Menu ngang

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Minh quân của thời đại mới

Đất nước Singapore u buồn để tang 7 ngày người cha già dân tộc Lý Quang Diệu, một vị minh quân của thời đại mới đã đưa Singapore từ một thành phố cảng bé nhỏ không tài nguyên thiên nhiên, một nơi tăm tối, đói nghèo, không hy vọng tồn tại khi vừa thoát khỏi vòng thuộc địa hơn 50 năm trước, trở thành một nước phồn thịnh, hiện đại, đầy tự tin.
Đối với người Việt thì Singapore là một trong những điểm đến quen thuộc đầu tiên khi đất nước chúng ta bước vào thời kỳ đổi mới để vươn ra năm châu và hiện nay đây cũng là nơi cư ngụ của một cộng đồng người Việt, nhất là du học sinh và sinh viên Việt Nam, ngày càng đông đảo. Là một ngân hàng gia quốc tế, tôi được chuyển đến làm việc tại Singapore vào năm 1981 rồi thì “đất lành chim đậu” nên đã lưu lại sống ở đất nước này suốt 30 năm. Biết rằng sẽ có ngày ông Lý ra đi nhưng khi được tin thì lòng cũng không khỏi bùi ngùi thương tiếc như vừa mất đi một người thân.
Tài liệu sách vở viết về ông Lý thì quả là rất nhiều và chính ông Lý cũng đã viết vài pho hồi ký kể lại cuộc đời mình. Không ai có thể phủ nhận được những thành quả mà Singapore đã đạt được khi ông Lý đã thành công trong việc biến Singapore thành một mô hình kỳ diệu pha trộn giữa chủ nghĩa tư bản nhà nước và kinh tế tư nhân. Những người phê phán ông Lý cũng không thiếu và đã chỉ trích ông Lý về nhiều mặt, nhất là về chính sách lãnh đạo Singapore với bàn tay thép, bóp chặt tự do ngôn luận, trấn áp đối lập và “gia đình trị” tạo điều kiện cho người con trai là Lý Hiển Long trở thành thủ tướng hiện tại… Tuy nhiên có phê phán gì trong lúc này cũng sẽ không công bằng cho lắm. Điều mà tôi muốn nêu lên là cái hình ảnh “con người" của ông Lý đã hình thành một khuôn mẫu đặc biệt của “người Sing”, và đã góp phần đưa đất nước này đến chỗ cường thịnh ngày nay.
Chiến thuật phát triển Singapore của ông Lý có thể được tóm tắt vào hai chữ “con người” mà nếu nhìn vào chính con người của ông Lý thì chúng ta sẽ thấy mô hình và con người Singapore ra sao. Là con trong một gia đình thuộc thế hệ thứ ba những người gốc Hoa nhập cư, ông Lý lớn lên trong một khuôn mẫu giáo dục cổ truyền nhưng đã sớm nếm chút văn hóa phương Tây khi ông theo học trung học tại một trường Anh ở Singapore. Thời gian du học ở Anh về kinh tế và luật sau đó đã giúp ông Lý có một tầm nhìn xa rộng để chuẩn bị cho ngày trở về nước làm việc là một luật sư theo đuổi đường lối xã hội, trước khi bước vào chính trường. Ông Lý thường được mô tả là một con người cứng rắn lạnh lùng, nhưng ít người thấy ông như là một con người với một trái tim quảng đại của một người cha già biết nhìn xa thấy rộng, hết lòng bảo vệ gia đình mình, áp dụng phương cách răn đe thưởng phạt con cái rất công minh theo lối giáo dục cổ xưa để lèo lái đất nước mình.
Để đưa đất nước đến chỗ thịnh vượng phú cường ngày nay, điểm quan trọng nhất là ông Lý đã biết khéo léo chiêu mộ và đãi ngộ người tài dưới trướng của ông. Không sống ở Singapore thì ít ai biết được tên tuổi của những “danh tướng” trong bộ máy nhà nước đã đóng góp trực tiếp xây dựng đất nước về mọi lĩnh vực từ quốc phòng, giáo dục, kinh tế, văn hóa, xã hội, phát triển đô thị… Loại trừ tệ nạn tham nhũng là một mục tiêu hàng đầu và các nhân viên nhà nước được trả lương rất cao đồng thời những người vi phạm đều bị xử phạt nặng nề.
Các thành viên của đảng Nhân Dân Hành Động mà ông là sáng lập viên năm 1954, mặc đồng phục áo sơ mi ngắn tay biểu dương những con người hành động, với màu trắng để thể hiện tính thanh liêm, minh bạch, một lòng phục vụ đất nước. Cái “phong cách Lý Quang Diệu” ấy đã được truyền từ trên xuống dưới, từ các cấp nhân viên trong guồng máy nhà nước ra giới doanh nhân và mọi tầng lớp quần chúng để trở thành một sắc thái riêng biệt của “người Sing”. Người dân Singapore, nhất là lớp trẻ rất hãnh diện mình là “người Sing” và cảm thấy bực mình khi bị gọi nhầm là “người Hoa”.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc giáo dục con người, ông Lý đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo một thế hệ trẻ là nền tảng tương lai quốc gia, với một ý thức hệ vững chắc. Tiêu chuẩn giáo dục được cải tổ và nâng cao, sinh viên ưu tú được khuyến khích đi du học, các vị giáo sư và trường đại học lớn trên thế giới được mời đến Singapore, nhân tài các nước được chiêu mộ…
Là một luật gia, ông chủ trương biến Singapore thành một đất nước mà người dân sống trong vòng tôn ti trật tự và biết tôn trọng luật pháp. Người ta thường nhắc đến Singapore về những luật lệ như cấm xả rác, cấm ăn kẹo cao su cùng bao nhiêu luật cấm “lẩm cẩm” khác nhưng ngay cả người Sing cũng ít ai biết được là đất nước này có đến hơn bốn mươi nghìn điều luật mà người vi phạm có thể bị phạt! Vâng hơn bốn mươi nghìn!
Singapore ngày nay là một quốc gia vững mạnh và là một xã hội được điều tiết và quản lý chặt chẽ. Với sự trưởng thành của dân trí và với những biến chuyển thế giới, Singapore cũng đang chuyển mình và tương lai của đất nước này rồi sẽ ra sao khi không còn hình bóng của ông Lý? Thời gian rồi sẽ trả lời nhưng tôi nghĩ ông có thể an tâm ra đi như là một trong những vĩ nhân của thời đại mới. Xin vĩnh biệt ông Lý Quang Diệu và cám ơn ông về những đóng góp cho đời và cho nhân loại.
Võ Tá Hân
Theo : VnExpress
              Thiếu tướng Lê Tiến Phục -
               một cán bộ thanh liêm, nhân hậu

        Thiếu tướng Lê Tiến Phục, sinh năm 1922, tại xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông là Cục trưởng đầu tiên của Cục Chính sách Tổng cục Chính trị. Lần đầu tiên tôi gặp ông vào một ngày đầu Hè năm 1972. Hồi đó, trên cương vị Cục trưởng, ông có chủ trương chọn lựa về Cục những cán bộ trẻ, là thương binh, đã trải qua chiến đấu ở chiến trường, có nhiều thực tiễn phù hợp với yêu cầu công tác chính sách. Và tôi đã lọt vào “ tầm ngắm ” của mấy anh cán bộ Cục khi xuống chọn người ở Đoàn an dưỡng thương binh 251 Quân khu Tả ngạn.
Chúng tôi vừa về Cục, việc đầu tiên là dự lớp tập huấn bồi dưỡng về nội dung và phương thức tiến hành công tác chính sách, được tổ chức ở nơi sơ tán là Đình làng Cống Xuyên, huyện Thường Tín ( Hà Tây cũ). Ông Lê Tiến Phục đến khai mạc và trực tiếp giảng bài “ Đạo đức người cán bộ chính sách”. Chúng tôi chăm chú lắng nghe lời giảng chân tình sâu sắc của ông. Ông nói đại ý là : Chính sách là thể hiện quan điểm, thái độ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người, những gia đình có công trong chiến tranh cách mạng. Là cầu nối liền giữa tổ chức với đối tượng có công, đòi hỏi cán bộ chính sách phải tận tụy, chí tình, chu đáo với gia đình quân nhân, gia đình liệt sĩ, thương binh; phải khiêm tốn, trung thực, thanh liêm, kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện tư lợi, cửa quyền… Bài giảng của ông vừa có tính lý luận vừa liên hệ thực tiễn một cách phong phú, sinh động. Ngày đó ông chừng 50 tuổi, dáng cao gầy, vai rộng, tóc húi cua, bước đi nhanh. Khi tiếp xúc với mọi người, ông đều gần gũi, chăm chú lắng nghe. Lúc giảng bài, thì mọi cử chỉ của ông từ khóe miệng, giọng nói đến ánh mắt nụ cười đều toát lên sự truyền cảm thân thiện ấm áp. Cảm nhận đó in đậm nguyên vẹn trong lòng tôi suốt nhiều năm được công tác dưới quyền ông. Thời gian tập huấn không dài, nhưng để lại cho chúng tôi những ấn tượng sâu sắc. Những điều thu hoạch được đối với tôi là rất bổ ích. Đó là khối kiến thức hành trang ban đầu, là cẩm nang cho tôi trong suốt chiều dài thời gian công tác sau này.
Ông Lê Tiến Phục là cán bộ lão thành cách mạng, hoạt động trong phong trào công nhân Hà Nội từ những năm 1938- 1939, được kết nạp vào Đảng năm 1940, từng là Tỉnh ủy viên Nam Định, Chủ tịch Việt Minh, Bí thư huyện ủy huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định những năm sau Cách mạng Tháng 8/1945. Tiếp đó, năm 1950, ông được tổ chức điều động vào quân đội giữ chức Chính trị viên Tiểu đoàn rồi Chính trị viên Ban Cung cấp Trung đoàn 64 Đại đoàn 320 hoạt động ở Đồng bằng Bắc Bộ. Năm 1954, ông tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ với cương vị Trung đoàn bậc phó, cán bộ Phòng Cán bộ, Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị. Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được giao nhiệm vụ là Chủ nhiệm Chính trị Đoàn cố vấn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào - Nghe nói, biên chế cán bộ toàn Đoàn lúc đó là 100 người nên Bộ Quốc phòng lấy phiên hiệu là Đoàn 100, do ông Chu Huy Mân làm Đoàn trưởng. Từ năm 1956 đến tháng 6/1963, ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị : Chính ủy Đoàn 40, Chính ủy Lữ đoàn Pháo binh 374, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Pháo binh 469, Đảng ủy viên Đoàn 959. Tháng 7/1963, ông được bổ nhiệm giữ chức Cục phó Cục Tổ chúc Tổng cục Chính trị.
 Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào thời kỳ quyết liệt, công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội đặt ra với một khối lượng rất lớn, tính chất khó khăn phức tạp, cả ở tiền tuyến và hậu phương. Trước tình hình đó, ngày 21 tháng 11 năm 1967, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Cục Chính sách trực thuộc Tổng cục Chính trị. Đang là Cục phó Cục Tổ chức ông được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng  Cục Chính sách.
Suốt trong nhiều năm chiến tranh, được sự chỉ đạo của cấp trên, Cục Chính sách với sự chỉ huy của Cục trưởng Lê Tiến Phục đã tích cực triển khai đồng bộ và thu được nhiều kết quả. Đã nghiên cứu đề nghị Nhà nước ban hành các hình thức khen thưởng, kịp thời tuyên dương những người, những gia đình, những tập thể có công, góp phần cổ vũ động viên phong trào thi đua yêu nước, giết giặc lập công. Chỉ đạo giải quyết công tác thương binh - liệt sĩ trong chiến đấu ở chiến trường. Tổ chức tuyến chuyến thương đưa hàng vạn thương binh từ các chiến trường về hậu phương lớn. Thành lập hơn 20 Đoàn điều dưỡng thương binh ở miền Bắc. Kịp thời giải quyết chính sách phục viên, chuyển ngành cho hàng chục vạn thương binh đã lành vết thương, ổn định sức khỏe, nhưng không còn khả năng tiếp tục phục vụ quân đội. Chỉ đạo việc xác minh, kết luận để báo tử và giải quyết kịp thời quyền lợi gia đình liệt sĩ đối với hàng chục vạn quân nhân hy sinh trong chiến đấu ở các chiến trường. Chỉ đạo cơ quan quân sự các địa phương thực hiện chính sách quản lý và thực hiện chê độ chính sách chăm sóc đối với gia đình có quân nhân đi chiến đấu. Thời điểm đó, tổng số toàn miền Bắc có 53 vạn gia đình có người thân đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam, với 1, 6 triệu thân nhân ( bố, mẹ, vợ, con,…) hưởng trợ cấp B hàng tháng. Với phương châm chỉ đạo việc cấp phát trợ cấp B đối với gia đình quân nhân là : “đủ số, tận tay, đúng kỳ”. Qui cách điều hành việc nghiên cứu đề đạt chính sách của Cục trưởng Lê Tiến Phục là: Trên cơ sở nắm bắt chủ trương của trên, bám sát phát hiện tình hình thực tiễn ở đơn vị địa phương, từ đó bật ra ý tưởng, giao cho cơ quan nghiên cứu khảo sát, xây dụng đề án, hội thảo xin ý kiến chuyên gia và các cơ quan hữu quan, sau đó tổng hợp hoàn chỉnh thành tờ trình báo cáo lên cấp trên xem xét quyết định. Những nội dung chính sách đã ban hành thì tổ chức phổ biến, chỉ đạo hướng dẫn chung, đồng thời theo dõi một vài trọng điểm để kịp thời rút kinh nghiệm chỉ đạo. Bao giờ cũng vậy, ông coi việc kiểm tra thực hiện chính sách ở các cấp, ở các khâu là một việc làm không thể thiếu của cơ quan chiến lược. Qui cách đó, trên thực tế đã đem lại hiệu quả tốt.
Trong nhiều năm, công tác chính sách đạt được rất nhiều kết quả, có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc, góp phần cổ vũ động viên tiền tuyến, ổn định hậu phương, góp phần rất xứng đáng vào sự nghiệp chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta. Trong thành tích chung của Cục, của ngành, vai trò của Cục trưởng Lê Tiến Phục là rất to lớn - cả trong nghiên cứu đề đạt nội dung chính sách cũng như trong chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách. Ngoài quản lý điều hành công việc ở cơ quan, ông đã dành nhiều thời gian xuống các địa phương, bám cơ sở, thâm nhập sâu sát các đối tượng chính sách để nắm chắc tình hình thực tiễn. Có lần trên đường đi kiểm tra công tác chuyển thương ở tuyến lửa Khu Bốn, xe ô tô của ông  bị máy bay Mỹ ném bom rất gần. Sức ép chấn động mạnh hất ông bật khỏi xe, bị ngất. Lúc đó, anh Nguyễn Đức Lạc chiến sĩ công vụ đã cõng ông vượt qua nguy hiểm.
Với sự tín nhiệm cao, trong suốt 10 năm liền, ông được bầu làm Bí thư Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị. Vừa đảm nhiệm Cục trưởng Cục Chính sách vừa đảm nhiệm Bí thư Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị, có thể nói là một khối lượng công việc rất lớn. Bằng năng lực, phẩm chất và phong cách lãnh đạo sắc sảo, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên cả hai cương vị quan trọng. Hình ảnh kính quí của ông đọng mãi trong lòng nhiều thế hệ cán bộ ở cơ quan Tổng cục Chính trị.
         Giữa năm 1978, Cục Chính sách sáp nhập vào Cục Tổ chức TCCT. Ông được cấp trên bổ nhiệm giữ chức Phó Chính ủy Binh đoàn Quân Tình nguyện Việt Nam tại Lào ( Phiên hiệu là Binh đoàn 678). Ông Trần Văn Quang Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đảm nhiệm cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Binh đoàn.      
Trước yêu cầu của công tác chính sách, ngày 19/3/1982, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập lại Cục Chính sách trực thuộc Bộ Quốc phòng. Ông được cấp trên điều trở lại làm Cục trưởng . Đến tháng 9/1985, do sức khỏe, ông chuyển sang làm chuyên viên Cục trưởng. Từ tháng 5/1988, ông nghỉ dưỡng bệnh.
Trong lãnh đạo, chỉ huy cũng như trong đời sống sinh hoạt, ông luôn chân thành, thẳng thắn. Ông thường xuyên quan tâm đến đời sống và sự tiến bộ của cấp dưới. Trọn đời tôi không bao giờ quên hai lần ông trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi. Lần thứ nhất vào tháng 1 năm 1973, đang công tác tại Đoàn kiểm tra chính sách, tôi được điều động về cơ quan Cục. Ông đã dành thời gian giảng giải cho tôi rất cụ thể về những yêu cầu cần thực hiện khi công tác ở cơ quan. Ông phân tích rành rọt thể hiện trên ba điều : phẩm chất phải trong sáng, tận nghĩa tận tình đối với đối tượng chính sách; năng lực phải chuyên sâu, đồng thời phải có trình độ tổng hợp chung; có tác phong công tác xông xáo, sâu sát, cụ thể. Về nhiệm vụ, ông nói rằng, cháu còn trẻ, đã trải qua chiến đấu, có nhiều triển vọng, bởi thế Cục sẽ bố trí cháu lần lượt luân chuyển qua các phòng nghiệp vụ trong Cục và đi thực tế, nhằm nắm bắt được mọi mặt công tác . Sau này, nếu phát triển lên cán bộ chủ trì, thì có kiến thức toàn diện, điều hành công việc sẽ thuận lợi hơn. Ông khuyên tôi phải không ngừng học tập, phấn đấu để có bằng Đại học rồi phải đi học ở Học viện Chính trị của quân đội để nâng cao trình độ. Lần thứ hai, vào một buổi chiều giữa tháng 3 năm 1983, sau giờ làm việc, ông cho gọi tôi lên gặp. Sau khi hỏi han về sức khỏe, tình hình gia đình và công việc - lúc này tôi đang là Phó phòng Nghiên cứu Tổng hợp của Cục - ông nói với tôi: Thủ trưởng Cục giao cho đồng chí sang Campuchia làm việc trong Tổ đại diện của Cục Chính sách tại Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam ở Phnôm Pênh. Tổ Đại diện có nhiệm vụ giúp Cục Chính sách và Cơ quan Chính trị Quân Tình nguyện nghiên cứu đề đạt, theo dõi, chỉ đạo , hướng dẫn việc tổ chức thực hiện chính sách đối với Quân Tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam ở chiến trường Campuchia. Sang đó cần bám sát hoạt động chiến đấu công tác của các đơn vị, nắm chắc tình hình, thường xuyên có báo cáo về Cục. Thời gian công tác ở Campuchia ít nhất là 1 năm, sau đó Cục sẽ cử người khác sang thay. Nếu gia đình có gì khó khăn, Cục sẽ cử cán bộ kịp thời giúp đỡ… Tôi hoàn toàn nhất trí và biểu thị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Sau này, tôi được biết, việc cử tôi lên biên giới phía Bắc khi chiến tranh biên giới tháng 2/1979 mới nổ ra và tiếp theo là phân công tôi sang trực ở Campuchia là nằm trong ý định qui hoạch rèn luyện, bồi dưỡng tôi của các Thủ trưởng. Đó là một cách đào tạo cán bộ có hiệu quả.Vừa là cán bộ cấp dưới thuộc quyền, vừa đáng bậc con cháu, tôi xúc động, cảm kích về những lời căn dặn chí tình, chí nghĩa của ông qua các lần giao nhiệm vụ.
Ông Lê Tiến Phục là một người cán bộ có đạo đức trong sáng, thanh liêm, gương mẫu, mô phạm toàn diện, đúng theo nghĩa: dĩ công vi thượng. Ngoài tiền lương, ông không bao giờ tơ hào đến của công bất cứ thứ gì. Tôi được biết trong gia đình, ông dạy dỗ con cái vừa tình cảm sâu sắc vừa nghiêm khắc yêu cầu con cái trong rèn luyện, học tập. Tôi được nhiều lần tiếp xúc với bà Trần Thị Đoan vợ ông, nguyên Chủ tịch thành phố Nam Định. Theo cảm nhận của nhiều người, bà Đoan là một người phụ nữ giỏi giang, tinh tế, nhân hậu, đảm đang việc nước việc nhà.Trong cuộc sống, sự thanh liêm của ông Lê Tiến Phục có lúc có việc hơi thái quá. Trong sinh hoạt ông thích đơn giản, đạm bạc, hợp lý; không thích mọi sự phô trương xa xỉ. Được biết, ông không bao giờ nhận tiền công tác phí. Bởi ông cho rằng, chế độ tiền lương cấp phát cho cán bộ là nhằm bảo đảm phục vụ nhu cầu công tác rồi, vì vậy, nếu ngoài lương, còn hưởng tiền công tác phí là trùng hưởng trong cùng một khoảng thời gian.
Tuổi cao, bệnh trọng, Thiếu tướng Lê Tiến Phục mất ngày 16/5/1999, an táng tại Nghĩa trang Mai Địch - Hà Nội.
Tấm Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều huân chương khác là phần thưởng cao quí mà Đảng, Nhà nước trao tặng xứng đáng với công lao thành tích của ông với cả một đời phấn đấu vì sự nghiệp.
Được công tác dưới quyền và hơn thế luôn được nhận sự bảo ban giúp đỡ quí báu chân tình của Thiếu tướng Lê Tiến Phục trong suốt nhiều năm, đối với tôi là một may mắn - hơn nữa có thể nói là một ân huệ. Trong đời tôi mãi mãi coi ông là người Thủ trưởng thanh liêm, công minh, người Thầy có tấm lòng nhân hậu. Ông là một tấm gương lớn về đạo đức của người cán bộ chính sách như ông đã từng bày dạy lớp cán bộ chúng tôi từ nhiều năm trước./.
                                                                                 
                                                                                               N M Đ

Chuyện ít biết về tác giả ‘Cửa mở’
gây chấn động một thời

                                                                     DƯƠNG KỲ ANH

NVTPHCM- Tôi hỏi ông rằng, dạo đó người ta đồn thổi nhiều chuyện như ông bị cách chức, các con ông cũng bị "vạ lây"… có đúng không? Ông cười, lắc đầu "Không có chuyện đó đâu". Ông nói, tập "Cửa mở" năm đó in 5.200 bản, chỉ trong vài tuần là hết: "Anh Huy Cận bảo tôi chỉ còn vài chục cuốn người ta giữ lại thôi". Rất nhiều người khen, cũng nhiều người phê phán, có một nhà thơ là cán bộ cao cấp nói trong một cuộc họp: "Phủ Thủ tướng có một kẻ điên làm thơ"…

Hôm kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam tại Cung Văn hóa Hữu Nghị, tan buổi, tôi đứng chờ xe taxi để về nhà thì gặp nhà thơ Việt Phương. Ông bảo: "Dương Kỳ Anh ơi, lên đây cùng về với mình".

Buổi đầu, tôi cứ tưởng xe cơ quan đón ông, nhưng khi tôi lên xe ôtô mới biết đó là xe riêng của con trai ông. Thấy phong thái con trai ông lễ phép, thân tình và cởi mở, tự nhiên tôi muốn đến thăm gia đình ông, gia đình của một nhà thơ từng gây chấn động dư luận với tập thơ "Cửa mở".

Nhà thơ Việt Phương họ Trần, Trần Việt Phương, tên thực của ông là Trần Quang Huy. Năm ông 17 tuổi, tham gia hoạt động bí mật chống thực dân Pháp, bị bắt, bị giam với một người bạn tù cũng xấp xỉ tuổi ông. Hai người ở hai xà lim nhưng cũng thường trao đổi với nhau. Lúc đó ông có bí danh là Việt Phương và người bạn tù lại lấy tên ông là Trần Quang Huy làm bí danh. Sau này, người bạn tù đó trở thành Bộ trưởng Trần Quang Huy (tên thực là Vũ Đắc Huề).

Việt Phương có hai người con trai là Trần Trung Thực sinh năm 1956 và Trần Quang Huy sinh năm 1960. Là ông lấy tên khai sinh của mình đặt tên cho con. Ông kể rằng, trong hộ khẩu của ông có hai tên Trần Quang Huy nên dạo còn bao cấp, mỗi lần đi mua gạo mua dầu… người ta vặn hỏi ông, ông nói vui rằng nhà tôi có Trần Quang Huy 3 lít dầu và Trần Quang Huy 1/5 lít dầu (người lớn được mua 3 lít, trẻ con 1/5 lít).

Nhà thơ Việt Phương sinh năm 1928, đậu tú tài thời Pháp thuộc. Ông là trợ lý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm. Đã ở tuổi 87 mà trông ông như mới ngoài 70. Ông kể nhiều chuyện vui và hài hước. Những chuyện về văn chương, gia đình, những chuyện ít ai biết về số phận những tập thơ của ông.

Vợ ông, bà Trần Tú Lan năm nay 81 tuổi, từng là cô giáo với nhiều học trò nổi tiếng như Dương Trung Quốc, Chu Hảo… Bà kể chuyện con trai đầu của ông bà là Trần Trung Thực nhiều lần được ăn cơm cùng Bác Hồ: "Có lần, Bác gắp cho cháu Thực một miếng táo, nó cứ nhìn miếng táo để trong bát…

Chắc thấy lạ vì Bác Hồ thường ăn táo sau khi đã hấp chín… Bác cũng hay cho cháu Thực sách để đọc. Một lần cháu Thực cầm cuốn sách lên thưa với Bác là cuốn này cháu đã đọc rồi ạ. Bác bảo: Cháu thật thà thế là tốt. Rồi Bác đi tìm cuốn sách khác đưa cho Thực...". Về sau Thực học chuyên toán, được giải nhì kỳ thi học sinh giỏi thành phố Hà Nội. Bây giờ Trần Trung Thực là Vụ trưởng, làm việc ở Bộ Công Thương sau nhiều năm làm tham tán công sứ ở Cộng đồng châu Âu (tại Bỉ).

Nhà thơ Việt Phương đã có ba cháu nội, cháu đích tôn của ông mang tên ông là Trần Việt Phương, năm nay 31 tuổi, tốt nghiệp thạc sỹ tại Anh quốc.

"Mở đài địch như mở toang cánh cửa", "Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào/ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/ Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao", "Ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao/ Những vệt bùn trên tận đỉnh chín tầng cao"…

Những câu thơ từng gây chấn động dư luận một thời mà bây giờ tôi mới biết nó được trích từ bài thơ "Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi", một trong những bài trong tập thơ "Cửa mở" của nhà thơ Việt Phương do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1970. Vào những năm 70 mà viết những câu thơ như thế, tôi khâm phục ông vô cùng.

Thời đó tôi còn là sinh viên khoa văn của Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi chỉ đọc thầm cho nhau nghe, người này truyền qua người khác chứ thực tình tôi chưa nhìn thấy tập thơ "Cửa mở" bao giờ.

Tôi hỏi ông rằng, dạo đó người ta đồn thổi nhiều chuyện như ông bị cách chức, các con ông cũng bị "vạ lây"… có đúng không? Ông cười, lắc đầu "Không có chuyện đó đâu". Ông nói, tập "Cửa mở" năm đó in 5.200 bản, chỉ trong vài tuần là hết: "Anh Huy Cận bảo tôi chỉ còn vài chục cuốn người ta giữ lại thôi". Rất nhiều người khen, cũng nhiều người phê phán, có một nhà thơ là cán bộ cao cấp nói trong một cuộc họp: "Phủ Thủ tướng có một kẻ điên làm thơ".

Vợ ông, bà Trần tú Lan khẳng định "Các con chúng tôi không làm sao cả". Rồi bà kể: "Tôi có đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Thủ tướng tưởng tôi đến có chuyện gì đó liên quan tới các con vì ông biết tôi rất chăm con. Tôi nói: Thưa chú, cháu đến vì tập thơ "Cửa mở". Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: "Phương có đem cho mình xem đâu". Tôi bảo: Tập thơ "Cửa mở" hay đấy chứ ạ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bảo tôi: "Thơ Phương thì Tú Lan khen hay là phải rồi". 

Nhà thơ Việt Phương đưa cho tôi bản thảo một bài thơ của ông, có chữ viết tay của nhà thơ Tố Hữu chữa hai câu thơ của ông: "Nhưng tôi không chịu" - Ông nói. Nhiều lần, ông đưa một số bài thơ mới làm cho các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu đọc. "Các anh ấy góp ý rất chân tình. Có lần Bác Hồ còn sửa thơ cho tôi" - Ông kể .

Trong lúc vợ ông đang lục tìm những tấm ảnh của các con lúc còn bé, nhà thơ Việt Phương đến giá sách lấy 3 tập thơ tặng tôi, trong đó có tập "Cửa mở" cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Tập thơ "Cửa mở" tái bản y nguyên bản in đầu tiên, nhà thơ Việt Phương cho biết.

Hai tập thơ còn lại đều là những bài thơ mà nhà thơ Việt Phương sáng tác trong nhiều năm gần đây. Tập thơ "Nắng" và tập "Lan" (Lấy tên vợ ông làm tên tập thơ) đều in năm 2013, một sức làm việc đáng kính nể.

"Đời đang đón đợi để đong đầy", tôi đang đọc câu thơ của ông in ngoài bìa tập thơ "Nắng" thì có tiếng chuông điện thoại. Cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy hiện đang là Phó Tổng giám đốc Ngân hàng (MHB), người đã lái xe đón ông hôm tôi đi nhờ, gọi điện về nói sẽ đưa xe ôtô đến đón bố mẹ đi viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phòng khách ở tầng một căn biệt thự bốn tầng trên đường Trần Quang Diệu bày nhiều thứ có vẻ như là đồ cổ mà theo nhà thơ Việt Phương là do cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy mang về. Ông không dùng điện thoại di động, nên vừa tiếp khách, ông vừa xin lỗi để đi nghe điện thoại, chiếc điện thoại cố định đặt ở góc phòng.

Vợ ông, bà Trần Tú Lan kể rằng, chính bà đã bắt thăm và thật may mắn chọn được mảnh đất để xây nhà ở vị trí này, một vị trí có thể nói là đắc địa vì có hai mặt đường lớn: "Hôm ấy, cơ quan tổ chức bắt thăm, có mấy chục người, mấy chục mẩu giấy gấp làm tư, tôi nhìn thấy một mẩu giấy như đang vẫy vẫy tôi, có lẽ do luồng gió từ quạt trần làm mẩu giấy lất phất như vậy. Tôi thấy lạ và hay hay nên nhặt lên, ai ngờ lại chọn được vị trí đẹp nhất". Nhà thơ Việt Phương gật đầu xác nhận: "Đúng thế đấy… xây ngôi nhà này do một tay nhà tôi lo liệu".

Ông cầm một tệp đĩa nhạc đưa cho tôi và nói: Lúc cháu Thực chưa đầy năm, ông thường để cháu nằm trên giường, bên cạnh là chiếc máy hát (máy quay đĩa) do Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng. Ông bật máy quay, cho con nằm nghe nhạc. Những bản nhạc du dương, êm dịu của Beethoven. Ông nói, ông rất thích nhạc sĩ thiên tài này. "Mỗi lần tôi bật máy nghe nhạc là cháu Thực và sau này là cháu Huy nằm yên trên giường nghe rất chăm chú. Có lẽ vì thế mà sau này, khi các con tôi trưởng thành, chúng cũng yêu thích âm nhạc như tôi. Tôi nghĩ, nghệ thuật giúp cho con người sống nhân văn hơn" - Ông bảo vậy.

Trò chuyện với ông, tôi không những biết nhiều cái lạ trong thơ mà còn thấy ông có nhiều cái lạ trong cuộc sống hằng ngày. Ông kể, lúc con ông bắt đầu tập nói, những buổi chiều tối, ông để con ngồi trên chiếc ghế mây buộc sau xe, lọc cọc đạp xe lên bờ đê sông Hồng. Để xe xuống vệ cỏ bờ đê, ông bế con trên tay nhìn sông Hồng cuộn chảy rồi bắt đầu dạy con tập nói. Ông chỉ đám mây bay là là trên mặt sông và nói "mây", con ông cũng bập bẹ "mây". Ông chỉ tay xuống mặt nước sông Hồng nói "nước", thằng bé cũng bập bẹ "nước".

Cứ như vậy, ông chỉ lên bầu trời, chỉ dãy núi phía xa xa, chỉ đàn chim đang bay, chỉ con sóng đang lượn, bông hoa đang nở, cây lúa đang ngậm đòng… "Vợ chồng tôi muốn các con sau này lớn lên hiểu được mọi thứ trên đời cụ thể nhất, chân thật nhất" - Ông nói.

Làm trợ lý cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm, nhà thơ Việt Phương đã đi nhiều nơi trên thế giới. Ấy vậy mà vợ ông bà Trần Tú Lan lại chưa bao giờ đi nước ngoài.

Tôi ngạc nhiên thực sự, mới hỏi bà vì sao? Có phải vì bà sợ đi máy bay? Hay có lý do nào khác? Bà nói đã từng được cử đi học ở Nga, bà cũng rất thích đi nhưng lúc đó các con bà còn nhỏ, nên bà đã nhường suất đi học nước ngoài cho người khác.

Ở đời, được cái này phải biết hy sinh cái khác… Ngay cả sau này, khi cháu Thực làm tham tán công sứ ở nhiều nước châu Âu, cháu cũng rất muốn mẹ đi một vài chuyến du lịch nước ngoài… Mình nuôi con, rồi nuôi cháu, phải hiểu được quy luật bù trừ. Nếu mình cái gì cũng được hưởng thì sau này phần đâu cho con cháu?! Bây giờ, các con tôi, rồi các cháu được đi học nước ngoài, công tác ở nhiều nước, được đi đây đi đó là tôi mãn nguyện, là như tôi đã được đi nước ngoài rồi". Tôi thấy bà rất vui khi nói điều này.

Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của nhà thơ Việt Phương mà tôi vừa đọc trong tập "Lan": "Một thời cửa mở cho tất cả; Từ trong đại họa hóa bình yên". Thế đấy!

VNCA


Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

Lý Quang Diệu và Chính phủ mạnh, sạch, có tầm nhìn

Chỉ sau vài thập kỷ dựng nước, dưới bàn tay trị quốc của ông Lý Quang Diệu, Singapore đã đạt được thương hiệu quốc gia Xanh, Chính phủ mạnh, sạch và có tầm nhìn.
Dù nhà bạn ở bất cứ nơi đâu trên đảo quốc Singapore bạn có thể dễ dàng thấy ngay gần đó là một thảm cỏ xanh, một cái vườn hay những hàng cây, thậm chí có cả cây cổ thụ cao hơn cả tầng 10 của một tòa nhà và tán của nó có thể che được cả một góc sân vận động.
Có lẽ không đâu trên trái đất này mà ở giữa trung tâm của một thành phố hiện đại, sáng sớm thức dậy bạn có thể nghe được tiếng chim chào mào, chim chích chòe hót véo von cộng với tiếng chim tu hú rộn rã.
Ra khỏi trung tâm mua sắm sầm uất trên đường Orchard chỉ mấy con phố là có thể thấy một cánh rừng nho nhỏ; gọi là rừng vì nó có đủ ba tầng cây đặc kín khiến người ta không thể len vào trong đó được. Tầng dưới cùng phủ kín bới các loại dương xỉ khiến người ta nghĩ tới rừng nguyên sinh.
Lý Quang Diệu, Cây xanh, quốc gia, thiên nhiên, Châu Sa
Thảm xanh ở Singapore được tạo nên nhờ tình yêu cây xanh của cả cộng đồng, đứng đầu là người cha già của đất nước, ông Lý Quang Diệu.
Những cánh rừng kiểu đó hiện diện khắp hòn đảo, đa số chỉ nhỏ như một ngọn đồi thấp khiêm nhường. Rừng nguyên sinh bên cạnh tổ hợp nhà cao tầng có lẽ là nét đặc thù riêng biệt của Singapore.
Và ngày nay, chỉ sau vài thập kỷ dựng nước họ đã đạt được thương hiệu Thành phố Xanh (cũng là Quốc gia Xanh), ngoài việc sánh vai với các cường quốc công nghiệp hiện đại khác. Vậy Singapore xanh như thế nào?
Đó là bất cứ công trình xây dựng nào cũng bao gồm thảm cỏ, vườn và cây cối; là hệ thống hơn 300 công viên; là những khu bảo tồn thiên nhiên. Singapore có diện tích khoảng hơn 700km2 và chính phủ họ đã tự hào với việc ngày nay gần 50% số đó đã được phủ xanh.
Có thể kể ra đây vài công viên khủng trong số hơn 300 công viên ở Singapore (chưa tính đến vườn chim và vườn thú):East Coast Park (1,860,000 m²), Gardens by the Bay (940,000 m²), Pasir Ris Park(705,000 m²), West Coast Park (500,000 m²), Kent Ridge Park (465,000 m², MountFaber Park (565,000 m²), Dairy Farm Nature Park (630,000 m²), Bishan Park(522,000 m²), National Orchid Garden & Singapore Botanic Gardens (660,000m²).
Những công viên này ngoài cây xanh là các công trình kiến trúc đẹp và tiện dụng cho niệc vui chơi giải trí miễn phí cho người dân. Nhưng hữu ích hơn cả là hệ thống vườn và cây xanh bao quanh các khu dân cư, các công trình công cộng và dọc các đường phố. Đó là lá phổi vĩ đại lọc sạch không khí, đồng thời là máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ làm dịu không khí nóng ẩm ngùn ngụt hơi nước của xứ xở gần xích đạo quanh năm phơi mình dưới mặt trời gay gắt.
Thực ra cây ở đây tuy tán rộng và xòe đều nhưng không đẹp bằng cây ở Việt Nam như cây phượng vĩ, cây gạo với sắc hoa đỏ thắm rực rỡ, cây điệp với sắc hoa vàng óng, cây bằng lăng hoa tím dịu dàng, hay cây bàng lá xanh lá đỏ. Tuy nhiên, cả một thảm xanh hòa nhịp dù cao thấp, to nhỏ không hẳn đồng đều đã cho Singapore một thương hịệu Xanh có thể nói là độc nhất trên thế giới.
Thương hiệu Xanh này đã được phôi thai từ ông Lý Quang Diệu, cũng là người khai sinh ra nước Singapore. Tháng Sáu năm 1963, trước khi Singapore độc lập 2 năm (1965) ông Lý Quang Diệu đã khởi đầu chiến dịch trồng cây để tăng lượng mưa bằng việc trồng một cây con tại khu Farrer Circus.
Sau khi giành được độc lập, ông đã có tham vọng đưa đất nước từ thế giới thứ ba lên đẳng cấp hạng nhất và ông cho rằng một đất nước sạch và xanh sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ. Ông đã gửi thông điệp ra thế giới rằng Singapore là nơi có kỷ cương và nhấn mạnh đến việc giữ gìn môi trường bền vững.
Tại thời điểm đó Singapore vẫn còn là nước nghèo và còn rất bấp bênh về tương lai của nền kinh tế. Là nước nhiệt đới nóng ẩm quanh năm, thảm xanh giúp người dân bản địa sống và làm việc tốt lên rất nhiều, đồng thời cũng mời gọi được nhiều tài năng từ những vùng có khí hậu lạnh (tức là thế giới văn minh Âu Mỹ).
Lý Quang Diệu, Cây xanh, quốc gia, thiên nhiên, Châu Sa
Nếu người ta không quý thảm xanh xung quanh như quý lá phổi của mình thì sẽ là nạn nhân của chính mình.
Mặt khác khí hậu nóng ẩm cũng rất thuận lợi cho việc trồng cây. Và do vậy, chỉ sau vài thập kỷ, Singapore đã gặt hái được thương hiệu Xanh, cái làm nên sự khác biệt đáng tự hào giữa họ và nhóm nước phát triển hàng đầu thế giới.
Có thể nói thảm xanh ở Singapore được tạo nên nhờ tình yêu cây xanh của cả cộng đồng, đứng đầu là người cha già của đất nước, ông Lý Quang Diệu. Họ quý từng cây xanh, đặc biệt cây cổ thụ lâu năm và to lớn. Ngày nay, hơn 2 triệu cây dã được trồng và tất cả đều được lưu giữ trong hồ sơ dữ liệu. Việc chặt bỏ một cây đều phải được xin phép cơ quan chủ quản. Các quần thể cao ốc chọc trời vẫn liên tiếp mọc lên.
Nhưng có vẻ như các cây cổ thụ là quyết định của người lập nên kiến trúc quần thể. Utown (University town) là khu học xá mới vô cùng hoành tráng và hiện đại của Đại học Quốc gia Singapore, được hoàn thành vài năm gần đây. Khi nó được khánh thành, nằm trong khuôn viên của nó có vài cây cổ thụ to lớn hiên ngang sánh vai cùng những tòa nhà đồ sộ. Bởi vì khi nó còn là công trường xây dựng khổng lồ đầy những giàn giáo và cần cấu ngất trời người ta vẫn thấy vài cây cổ thụ lặng lẽ đứng nghe tiếng giộng đất và trộn bê tông rầm rầm xung quanh.
Từ trải nghiệm của Singapore có thể khẳng định rằng, nếu người ta không quý thảm xanh xung quanh như quý lá phổi của mình thì sẽ là nạn nhân của chính mình. Hãy cắm vào bất cứ mẩu đất nào dôi ra một màu xanh, và hãy chân trọng những cây đã trơ gan cùng thế nguyệt hàng thập kỷ. Chỉ vài năm bạn sẽ thấy cuộc sống khác hẳn.
Châu Sa (từ Singapore)

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

Những cột mốc trong sự nghiệp 

của ông Lý Quang Diệu  


TTO - Ông Lý Quang Diệu trở thành thủ tướng Singapore từ năm 1959 đến năm 1990. 
Ông Lý Quang Diệu phát biểu trong buổi họp đầu tiên của Đảng Hành động nhân dân (PAP) năm 1954 - Ảnh: Straits Times
Như vậy, ông là vị thủ tướng tại vị lâu nhất trong lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của ông, Singapore trở thành quốc gia phát triển nhất Đông Nam Á.
Ông Lý Quang Diệu sinh ngày 16-9-1923 trong một gia đình gốc Hoa giàu có đã định cư tại Singapore từ thế kỷ 19.
Sau Thế chiến II, ông Lý Quang Diệu theo học ngành luật ở ĐH Fitzwilliam tại Cambridge, Anh. Năm 1949, ông trở thành luật sư nhưng về Singapore để xây dựng sự nghiệp.
1954. Khi đó, Singapore là thuộc địa của Anh, nằm dưới quyền quản lý của một thống đốc và một hội đồng lập pháp được chỉ định.
Ông Lý Quang Diệu muốn thay đổi cấu trúc quản trị của đất nước. Tháng 11-1954, ông thành lập Đảng Nhân dân hành động (PAP) và trở thành tổng thư ký PAP.
Năm 1955, một hiến pháp mới được đưa ra ở Singapore và trong cuộc bầu cử sau đó, PAP giành ba ghế ở hội đồng  lập pháp.
Năm 1956 ông Lý Quang Diệu đến London cùng phái đoàn đòi quyền tự trị cho Singapore. Năm 1958, ông giúp thương thuyết đưa Singapore trở thành một chính phủ độc lập (ngoại trừ các vấn đề về quốc phòng và ngoại giao).
Tháng 6-1959, tổng tuyển cử diễn ra. Đảng PAP của ông Lý Quang Diệu giành thắng lợi và ông lên giữ chức thủ tướng vào ngày 5-6-1959. Ông trở thành thủ tướng đầu tiên của quốc gia Singapore độc lập.
1963. Sau khi lên nắm quyền, ông Lý Quang Diệu thực hiện các chính sách phát triển đô thị, xây nhà, cải tổ kinh tế, công nghiệp hóa... Ông kêu gọi sáp nhập Singapore vào Malaysia và chấm dứt chế độ thuộc địa của Anh. Trưng cầu dân ý năm 1962 cho kết quả 70% dân Singapore ủng hộ sáp nhập vào Malaysia. Năm 1963, Singapre gia nhập Liên bang Malaysia.
1965. Căng thẳng giữa người gốc Hoa và người Malay dẫn tới bạo động tại Singapore. Malaysia quyết định trục xuất Singapore ra khỏi liên bang. Ông Lý Quang Diệu ký thỏa thuận rời Malaysia vào ngày 7-8-1965. Ông Lý Quang Diệu phải đối mặt với thách thức lớn bởi một Singapore rời Malaysia trở nên đơn độc trong khi không có tài nguyên và năng lực quốc phòng hạn chế.
Singapore cần một nền kinh tế mạnh để tồn tại với tư cách quốc gia độc lập. Ông Lý Quang Diệu thực hiện chương trình đưa Singapore trở thành một nhà xuất khẩu lớn và khuyến khích đầu tư nước ngoài. Singapore cũng tìm kiếm sự công nhận quốc tế khi gia nhập Liên Hiệp Quốc và Khối Thịnh vượng chung.
Thập niên 1980. Singapore đạt mức tăng trưởng cao, nâng cấp các ngành công nghệ cao, khánh thành sân bay quốc tế Changi. Các chính sách của ông LÝ Quang Diệu đưa cảng Singapore trở thành một trong những hải cảng nhộn nhịp nhất thế giới. Singapore trở thành trung tâm giao thông quan trọng của khu vực và là trung tâm du lịch lớn.
1990. Ông Lý Quang Diệu trao lại ghế thủ tướng cho ông Goh Chok Tong (Ngô Trác Đống) nhưng vẫn tiếp tục ở lại nội các với vị trí Bộ trưởng Cao cấp.
2011 đến nay. Sau cuộc bầu cử tháng 5-2011, ông Lý Quang Diệu chính thức rút khỏi nội các. Tháng 11-2011, con gái ông tiết lộ ông bị mắc bệnh thần kinh ngoại biên. Tháng 2-2013, ông Lý Quang Diệu phải nhập viện vì rối loạn nhịp tim. Tháng 2-2015, ông nhập viện vì bệnh viêm phổi nặng.
Ông Lý Quang Diệu trong bức ảnh chụp năm 1959, sau khi thắng cử Singapore - Ảnh: Telegaph
Ông Lý Quang Diệu trao đổi với nông dân trong một chuyến thị sát năm 1963 - Ảnh: Straits Times
Trang nhất báo Straits Times số ra tháng 8-1965 khi Singapore tách khỏi Liên bang Malaysia - Ảnh: Straits Times
Ông Lý Quang Diệu tuyên thệ nhậm chức Bộ trưởng Cao cấp năm 1990 sau khi trao lại chức thủ tướng cho ông Goh Chok Tong - Ảnh: Bloomberg
Ông Lý Quang Diệu năm 2004 khi trở thành Bộ trưởng Cố vấn - Ảnh: ABC News
Ông Lý Quang Diệu đã già nhưng vẫn còn mạnh khỏe hồi năm 2011 - Ảnh: Stasiareport
HIẾU TRUNG