chiều này trên thực tế đã xung đột nhau dữ dội và càng chứng tỏ cho chúng ta thấy CNXH và kinh tế thị trường không thể tương dung được, đến mức chúng ta phải đổi mới. Luận đề đổi mới là chấp nhận kinh tế thị trường.
Nhưng câu chuyện ở đây là về cơ sở lịch sử xã hội, cơ sở tư tưởng, cả cơ sở gọi là tình cảm. Chủ nghĩa xã hội có những giá trị mà chúng ta nghĩ là rất tốt cần được giữ lại. Có lẽ công thức kết hợp đơn giản như vậy bởi vì chúng ta tin vào sức mạnh nhà nước. Đây chính là chỗ cần phải kiểm điểm lại. Bởi lẽ, nhà nước chấp nhận kinh tế thị trường nhưng vì nghĩ mình rất mạnh nên cũng có nhiều hành vi ngăn cản thị trường. Tôi nhớ trong một nghiên cứu công bố năm 2000 của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc về VN tiến tới năm 2020 có nhận định rằng ở VN chỗ nào cần nhà nước thì không thấy nhà nước, chỗ nào cần thị trường thì không thấy thị trường.
Tư nhân chết thì DN nhà nước cũng lao đao
Việt Lâm:Ông có thể ví dụ cụ thể về nghịch lý: chỗ nào cần nhà nước thì không thấy nhà nước, chỗ nào cần thị trường thì không thấy thị trường không?
TS Trần Đình Thiên: Lấy ngay ví dụ là việc điều hành giá cả là việc của thị trường nhưng nhà nước lại dính vào quá nhiều. Thủ tướng đã nhiều lần khẳng định quyết tâm để giá cả do thị trường quyết định, nhưng trên thực tế việc chuyển này còn rất vất vả. Nhiều loại giá cơ bản nhất hiện nay vẫn không do thị trường quyết định.
Do đường lối không rõ ràng nên không thể biến thành những thái độ, chính sách cụ thể đối với các lực lượng và cơ chế kinh tế. Chúng ta vẫn khẳng định kinh tế nhà nước, mà ở đây bị hiểu là doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo, trong khi nguyên lý cơ bản của kinh tế thị trường là các thành phần kinh tế phải bình đẳng và cạnh tranh với nhau một cách sòng phẳng.
Rõ ràng, giữa cái chủ đạo và thị trường cạnh tranh bình đẳng không tương thích với nhau, nhưng cơ chế nào để xử lý bất cập này thì chưa có bởi chúng ta vẫn chưa giải thích rõ định hướng XHCN trong điều kiện kinh tế thị trường là như thế nào, có quan hệ thế nào với kinh tế thị trường? Quan hệ kiềm chế hay thúc đẩy?
Nhiều lần tôi cũng từng nói, khi mà chúng ta không rõ về định hướng XHCN thì trong nhiều trường hợp, nó trở thành lực cản hơn là lực đẩy. Bởi đã có định hướng thì có chệch hướng. Nói thẳng ra, trong tâm trí chúng ta, thị trường dù mang lại điều tốt nhưng vẫn có cái gì đó đáng lo ngại rằng chệch hướng XHCN sang hướng thị trường. Định hướng thế nào không rõ, nhưng nghe dọa chệch hướng là ngại, không dám làm nữa.
Nói tóm lại, câu chuyện ở đây là chúng ta đã chọn thị trường là định đề đổi mới và mang lại thành tựu nhưng thiện chí đối với nó không phải là mạnh mẽ lắm. Hệ thống giá cả là một ví dụ như tôi phân tích ở trên. Hoặc chúng ta nói là ủng hộ kinh tế tư nhân, nhưng trong thực tế, kinh tế tư nhân vẫn bị phân biệt đối xử nặng nề. Bằng chứng là mấy năm vừa rồi, khu vực tư nhân chết rất nhiều.
Chúng ta quên mất một thực tế là khi ta ưu ái kinh tế nhà nước thì vô hình chung khu vực DNNN cũng yếu đi rất nhiều. Bởi vì nguyên lý cơ bản của thị trường là các chủ thể kinh tế đều bình đẳng nhưng vị thế có thể khác nhau. Nghĩa là tôi với ông về mặt tư cách pháp lý thì bình đẳng nhưng vị thế khách nhau, mỗi ông một chức năng. Giống như tay với chân đều quan trọng nhưng chức năng khác nhau. Nhưng ta lại không phân biệt rõ giữa tư thế và vị thế, mà đánh đồng rằng ông DNNN phải hơn ông tư nhân nên được hưởng ưu ái hơn. Nhưng kết cục thì ông tư nhân chết cũng khiến ông DN nhà nước lao đao.
Đấy là một ví dụ sinh động để nói rằng từ một khái niệm cơ bản trong phát triển đã không cụ thể rõ ràng sẽ kéo theo đằng sau khái niệm ấy một chuỗi quan niệm khác sai lầm, gây ra những hệ lụy phát triển. Bây giờ, theo cách tiếp cận của người đứng đầu Chính phủ là lấy thị trường làm trụ để xem xét vấn đề định hướng như thế nào, để tiến đến mục đích của kinh tế thị trường. Tôi cho rằng đây là cách tiếp cận đúng.
kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, Trần Đình Thiên, chệch hướng
Nhà báo Việt Lâm, TS Lưu Bích Hồ và TS Trần Đình Thiên tại bàn tròn. Ảnh: Lê Anh Dũng
TS. Lưu Bích Hồ: Tôi muốn bổ sung một ý rất quan trọng mà chúng ta chưa đề cập tới. Khi nói đến kinh tế thị trường thì luôn luôn phải nói tới quan hệ giữa thị trường và nhà nước. Cả thế giới đã xác định rõ chức năng quan trọng nhất của thị trường là vai trò quyết định sự phân bổ nguồn lực. Nhưng vì chúng ta không làm rõ được điều đó nên nhà nước cứ lấn vào chức năng của thị trường. Nhiều năm nay nhà nước không chỉ phân bổ nguồn lực công mà còn sang phân bổ luôn nguồn lực của các thành phần khác.
TS. Trần Đình Thiên: Khi giá cả do nhà nước quyết định thì đấy chính là cách phân bổ nguồn lực do nhà nước quyết định. Bởi vậy, chưa nói đâu xa, chuyển hệ thống giá cho thị trường là mấu chốt cơ bản.
TS. Lưu Bích Hồ: Hơn nữa, nhà nước ôm vào rất nhiều nguồn vốn để đầu tư công, trong khi lẽ ra ông chỉ nên đầu tư ít thôi, để các thành phần kinh tế khác người ta tự làm. Mãi đến vừa rồi chúng ta mới gút được chuyện sửa luật đầu tư công, thu hẹp bớt vai trò nhà nước, để dành đất cho thị trường. Tôi thấy hiện nay, tâm điểm của cải cách thể chế chính là thừa nhận vai trò của thị trường trong phân bổ nguồn lực. Nhà nước phải rút ra để làm việc khác chứ không thể như anh Thiên nói là cứ đi làm cái không đáng làm, trong khi cái đáng làm thì không làm. Hậu quả rõ ràng là hiệu quả nền kinh tế rất thấp. Thậm chí từ đó còn nảy sinh bao chuyện tham nhũng, tiêu cực. Đây là một sự trả giá rất lớn.
  • VietNamNet
(còn nữa)

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

ĐH chỉ là nơi để lấy tấm bằng!

Thực trạng thất nghiệp của sinh viên và sự sụt giảm số người vào ĐH liên tục từ năm 2010 đến nay cho thấy giáo dục ĐH Việt Nam đang tụt hậu không chỉ so với thế giới mà còn với cả nhu cầu thiết thân của nền kinh tế

Tại Đối thoại Giáo dục toàn cầu diễn ra ở Hàn Quốc mới đây, nhiều người đã phải đặt câu hỏi: Trong bối cảnh đổi thay vũ bão của giáo dục ĐH toàn cầu, giáo dục ĐH Việt Nam chịu ảnh hưởng như thế nào và đang đáp ứng ra sao?
Tụt hậu giữa thế giới công nghệ
Tiến bộ công nghệ mang lại lời giải cho bài toán mở rộng lối vào ĐH với một chi phí không quá đắt đỏ và chất lượng có thể chấp nhận. Bên cạnh những tượng đài học thuật vẫn đang tồn tại như là biểu tượng của mô hình ĐH nghiên cứu truyền thống, chẳng hạn ĐH Harvard hay Cambridge, còn có những loại hình trường mới nảy sinh. Đó là các trường “khổng lồ” với hàng trăm ngàn sinh viên như ĐH Mở Quốc gia Indira Gandhi (Ấn Độ) - thành lập năm1985, hiện có 3,5 triệu sinh viên; ĐH Mở Trung Quốc - thành lập năm 1979, hiện có 2,7 triệu sinh viên; ĐH Islamic Azad (Iran), ra đời năm 1982 với 1,6 triệu sinh viên...
Những hình thức phi truyền thống đã ra đời, như đào tạo trực tuyến có thu phí và cấp bằng ở Coursera; đào tạo mở hoàn toàn, không thu phí và không cấp bằng tại Khan Academy.

Các trường ĐH Việt Nam hiện nay vẫn sử dụng phương pháp chủ yếu là diễn giảng Ảnh: TẤN THẠNH
Các trường ĐH Việt Nam hiện nay vẫn sử dụng phương pháp chủ yếu là diễn giảng Ảnh: TẤN THẠNH

Tiến bộ công nghệ tác động trực tiếp đến hoạt động dạy và học. Sinh viên ngày nay được gọi là thế hệ i (i-generation) - những người sử dụng thành thạo và thường xuyên các thiết bị truyền thông kỹ thuật số, liên tục nối kết các mạng xã hội với mức độ giao tiếp ảo thay cho giao tiếp thật ngày càng tăng và tiếp thu một nguồn thông tin khổng lồ. Họ hoàn toàn không cần lối truyền giảng tri thức một chiều của nhà trường truyền thống vì không thầy cô nào đủ khối lượng kiến thức có thể so sánh nổi với kho kiến thức tuôn ra với một cái bấm chuột. Tiến bộ công nghệ đã cho phép việc học có thể cá nhân hóa triệt để và người thầy phải thích ứng với xu hướng ấy để tồn tại.
Trong 2 thập kỷ qua, giáo dục ĐH Việt Nam đã tiến một bước rất dài xét về mặt mở rộng cơ hội tiếp cận. Nhu cầu của kinh tế thị trường và chính sách mở cửa với giáo dục ĐH ngoài công lập đã đưa tỉ lệ người vào ĐH-CĐ trong độ tuổi ở Việt Nam tăng từ 2% lên xấp xỉ 20%, số sinh viên/10.000 dân hiện đã đạt mức khoảng trên 200.
Tuy vậy, thực trạng thất nghiệp của sinh viên trong vài năm gần đây và sự sụt giảm số người vào ĐH liên tục từ năm 2010 đến nay đã gửi đi một tín hiệu báo động. Nó cho thấy giáo dục ĐH Việt Nam đang tụt hậu không chỉ so với thế giới mà còn so với nhu cầu thiết thân của nền kinh tế.
Không học được điều gì đáng kể!
Cho đến nay, có thể nói hầu như các trường ĐH Việt Nam đều đang hoạt động theo phương thức truyền thống, với phương tiện chủ yếu là lớp học, giảng đường, thư viện; phương pháp chủ yếu là diễn giảng; thi cử chủ yếu là kiểm tra kiến thức.
Sự có mặt của tiến bộ công nghệ trong lớp học gần như chỉ là chiếc máy chiếu LCD projector. Vẫn còn ít những người thầy đưa các tài liệu giảng dạy vào lớp dưới hình thức nghe nhìn. Tương tác trong lớp học, dạy bằng cách làm dự án, tạo ra môi trường học tập trải nghiệm... vẫn là những hiện tượng chưa phổ biến. Mối quan hệ nối kết với giới doanh nghiệp và thế giới việc làm vẫn rất hạn chế.
Hệ quả, trường ĐH là nơi sinh viên đến chủ yếu để lấy tấm bằng, còn những gì cần cho cuộc đời họ, cả trong nghề nghiệp lẫn trong việc phát triển cá nhân, thì họ phải tự tìm kiếm ở bên ngoài. Đó là một sự lãng phí vô cùng lớn bởi thời gian của đời người có hạn mà những gì cần học thì vô biên. Những người có điều kiện tài chính thì tìm đến học trường nước ngoài hoặc cácchương trình liên kết.
Thị trường giáo dục ĐH Việt Nam hình thành 2 phân khúc: hàng hiệu giá (quá) cao và hàng chất lượng kém giá rẻ. Phân khúc hàng thật giá phải chăng vẫn còn trống. Rốt cuộc, sinh viên ra trường với tấm bằng không xin được việc bởi trong những năm học ĐH, họ đã không học được điều gì đáng kể. Những người không có khả năng tự học ở bên ngoài nhà trường sẽ bị tụt lại phía sau ngày càng xa.
Có ý kiến cho rằng các trường mở ra ồ ạt, cung vượt quá cầu là nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp. Thật ra, chúng ta không thừa cử nhân vì tỉ lệ người vào ĐH của Việt Nam còn quá thấp so với khu vực. Chúng ta không thừa người có trình độ ĐH mà chỉ thừa người có bằng nhưng không có khả năng tự học và năng lực thích ứng.
Quan sát những biến chuyển trong thị trường giáo dục ĐH, có thể dễ dàng nhận thấy hiện tượng lạm phát bằng cấp đang leo thang. Thoạt đầu, bằng ĐH được xem là tấm vé vào cửa cho những vị trí công việc tốt. Sau đó là bằng thạc sĩ, rồi đến tiến sĩ. Hiện nay, có một tâm lý phổ biến là người ta không còn tin vào bằng cấp trong nước. Vì vậy, cuộc chạy đua với mục tiêu mới là bằng quốc tế trở nên nóng bỏng. Khi thị trường bằng cấp đã và đang tiếp tục bão hòa, tấm bằng không còn là sự bảo chứng cho năng lực nữa thì chỉ những người có năng lực thực sự mới có thể sinh tồn.

Không thể tách rời dòng chảy thế giới
Hơn bao giờ hết, các trường ĐH Việt Nam, các doanh nghiệp và giới làm chính sách cần ngồi lại với nhau để tìm kiếm giải pháp phù hợp cho bối cảnh trong nước. Trong không gian toàn cầu, Việt Nam - một đất nước với 92 triệu dân nhưng có đến 134 triệu thuê bao điện thoại di động tính đến tháng 1-2014 và hơn 20 triệu tài khoản Facebook - không thể tách rời dòng chảy của thế giới. Thế hệ i đang sống trong một môi trường thông tin tràn ngập mà chúng ta chưa từng có. Nếu không tìm thấy điều mong đợi trong trường ĐH thì họ sẽ tìm kiếm nó ở bên ngoài hoặc sẽ lạc lối.

Phạm Thị Ly

Ngôi đền danh nhân: tôn thờ và tiếp tục suy tưởng


Như chủ tịch Nguyễn Thị Bình đã tuyên bố trong lời khai mạc, bắt đầu từ năm nay quỹ văn hóa của chúng ta có thêm một hoạt động thường niên quan trọng: tôn vinh những danh nhân văn hóa việt nam thời hiện đại...
LTS. Nhân kỷ niệm 89 năm ngày mất của nhà văn hóa, nhà yêu nước Phan Châu Trinh, ngày 24.3 tại TP.HCM Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức lễ trao giải thưởng lần thứ 9, 2015. Ngoài những giải truyền thống, năm nay Quỹ có thêm một hoạt động thường niên quan trọng: tôn vinh danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại. Để hiểu thêm vì sao ba vị Trương Vĩnh Ký, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh được Quỹ rước vào “ngôi đền tinh hoa văn hóa Việt Nam thời hiện đại”, Người Đô Thị xin giới thiệu phần cuối diễn từ bế mạc giải Văn hóa Phan Châu Trinh lần 9 do nhà văn Nguyên Ngọc - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Hội đồng Giải thưởng của Quỹ - chấp bút.
Năm nay, để mở đầu, chúng tôi đề nghị rước vào ngôi đền Panthéon của chúng ta ba vị Trương Vĩnh Ký, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.
Tượng Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898) trong Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM
Xin nói đôi lời về Trương Vĩnh Ký. Ông sinh năm 1837 và mất năm 1898, hai năm trước khi kết thúc thế kỷ 19. Trước hết, đấy là một nhà bác học, nhà bác học lớn đầu tiên của Việt Nam ở thời hiện đại. Jean Bouchot bấy giờ gọi ông là “nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cho đến cả Trung Hoa hiện đại nữa”. Theo Bouchot, “người dân hoàn toàn Nam Kỳ ấy sánh kịp với các nhà thông thái xứng đáng nhất của châu Âu trong đủ ngành khoa học”. Một đánh giá không hề quá. Trương Vĩnh Ký là một thiên tài về ngôn ngữ học. Một vị giáo sĩ một lần đến thăm ông thấy ông nói thành thạo và một cách sang trọng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào nha, Hy Lạp… và nhiều ngôn ngữ phương Đông: Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Mã Lai… Và buổi chiều khi từ giã ông thì lại thấy một nhà truyền giáo đến thảo luận với ông về thần học bằng tiếng La Tinh! Ông tự học ngoại ngữ ở chủng viện Pénang. Ông còn am hiểu sâu, hết sức cập nhật và với một đầu óc độc lập, cực kỳ nhạy cảm và sáng tạo những vấn đề lý thuyết ngôn ngữ học mới nhất đương thời. Ông thành thạo hàng chục ngôn ngữ và hiểu sâu sắc các nền văn hóa và văn minh đằng sau các ngôn ngữ ấy.
Năm 1886, coi là đã xong công cuộc bình định, Pháp đưa Paul Bert, một nhà bác học, viện sĩ Viện Hàn lâm sang làm toàn quyền Đông Dương. Đã biết và khâm phục Trương Vĩnh Ký từ khi gặp ông ở Pháp cùng phái đoàn Phan Thanh Giản, Paul Bert mời ông ra Huế, sung vào nội các Nam triều, với mục đích giúp người Pháp hiểu Việt Nam, và người Việt Nam hiểu Pháp, cũng là tâm nguyện của Trương Vĩnh Ký. Nhưng chỉ bảy tháng sau Paul Bert chết đột ngột vì bệnh tả. Lạc lõng giữa một đám thực dân khinh khỉnh và cao ngạo, một đám quan lại Nam triều hèn mọn, hiềm khích, Trương Vĩnh Ký bỏ về. Và từ đấy cho đến khi qua đời, ông đã cống hiến toàn bộ tài năng và công sức của mình, mà Nguyễn Văn Tố gọi là một “lao động mênh mông”, cho công cuộc văn hóa, tập trung nhiều nhất cho việc nghiên cứu, phân tích với một trình độ chuyên môn uyên bác về ngôn ngữ học và các khoa học tinh tế liên quan đến văn học và nghệ thuật, và chuyển ngữ các tác phẩm ưu tú nhất trong gia tài văn học dân tộc mà ông thiết tha yêu quý. Ông là người đầu tiên chuyển dịch Truyện Kiều ra quốc ngữ. Ông để lại hơn trăm tác phẩm, nghiên cứu và sáng tác, về văn học Việt Nam, về ngôn ngữ học, về lịch sử, về sư phạm…, cả những tác phẩm mô tả sinh động hiện thực xã hội Việt Nam đương thời, một gia tài mênh mông mà chắc chắn chúng ta có nhiệm vụ phải tận khai, cho cả hôm nay.
Trương Vĩnh Ký đã sống trong một thời kỳ xáo động và đã trải một cuộc đời đẹp đẽ mà cũng lại có nét éo le, bi tráng. Ngay khi phải sống và làm việc cho Pháp, ông vẫn nhắc câu châm ngôn ”Sic vos non vobis” - Ở với họ mà không theo họ. Sưu tầm, chú thích bản Gia Định thất thủ vịnh, ông gọi rõ ràng Tây là “giặc”. Ông phản đối quyết liệt chủ trương có màu sắc đồng hóa của chính quyền thực dân muốn đưa tất cả những người Việt là thuộc dân (sujet français - tức dân thuộc địa Nam Kỳ và ba thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng) vào quốc tịch Pháp, tự mình suốt đời nhất quyết chỉ giữ quốc tịch Việt Nam. Học giả Vương Hồng Sển viết: Trương Vĩnh Ký ở “gần bùn mà chẳng nhuốm mùi bùn, không ham “đục nước béo cò” như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hán, thác không tiếng nhơ…”.
Nhà bác học Trương Vĩnh Ký xứng đáng là một trong những danh nhân đầu tiên làm vinh dự cho ngôi đền văn hóa của chúng ta.
Hôm nay chúng ta cũng rước vào Panthéon của chúng ta hai nhà chí sĩ yêu nước lớn nhất của Việt Nam đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Hai nhân vật chính trị và văn hóa kỳ vĩ, và cũng thật kỳ lạ. Là đồng chí, đồng tâm, gắn bó sâu sắc, hiểu nhau đến tận cùng, thương yêu, kính trọng và bảo vệ nhau hết mực; nhưng cũng lại hết sức khác biệt, đến gay gắt, trong chủ thuyết cứu nước và cực kỳ thẳng thắn trong khác biệt đó. Một thái độ văn hóa chính trị mẫu mực, chỉ riêng điều này thôi đã đáng để chúng ta hôm nay trân trọng suy nghĩ.
Tượng Phan Bội Châu (1867 - 1940) tại Huế
 
Tượng Phan Châu Trinh (1872 - 1926) tại nhà lưu niệm Phan Châu Trinh - TP. Đà Nẵng
Phan Bội Châu, mà có thể nói mỗi từ, mỗi chữ trong những trước tác thống thiết của ông không chỉ được viết bằng nước mắt mà thật sự bằng máu, mỗi tác phẩm đều là một “huyết lệ thư”, khăng khăng chủ trương “thiết huyết”, bằng mọi cách dùng bạo lực vũ trang dành kỳ được độc lập. Tranh luận với Phan Châu Trinh về mục tiêu hàng đầu dân chủ, ông nói: “Có dân đâu mà chủ!”. Chưa độc lập, lấy đâu ra dân mà chủ.
Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 9 (2015):
Giải “Vì sự nghiệp văn hóa - giáo dục”: nhà giáo Phạm Toàn và nhóm Cánh Buồm, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo;
Giải “Dịch thuật”: dịch giả Nguyễn Nghị;
Giải “Việt Nam học”: giáo sư Keith Weller Taylor;
Giải “Nghiên cứu”: nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân.
Tôn vinh ba danh nhân văn hóa: Phan Bội Châu, Trương Vĩnh Ký, Phan Châu Trinh.
 Phan Châu Trinh coi độc lập là tất yếu cần thiết, nhưng là một đoạn, một bước, có thể trước có thể sau, của một mục tiêu cơ bản và lâu dài hơn là phát triển, cùng với thế giới, với nhân loại, bởi vì ông là người đầu tiên nhận ra thật rõ rệt, rằng thế giới đã khác, như cách nói ngày nay, thế giới đã là thế giới toàn cầu hóa - hồi bấy giờ là cuộc toàn cầu hóa lần thứ nhất. Dù bằng cách nào đó dành lại được độc lập, mà dân vẫn ngu dốt, dân tộc chưa được làm lại thành dân tộc văn minh, thì độc lập cũng vô nghĩa và không thể vững chắc. Có dân mà dân ngu dốt, tăm tối, thì dân để làm gì? Ông nói: “Dân trí đã mở, trình độ ngày một cao, tức là cái nền độc lập ngày sau đấy”. Giải pháp hàng đầu của ông do vậy tất yếu là khai dân trí. Bất bạo động mà khai dân trí. Có lẽ cách nói của Hoàng Xuân Hãn đúng và rõ hơn: Phan Châu Trinh chủ trương một cuộc cách mạng tân văn hóa...
 Lịch sử hiện thực đã đi theo con đường của Phan Bội Châu. Chiến tranh anh hùng và khốc liệt đã đem lại độc lập. Nhưng, lạ thay, mà cũng hay thay, có lẽ với thời gian, với hiện thực hậu chiến, những câu hỏi cháy bỏng mà dở dang của Phan Châu Trinh nay lại được đặt ra. Vẫn nóng bỏng như trăm năm trước.
 Như vậy ngôi đền danh nhân của chúng ta không chỉ để tôn thờ, mà còn để tiếp tục suy tưởng. Cho chính hôm nay. Như bao giờ cũng vậy, những nhà tư tưởng và văn hóa lớn, cỡ Trương Vĩnh Ký, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu… sống mãi vì tính thời sự kỳ diệu và kỳ lạ của họ, từng lúc lại thức dậy, tinh khôi và sống động trong cuộc sống phát triển.
__________________
Tựa đoạn trích của Người Đô Thị.

Nhân tài Việt Nam, anh ở đâu?

Mọi xã hội đều phát triển nhờ những cá nhân xuất chúng. Việt Nam chúng ta đã đào tạo được nhân tài theo đúng nghĩa?  Tức là tạo ra được những cá nhân có thể thúc đẩy sự thay đổi và phát triển xã hội? 
Nhân tài ơi, anh ở đâu?
Với bất kỳ một nền giáo dục nào, hai nhiệm vụ chính cần phải làm, đó là:
1. Cung cấp một nền giáo dục cơ bản cho số đông. Nâng đỡ họ hoàn thiện bản thân để sau này thành  công dân có ích, làm việc nuôi sống bản thân, gia đình.
2. Đào tạo nhân tài qua các chương trình học chuyên sâu để họ cống hiến tài năng đặc biệt của mình cho việc quản lý xã hội và phát triển quốc gia. Tạo nên tầng lớp tinh hoa tài năng để họ trở thành những người cải tạo xã hội.
Số ít được lựa chọn chính là những người thay đổi xã hội. 
Những năm qua nền giáo dục của ta đã quên mất nhiệm vụ số 1 mà tôi nêu trên. Còn nhiệm vụ số 2 thì nền giáo dục của ta làm rất tập trung và nỗ lực thực hiện để lấy đó làm thành tích khoe ra ngoài.
Ở Việt Nam hệ thống đào tạo nhân tài được thông qua 2 kênh chính sau: 
1. Hệ thống trường chuyên lớp chọn.
2. Hệ thống đại học chuyên ngành và đặc biệt là hệ đào tạo cử nhân tài năng.
giáo dục, nhân tài, Việt Nam, trường chuyên, trường Ams
Giải thưởng Nhân tài Đất Việt được trao hàng năm. Ảnh: VTC
Như chúng ta đã biết hệ thống đào tạo cử nhân tài năng của chúng ta là thứ sớm nở tối tàn. Nó không sai về mục tiêu nhưng đã sai về phương pháp luận và cách thức thực hiện. Với hệ thống trường chuyên việc tuyển chọn và đào tạo nhân tài đã được thực hiện và diễn ra một cách không hiệu quả? Lý do là ở đâu? Tôi xin được đưa ra các kiến giải của riêng cá nhân tôi trong các phân tích về thực trạng dưới đây:
Việc tuyển chọn:
Chúng ta có một cách duy nhất là thông qua bài thi tính theo điểm số. Tuy nhiên, đây là cách làm không chính xác. Thực tế chứng minh các cá nhân có tài năng đặc biệt lại thường không xuất sắc trong giai đoạn học tập ở phổ thông và không phải ai cũng giỏi trong các kỹ thuật của thi cử. Nhất là kết quả thi cử của ta được quyết định bởi một quá trình luyện thi lâu dài với công nghệ làm bài tới mức thành thợ giải bài như hiện nay. 
Bằng chứng thuyết phục hơn cho việc này là sau khi học chuyên trong thời gian ở phổ thông thì rất ít các em tiếp tục theo đuổi các môn chuyên của mình ở bậc đại học. Các em có khá về môn đó và giỏi về giải bài của môn đó nhưng dứt khoát các em không phải là tài năng.
Công tác đào tạo: 
Rất nhiều em là tài năng đã không qua được các kì thi mà kết quả chỉ dựa vào điểm số như hiện nay. Tài năng là một thứ đặc biệt và nó có thuộc tính riêng. Một trong các thuộc tính của nó là với mỗi con người, tài năng được phát lộ vào các giai đoạn khác nhau và tỏa sáng vào các thời điểm khác nhau. 
Với một chương trình học nặng về lý thuyết khoa cử và điểm số tài năng của các em chỉ dừng ở mức giải bài chứ không đạt tới việc đạt được chiều sâu của kiến thức thông qua việc nghiên cứu và thực hành như một nhà khoa học trẻ. Ở các môn khoa học thực hành như Vật Lý, Hóa Học và Sinh Học, các em không hề biết tới khái niệm thực hành, làm thí nghiệm, trao đổi  nghiên cứu và tranh luận phản biện khoa học, viết báo cáo... Những công việc và kĩ năng giúp các em trở thành nhân tài thông qua quá trình lao động mang tính nghiên cứu.
Sự kết nối: 
Chúng ta phải ghi nhớ một điều: tài năng ở bậc học phổ thông (gifted) sẽ không bao giờ trở thành một nhân tài (talented) nếu như quá trình học tập ở phổ thông của các em không được kết nối chặt chẽ và liên tục với việc học ở bậc cao (đại học và sau đại học...) 
Các em học sinh giỏi của chúng ta học trong các trường chuyên chỉ coi đây là môi trường học chuyển tiếp thuận lợi cho các em vào đại học hoặc đi du học. Sứ mạng của trường chuyên là đào tạo nhân tài không được các em ý thức và mang trên vai để đi và theo đuổi đến cùng.hư một đam mê, một sự dấn thân hay một trách nhiệm và sứ mạng. Nhiều em vào đại học không phải là ngành mà các em học môn chuyên ở phổ thông, và càng không phải thế với những em đi du học.
Ví dụ như Hà Nội - Amsterdam là trường chuyên của thủ đô 9 triệu người này. Ams có phải là nơi đào tạo ra nhân tài hay không khi các em vào đây với mục đích là để đi du học? 
Hoàn toàn không!
Có sự bất công lớn ở đây khi các em học sinh Ams được tận hưởng nhiều lợi thế từ sự đầu tư lớn và tập trung của xã hội. Để cuối cùng các em không phải theo đuổi môn chuyên của mình ở bậc đại học mà theo đuổi việc tìm học bổng du học. Nếu mà chỉ như vậy thôi thì đã đến lúc trường Ams và các em học sinh Ams nên thôi tự hào về việc mình là các học sinh ưu tú của thủ đô được rồi. Và cũng cần chấm dứt nhận được sự đầu tư toàn diện như hiện nay .
Dựa trên thực tế đào tạo của các nước tiên tiến, tôi xin đưa ra một số hướng cải tiến và khắc phục:   
1.    Xây dựng cách thức và biện pháp hướng tới nguyên tắc: KHÔNG tài năng nào bị bỏ sót.
-  Xây dựng cách thức tuyển chọn nhân tài không hoàn toàn dựa vào kết quả qua điểm số. 
-   Các cách thức tuyển chọn vào các trường chuyên phải làm sao hạn chế ít nhất việc luyện tủ để đạt mục tiêu thi đỗ. Các dạng kiểm tra về thực tế tiếp xúc, về phỏng vấn... cần được phát triển bởi các ủy ban đủ trình độ, uy tín. 
-   Cung cấp chương trình đào tạo chuyên sâu ngay cả ở các trường bình thường để phát hiện và bồi dưỡng các cá nhân phát lộ tài năng ở các giai đoạn khác nhau. 
2. Xây dựng chương trình học thực sự là đào tạo nhân tài ở bậc phổ thông. 
- Chương trình Toán chuyên phổ thông cần được viết lại.
- Các môn khoa học thực hành cần gắn với thực hành thí nghiệm và nghiên cứu chuyên sâu.
- Các CLB tài năng cần được tổ chức ở mọi cấp học. 
Môn học chuyên sâu của các em được tổ chức theo hình thức tự chọn. Ở hai năm cuối bậc THPT các em không cần học hết mà chỉ cần học 4-5 môn được chọn theo sở thích và khả năng. Các em học chuyên là học sâu theo các môn tự chọn đó. 
3. Kết nối việc học chuyên của các em HS tài năng với việc học đại học của các em theo hướng: 
Tiếp tục theo đuổi ngành học mà các em đã học chuyên ở đại học chuyên ngành. Việc xét tuyển vào các đại học chuyên ngành sẽ đi theo hướng gắn với các môn chuyên (môn tự chọn) của các em.
Đưa các em xuất sắc nhất nhất trong số các em học chuyên ra nước ngoài học tại các trường đại học hàng đầu thế giới theo đúng chuyên ngành gắn với môn chuyên của các em. Nhà nước cần phải là người chi tiền cho các em học tập chứ các em không phải tự mình lo xin học bổng và sau đó trọng dụng và thực dụng các em theo một lộ trình cụ thể và minh bạch.
Tại Singapore chính phủ áp dụng chính sách hớt váng nhân tài. Họ chọn ra các em xuất sắc nhất ở bậc học Junior College ( hay còn gọi là tiền đại học hay A Level ) để gửi các em sang học các ngành khác nhau đặc biệt là các ngành khoa học kỹ thuật tại các đại học hàng đầu thế giới tại Anh và Mỹ. Các em được chính phủ đầu tư và xác định đây là các cá nhân số ít sẽ nắm  giữ vai trò lãnh đạo và dẫn dắt đất nước sau này. 
Đó không chỉ là họ đào tạo nhân tài mà còn có cả một chiến lược sử dụng nhân lực mà chúng ta nên học hỏi.

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2015

Hình tượng Lý Quang Diệu qua bài điếu văn cảm động

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long chiều 29/3 đã có một bài điếu văn đầy xúc động về cha mình, cố Thủ tướng Lý Quang Diệu.
Mở đầu bài điếu văn về cha mình, Thủ tướng Lý Hiển Long nói: “Đây là một tuần u ám đối với Singapore. Ánh sáng soi đường cho chúng ta những năm qua đã tắt. Chúng ta đã mất đi người cha lập quốc, ông Lý Quang Diệu, người đã sống và thở cho Singapore suốt cả đời mình”.
Lý Quang Diệu, hình tượng, điếu văn, Lý Hiển Long, lễ tang, cảm động
Ông Lý Hiển Long cúi đầu trước di ảnh cha. (Ảnh: Straits Times)
Về những thành tựu đầu tiên của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu, ông Lý Hiển Long nói:
“Ông Lý Quang Diệu đã đấu tranh giành độc lập cho Singapore thông qua sáp nhập với Malaysia, để tạo thành một Liên bang Malaysia mới. Nhưng không may, việc sáp nhập không thành và chúng ta đã bị trục xuất khỏi Malaysia. Đó là thời khắc đau đớn nhất, nhưng nó cũng chính là bước ngoặt trong vận mệnh của người dân Singapore. Từ đống tro tàn, ông Lý Quang Diệu đã xây dựng nên một quốc gia”.
“Chỉ vài tuần sau khi sáp nhập không thành, ông Lý Quang Diệu mạnh dạn tuyên bố rằng ‘Mười năm kể từ bây giờ, nơi đây sẽ là một đô thị lớn. Đừng bao giờ sợ hãi!’. Và quả thật, ông đã thực hiện được điều đó”.
“Ông thấm nhuần kỷ luật và trật tự - đảm bảo rằng ở Singapore, mỗi vấn đề đều được giải quyết . Ông giáo dục thế hệ trẻ của chúng ta. Ông đã biến quan hệ lao động từ đình công và đối đầu trở thành nguyên tắc ba bên và hợp tác. Ông đã vận động để nâng cao kỹ năng và năng suất, gọi đó là một cuộc chạy đua không đích”.
Theo ông Lý Hiển Long, cố Thủ tướng Lý Quang Diệu hiểu rõ “sự phát triển của nền kinh tế là rất quan trọng, quan trọng không kém là sự phát triển trong bản chất của xã hội chúng ta. Vì vậy, ông đã xây dựng một xã hội toàn diện, nơi tất cả mọi người được hưởng những thành quả của sự tiến bộ. Giáo dục đã trở thành nền tảng cho công việc tốt và cuộc sống tốt đẹp hơn”.
“Trong những năm tháng sau này, ông Lý Quang Diệu đã xây dựng một Singapore trong sạch và không tham nhũng.”, Thủ tướng Lý Hiển Lonng nói.
Về thành tựu của ông Lý Quang Diệu trong vai trò một chính khách, ông Lý Hiển Long nói: “Ông đã gia tăng vị thế của Singapore trên trường quốc tế. Ông đã tạo nên mạng lưới rộng lớn những người bạn, trong và ngoài quyền lực. Ông biết mỗi nhà lãnh đạo Trung Quốc từ Mao Trạch Đông và mỗi Tổng thống Mỹ từ Lyndon Johnson”.
“Ông thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với Tổng thống Suharto của Indonesia, một trong những mối quan hệ quan trọng nhất đối với đất nước chúng ta. Những nhân vật khác như ông Đặng Tiểu Bình, bà Margaret Thatcher, ông Helmut Schmidt, ông George Shultz, cũng như Tổng thống Bill Clinton và ông Henry Kissinger, những người đang có mặt ở đây chiều nay”.
Lý Quang Diệu, hình tượng, điếu văn, Lý Hiển Long, lễ tang, cảm động
Ông Lý Hiển Long đọc bài điếu văn trong tang lễ. (Ảnh: Straits Times)
Về lối sống của cha mình, Thủ tướng Singapore nói: “Thói quen của ông là tiết kiệm. Ông mặc một chiếc áo khoác suốt nhiều năm, và vá lại những vết sờn rách thay vì mua áo mới”.  Thủ tướng Singapore cũng tiết lộ, cuộc hẹn cuối cùng trước khi bị ốm của ông Lý Quang Diệu là lớp học tiếng Quan Thoại với gia sư người Hoa của mình.
Ông luôn suy nghĩ và lo lắng về vận mệnh Singapore: “Ngay cả khi hấp hối trên giường bệnh, khi các bạn chuẩn bị hạ huyệt, nếu tôi thấy có điều gì đó sai, tôi sẽ đứng dậy”.
Ông Lý Hiển Long không kìm nén được sự xúc động khi nhắc đến tình yêu thương của cha mẹ dành cho nhau: “Mẹ tôi là một phần quan trọng trong cuộc sống của ông. Họ là một cặp vợ chồng yêu thương nhau rất mực. Mẹ tôi vừa là một người vợ trung thành, vừa là người bạn tâm giao của cha. Hai người là một cặp đôi hoàn hảo, và là người cha, người mẹ tuyệt vời”.
“Tôi nhớ cha từng nói với tôi khi cả nhà đang chơi gôn tại Istana rằng, nếu có bất cứ điều gì xảy ra với cha, ông muốn tôi sẽ chăm sóc mẹ, các em trai và em gái”, Thủ tướng Singapore nghẹn ngào.
“Năm nay là dịp kỷ niệm 50 năm ngày độc lập của Singapore. Chúng ta đều hy vọng rằng, ông sẽ có mặt với chúng ta vào ngày 9/8 để kỷ niệm cột mốc quan trọng này. Đáng buồn là điều đó đã không thể thực hiện được”.
“Ông đã xây dựng Singapore, và được chôn cất trong thánh đường, thành tựu của cuộc đời ông. Nếu có ai đó tìm kiếm đài tưởng niệm Lý Quang Diệu, người dân Singapore có thể tự hào mà trả lời rằng, ‘hãy nhìn xung quanh bạn’”.
“Ánh sáng soi đường cho chúng ta trong suốt những năm qua đã tắt. Nhưng không hẳn là vậy. Những lý tưởng và nguyên tắc của ông sẽ tiếp tục dõi theo chính phủ ta và dẫn lối cho nhân dân ta. Cuộc đời ông sẽ truyền cảm hứng cho người dân Singapore, cho nhân dân trên thế giới và cho những thế hệ mai sau”.
Kết thúc bài phát biểu, Thủ tướng Lý Hiển Long thay mặt người dân cả nước nói lời tiễn biệt vị cha đáng kính của dân tộc: “Cùng nhau, chúng ta không chỉ khóc than. Cùng nhau, chúng ta kỷ niệm cuộc sống lâu dài và trọn vẹn của ông Lý Quang Diệu, và những gì ông đã đạt được cùng chúng ta, những người dân của ông”.
“Cùng với nhau, chúng ta đau buồn như một dân tộc, một quốc gia. Chúng ta đều đã mất đi một người cha. Tất cả chúng ta đều đau buồn. Nhưng trong nỗi đau, chúng ta đã cùng nhau cho thấy những mặt tốt nhất của nhân dân Singapore. Cảm ơn ông Lý Quang Diệu, mong người an nghỉ”.
Lan Phương