Menu ngang

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

10 bức thư tình ngọt ngào 
nhất mọi thời đại
Từng câu, từng chữ trong thư đều chứa đựng những tâm tình, cảm xúc yêu thương mãnh liệt nhất của người viết dành cho nửa kia của mình.

Trích đoạn 10 bức thư tình hay nhất mọi thời đại theo kết quả cuộc bầu chọn của trang Dailymail:
1. Johnny Cash viết: “Chúng ta đã trở nên già đi và quá đỗi thân thuộc với nhau. Chúng ta nghĩ giống nhau, thấu hiểu suy nghĩ của nhau. Chúng ta biết người kia cần gì mà không cần nói. Đôi khi, chúng ta giận dỗi nhau một chút. Đôi khi chúng ta coi nhau là điều hiển nhiên. Nhưng có đôi lúc, như hôm nay, anh đã suy nghĩ kỹ về điều đó và nhận ra rằng, anh thật may mắn khi được cùng em, người phụ nữ tuyệt nhất mà anh từng gặp sẻ chia cuộc đời. Em vẫn luôn khiến anh si mê, là nguồn cảm hứng của anh. Em khiến anh trở nên tốt hơn. Em là ham muốn của anh, là lý do số một cho sự tồn tại của anh trên trái đất này. Anh yêu em rất nhiều”.
2. Winston Churchill bày tỏ tình yêu bất tử của ông dành cho vợ Clementine Churchill (1935): “Clemmie thân yêu của anh, trong bức thư em gửi từ Madras, em đã dành cho anh những từ ngữ thật đẹp, rằng anh đã làm phong phú cuộc sống của em. Anh không thể nói được hết những hạnh phúc mà mình cảm nhận được bởi lẽ anh luôn thấy mình mắc nợ tình yêu của em".
3. John Keats viết cho cô hàng xóm Fanny Brawne (1819): “Anh không thể sống mà không có em – Anh quên hết tất cả mọi thứ trừ việc được gặp em một lần nữa – Cuộc sống của anh dường như kết thúc ở giây phút này – Anh không thể thấy điều gì khác – Em đã cuốn hút anh mất rồi".
4. Ernest Hemingway bày tỏ tình cảm tới Marlene Dietrich (1951): “Anh không thể nói hết cảm xúc mỗi khi anh ôm lấy em, anh cảm thấy mình đã ở nhà.”
5. Hoàng đế Napoleon Bonaparte gửi tình yêu tới nàng Josephine de Beauharnais (1976): “Kể từ khi xa em, anh chìm trong nỗi chán nản. Hạnh phúc là khi được ở bên em. Lúc nào anh cũng không ngừng nghĩ đến những lần vuốt ve, giọt nước mắt và tình cảm của em. Sự quyến rũ không thể so sánh được của em, Josephine liên tục thiêu đốt và thắp sáng ngọn lửa trong trái tim anh".
6. Richard Burton tôn vinh vẻ đẹp của người tình Elizabeth Taylor (1964): “Đôi mắt mù quáng của anh mòn mỏi hình ảnh của em. E.B., chắc chắn em không biết được rằng em đẹp đến nhường nào và thật kì lạ làm sao khi em sở hữu vẻ yêu kiều pha nét đáng yêu nguy hiểm".
7. Đức vua Henry VIII bày tỏ tình yêu tới người vợ - nữ hoàng Anne Boleyn (1527): “Anh tha thiết được biết tâm ý của em đối với tình cảm giữa chúng ta. Anh thực sự cần biết câu trả lời của em bởi anh đã phải chịu đựng nỗi đau từ mũi tên tình ái hơn một năm nay mà vẫn chưa thể biết chắc được rằng anh sẽ thất bại hay sẽ có một vị trí trong trái tim em".
 8. Nhà soạn nhạc Beethoven viết nên tình yêu của ông dành cho “Người tình vĩnh cửu”, đến nay danh tính vẫn còn là điều bí ẩn (1812): “Dù vẫn ở trên giường, tâm trí em luôn hướng về em, người yêu vĩnh cửu của anh. Hãy dịu dàng, hãy yêu anh của ngày hôm nay, ngày hôm qua. Những giọt nước mắt thương nhớ em – em – em – cuộc đời của anh – tất cả của anh – vĩnh biệt em. Ồ xin em hãy tiếp tục yêu anh, đừng bao giờ hoài nghi về trái tim chung tình nhất của người yêu em. Mãi mãi của anh. Mãi mãi của em. Mãi mãi của chúng ta"
.9. Gerald Ford viết cho người vợ của ông, người mẹ của gia đình Betty Ford ít lâu sau khi bà bị chẩn đoán bệnh ung thư (1974): “Không một ngôn từ nào có thể bày tỏ được hết tình yêu sâu sắc, thật sâu sắc của chúng ta. Cả nhà đều biết rằng em vĩ đại như thế nào và gia đình – các con và anh sẽ cố gắng mạnh mẽ như em. Đức tin của cả nhà dành cho em và Chúa sẽ mãi bền vững. Tình yêu của cả nhà dành cho em là vĩnh cửu"
10. Jimi Hendrix gửi tới “tình yêu bé nhỏ” (Không rõ thời gian gửi): “Hạnh phúc ở chính bản thân em bởi vậy hãy mở khóa trái tim em và để bản thân em lớn lên như một đóa hoa dịu dàng. Anh biết câu trả lời rồi – hãy cất cao đôi cánh và tìm đến tự do".
(Theo Zing)


Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2015

Có gì đang thay, có gì đang chuyển?

Chùm thơ của  Việt Phương
.
Nhà thơ Việt Phương. Ảnh: Lê Anh Dũng.
Đến
Vòm lá xanh
Bầu trời xanh
Cuộc đời đẹp quá
Cõi người thân quá
Trăm năm
Sao lại chỉ trăm năm
Bao nhiêu xấu xa man trá
Là món nợ
Đền bù bằng lương thiện
Đáp lại bằng tình thương
Cành củi trôi trên sông
Hạt bụi bay trên đường
Đi và đến
Chùm ảnh: Hà Nội mùa sấu vàng trút láNguồn: vtc.vn
Đây
Có gì đang thay có gì đang chuyển
Ngày mai đi về đâu
Vòm lá vông đồng thầm thì kể chuyện
Rưng rưng con phố ngọt ngào hương cau
Hai mươi năm nữa là bao nhiêu lâu
Ai sắp lên tàu ai vừa cập bến
Ở thiên hà nào phản đời hiển hiện
Giữ tình yêu cho nhau
Mơ hồ vang vọng từ trong thẩm sâu
Xin gửi theo người niềm vui nỗi đau
Sương đặc mịt mù ban mai khép nở
Trưa vàng bừng nổ dòng nắng dâng tràn
Đời chuyển đời thay bỗng chợt mùa sang
Đón
Giữ lại đêm đông gió bấc mưa phùn
Mượn trước trưa hè trời xanh thăm thẳm
Một dòng nắng vàng bàng hoàng nguồn cơn
Ỡ giữa mặt đường chân trời ấm nóng
Thế này là đời thế kia là sống
Từ trong giấc mộng niềm vui thật thà
Lắng nghe tiếng người nhen lên hi vọng
Phiêu bồng lồng lộng con sóng đời ta
Xích lại cho gần thu bớt cách xa
Một chút hương thầm đậm đà mời gọi
Cùng nhau mở ra những vùng trời mới
Vượt qua lận đận đến tận thềm nhà
Ngày mai đã chờ
Ngày nay đang qua
Xuân 2015

Cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ ba


Mặc sự công nhận chính thức về cội nguồn người Việt của nhà nước và cả giới khoa học chính thống, cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt của các nhà nghiên cứu nghiệp dư vẫn lặng lẽ và đang ngày càng tỏ ra quyết liệt với những quan điểm mới, nhiều khi cực đoan nhưng không phải không có lý. Tất cả cho thấy quả thật rất có vấn đề trong định nghĩa thế nào là nguồn gốc người Việt.

Truy tìm nguồn gốc người Việt ngỡ như đã xong bỗng gần đây được xới lên, nhất là trên mạng, nơi có điều kiện bày tỏ quan điểm một cách khá bình đẳng. Theo dõi những cuộc trao đổi này, chúng tôi chợt nhận ra vẫn còn những câu hỏi vô cùng lớn về nguồn gốc người Việt chưa được giải đáp.
Tóm tắt vấn đề như sau (xin chỉ nêu tên tác giả mà không dẫn nguồn, cho gọn):
- Theo quan điểm chính thống của giới sử học hiện nay thì người Việt là người bản địa, chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn và phát triển xuyên suốt từ đó đến nay trên địa bàn nước Việt Nam, đã nhận nhiều tác động từ bên ngoài, đã có nhiều biến đổi, đã tập hợp thêm nhiều nhóm dân tộc khác vào cộng đồng nói tiếng Việt và đã trở thành một khối thống nhất không thể tách rời, với một lịch sử đã được nghiên cứu hầu như đã đầy đủ và rõ nét.

Cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ ba

Tuy vậy, sự mạnh mẽ và quan phương của quan điểm này vẫn không ngăn nhiều người nêu ra những nghi hoặc về cội nguồn nếu không thể kết nối được nó với dân tộc anh em nào khác nữa, xa hơn về trước. Tại sao các dân tộc Thái, Mường, Tày, Nùng, H’Mông, Mèo, Dao... đều tìm thấy người anh em của họ ở ngoài biên giới của bất kể nước nào trong khu vực, cớ sao người Việt lại không tìm thấy anh em nào của mình ở trên các nước khác? Liệu đó có phải là hệ quả của một sự hình thành cộng đồng Việt rất muộn, tức Việt mới, do tổng hợp từ nhiều nguồn dân tộc khác nhau. Và điều này xảy ra trong giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc hoặc thậm chí muộn hơn nữa, thế kỷ XIII, XIV? (Các nhóm người Việt, gọi là người Kinh, ở Quảng Đông và Quảng Tây - Trung Quốc nay đều là những di dân Việt vào các thế kỷ gần đây).
- Từ giữa thế kỷ XX về trước, dựa trên các tư liệu huyền sử như Lạc Long Quân - Âu Cơ, Triệu Đà, An Dương Vương và nhất là 18 đời vua Hùng, nhiều tác giả cho rằng người Việt có nguồn gốc từ phương Bắc, gốc từ các tộc người Hán di cư về châu thổ sông Hồng và tạo nên tộc người Việt như ta thấy trong sử liệu chính thức. Đại diện cho quan điểm này là nhà nghiên cứu Nguyễn Phương, học giả Đào Duy Anh...
- Gần với quan niệm này thì cho rằng người Việt nay là cùng trong nhóm cộng đồng Bách Việt vốn phát triển khá rực rỡ ở phía Nam sông Hoàng Hà (Trung Quốc). Người Hán khi tiến vào Hoa Hạ đã tiếp thu rồi nâng cao rất nhiều từ nền văn minh này. Trong thời nhà Đường, nhiều nhóm người Việt (thuộc Bách Việt) đã hoàn toàn nhập vào với văn hóa Hán và trở thành một phần của nước Trung Hoa 1,4 tỉ dân hiện nay. Riêng nhóm Việt ở Phú Thọ - Mê Linh tuy cũng bị 1.000 năm cai trị của các triều đại Trung Hoa nhưng vì một lý do nào đó vẫn giữ được ý thức dân tộc và đến thời Ngô Quyền thì giành được độc lập, giữ được nền độc lập đó cho đến tận nay. Và có thể nói cộng đồng Việt thuộc An Nam là đại diện xuất sắc và điển hình nhất của cộng đồng Bách Việt này. Đại diện cho quan điểm này là Lê Mạnh Thát, Hà Văn Thùy, Nguyễn Đức Tố Lưu...
- Tác giả Phan Duy Kha và các bạn hữu nêu ra cội nguồn người Việt nào đó ở về phía Nam, vùng núi Khu 4 cũ, từ Vinh (Nghệ An) đến Hà Tĩnh, đã tiến ra vùng Việt Trì (Phú Thọ) để tạo nên văn hóa Đông Sơn rồi sau đó trở lại nâng cao và sáp nhập vùng Khu 4 vào Việt (hậu).
- Bình Nguyên Lộc một mình vạch ra một hướng tiếp cận khác. Ông đưa ra nhiều bằng chứng và quan trọng nhất là với vốn từ vựng đang có thì người Việt phải có nguồn gốc từ Mã Lai Đa Đảo, tức cộng đồng các tộc người hiện đang sống ở các nước như Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan và dĩ nhiên: Việt Nam. Chỉ vì tiếp thu một phần ngôn ngữ văn hóa của người Hán trong ngàn năm Bắc thuộc mà người Việt đã trở thành xa cách với cội nguồn Mã Lai của mình. Quan điểm của Bình Nguyên Lộc dù đã được giới nghiên cứu chỉ ra nhiều thiếu sót nhưng vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ về lý do vốn từ vựng to lớn có nguồn gốc Mã Lai trong vốn từ của người Việt (việc cùng nguồn gốc ngữ hệ Nam Á không trả lời được hết các ví dụ Bình Nguyên Lộc nêu ra).
- Gần đây, GS Liam Kelley (Đại học Hawaii, Mỹ) đã xới lại vấn đề nghi ngờ cội nguồn phương Bắc và cả cội nguồn bản địa của người Việt, cũng không thiên về cội nguồn Mã Lai như Bình Nguyên Lộc. Người Việt là ai thì Liam Kelley chưa nêu câu trả lời nhưng ông đang chứng minh ngày càng rõ nét rằng những thứ mà ta tự hào và tin rằng nó vốn của người Việt từ lâu nay thì thật ra đều là của người Thái. Vài ví dụ: Người Thái ở phía Nam Trung Quốc vẫn đang dùng trống đồng và cái khèn nhạc cụ - thứ có trên trống đồng, trong khi người Việt thì hoàn toàn không còn biết đến 2 loại nhạc cụ này từ rất lâu rồi. Người Việt là người Thái quên gốc gác hay thực sự là một dân cư khác đến chiếm lĩnh vùng đất này? Hay sự hình thành do tổng hòa văn hóa và ngôn ngữ của các cư dân cùng chung sống ở châu thổ sông Hồng?
Vậy thì người Việt từ đâu mà có? Câu trả lời chưa rõ song vấn đề đang được đặt lại một cách lý thú và khoa học hơn. Nếu sự hình dung nguồn gốc của người Việt thời Pháp thuộc là cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ nhất và vẫn được kế thừa, phát triển đến hiện nay thì cuộc truy tìm lần thứ hai của những nhà nghiên cứu sử học nghiệp dư như Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Phương, Công Đình Thanh, Hà Văn Thùy đã cho thấy vấn đề cần phải được nhìn rộng hơn ở ngoài biên giới nước Việt nay; thậm chí phương pháp nhân chủng, đo sọ, di truyền cũng đã được sử dụng để tìm nguồn gốc người Việt. Và đến nay, cuộc đặt lại vấn đề nguồn gốc người Việt lần thứ ba đã hình như được bắt đầu, thuận lợi của lần này là sự công bố và các ý kiến phản biện đều được thể hiện rất nhanh chóng, như tất cả đều đang ở trong một nhà và mọi ý kiến đều có thể trao đổi và được tranh luận ngay khi được phát biểu. Đặc điểm của lần này chính là sự tham gia của các quan điểm nhân học hiện đại, nhắm đến mục tiêu sự dịch chuyển của các tộc người chứ không hề còn là cuộc tìm kiếm một cội gốc đơn tuyến nào. Việc tìm kiếm một cội gốc đơn tuyến thuần nhất, xuyên suốt từ cổ đại đến nay như Tạ Đức trong cuốn Nguồn gốc người Việt - người Mường vừa xuất bản năm 2014 ngay lập tức đã tỏ ra không thuyết phục mặc dù công trình khá dày dặn.
Đây là cuộc thảo luận khoa học rõ ràng là lý thú và khá hấp dẫn. Nhiều tranh luận gay gắt đã được thể hiện. Tác giả bài viết này cùng bạn hữu cũng đang ấp ủ những hướng tìm kiếm mới, hy vọng cuộc tìm kiếm này sẽ mở vấn đề ra đa diện, nhiều chiều với những phương pháp tiếp cận mới, thỏa mãn được mọi băn khoăn về cội nguồn.
HỒ TRUNG TÚ

Bí quyết trường thọ của cụ ông 117 tuổi

Trong hồ sơ đăng ký đề xuất kỷ lục Bách niên trường thọ, phần tiết lộ bí quyết trường thọ của cụ Y N’dông được ghi rất ngộ nghĩnh mộc mạc.

Cuộc sống của cụ bà 121 tuổi lập kỷ lục Guinness Việt Nam

Cụ Nguyễn Thị Trù (H.Bình Chánh, TP.HCM), người được ghi nhận là cụ bà cao tuổi nhất Việt Nam, sức khỏe còn khá tốt. Mỗi ngày cụ ăn được 3-4 chén cơm.
Năm mới này, đồng bào bon Jâng Plây vui hơn vì, dù nằm hẻo lánh giữa cao nguyên M’Nông nhưng trở nên nổi tiếng với sự kiện cụ Y N’dông được tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận là cụ ông thọ nhất nước. Bon đón nhiều đoàn khách quý đem quà đến chúc mừng.
Thọ vì... không kỹ thuật, không thuốc sâu
Bon (nghĩa là làng- gọi theo tiếng M’Nông) Jâng Plây thuộc xã Trường Xuân, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông nằm sâu trong một con đường nhỏ, gồm nhiều cụm nhà trệt nền đất vách gỗ đơn sơ, cách thị xã Gia Nghĩa về phía Bắc hơn 14 km.
Cụ Y’N Dông - Ảnh: Hồ Mai
Cụ Y N’dông với cột năm sinh ghi 1898.
Trên đường đến bon Jâng Plây, trò chuyện với phóng viên, ông Sang Văn Minh, Chánh văn phòng Hội Người cao tuổi Đắk Nông (Hội NCT) nhận xét, trong danh sách 50 cụ thọ trên một trăm tuổi ở tỉnh này, hiện đến khoảng 80% số cụ là người đồng bào dân tộc M’Nông. 
Tháng 8/2014, Hội NCT tỉnh Đắk Nông gửi công văn cho Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) cung cấp danh sách số cụ trên trăm tuổi. VietKings đặc biệt chú ý đến trường hợp cụ Y N’dông với cột năm sinh ghi 1898, đã đề nghị Hội NCT hỗ trợ thẩm tra, lập hồ sơ đề cử để VietKings xác lập kỷ lục Việt Nam. 
Đáp ứng các yêu cầu của VietKings, Hội NCT lập đoàn xác minh gồm 7 cán bộ cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã đi thu thập các thông tin liên quan. Giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu đều ghi cụ sinh năm 1898. Tháng 9/2014, VietKings đã công bố cụ Y N’dông là cụ ông cao tuổi nhất Việt Nam hiện nay còn sống.
Trong hồ sơ đăng ký đề xuất kỷ lục Bách niên trường thọ theo mẫu của VietKings, phần tiết lộ bí quyết trường thọ của cụ Y N’dông được ghi rất ngộ nghĩnh mộc mạc, nguyên văn như sau: Sinh ra, lớn, đến khi trưởng thành từ lao động sản xuất trồng cây ngô, cây lúa không có khoa học kỹ thuật, không có thuốc men trừ sâu gì.

Việt Nam sẽ có kỷ lục thế giới về người sống lâu nhất

Cụ ông và cụ bà cao tuổi nhất Việt Nam đều cao hơn cụ ông, cụ bà cao tuổi nhất đã được xác lập Kỷ lục thế giới.
Sống hồn nhiên, yêu thương, êm ấm
Cụ Y N’dông dắt tay vợ là bà H’Đơi sinh năm 1920 vào gian nhà nền láng xi măng của gia đình người con gái thứ tư, tươm tất hơn mấy căn nhà xung quanh, chào đoàn khách đã ngồi xếp bằng dưới chiếu chờ sẵn. Cụ ngồi lên 2 chiếc ghế nhựa các cháu bê ra. Tuổi 117, cụ Y N’dông bước vẫn thẳng lưng, gương mặt vẫn hiển hiện đường nét quắc thước. Cặp dái tai dài nong rộng từng đeo khuyên ngà voi. Khuyên ngà giờ đã mất, chỉ còn chuỗi hạt cườm đủ màu cụ đỏm dáng đeo chật cổ.
Hội Người cao tuổi địa phương tặng quà cho vợ chồng cụ Y’N Dông - Ảnh: Hồ Mai
Hội Người cao tuổi địa phương tặng quà cho vợ chồng cụ Y’N Dông - Ảnh: Hồ Mai
Cả đôi vợ chồng cao tuổi đều minh mẫn, nhớ rõ nhiều chuyện xảy ra trong quá khứ. Năm 1893, thực dân Pháp bắt đầu toàn quyền cai trị vùng cao nguyên Trung phần, trong đó có khu vực sau này là tỉnh Đắk Nông. 5 năm sau, cụ Y N’dông chào đời, được cấp giấy khai sinh, lớn lên có thẻ căn cước. 
Năm 1979, mình đem thẻ căn cước ra xã nộp để làm cái thẻ CMND, rồi giữ miết cái thẻ CMND cho tới giờ không đổi. Già rồi, có đi ra khỏi cái bon này đâu, đổi làm chi? - Cụ bảo!
Cả hai ông bà kể: Hồi mới lớn, hổng biết sao ông bệnh hoài, có trận ốm kéo dài suốt năm không dậy được, cứ tưởng không thể lấy vợ. Tới hồi sắp già rồi mới gặp bà, ông thích, cưới luôn. Vợ chồng sống với nhau hơn bảy mươi năm, bà đẻ 14 lần, chết mất 7, còn 7 đứa. Giờ cũng nở ra tới 44 cháu, 20 chắt đủ cỡ.
Bà H’Đơi âu yếm nhìn chồng, cười móm mém khoe: Ổng hiền lắm, không la vợ đánh con bao giờ. Cũng không uống rượu, hút thuốc. Hồi trẻ ổng suốt ngày đi rẫy, tối về lại hát kể sử thi từ đêm này qua đêm khác. Chắc nhờ vậy mà ổng sống lâu!
Sau khi cụ Y N’dông nhận được thiếp mừng thọ của Chủ tịch nước, cả bon Jâng Plây lại hồi hộp chờ ngày tổ chức Kỷ lục Việt Nam đến trao bằng công nhận cụ ông có tuổi thọ cao nhất cả nước cho cụ Y N’dông.
Ông Đỗ Quang Thi, Chủ tịch Hội NCT xã Trường Xuân cho biết, Hội định kỳ tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho các cụ, nhất là NCT đạt kỷ lục đặc biệt như cụ Y N’dông.

Tiết lộ khó tin về cặp vợ chồng cao tuổi nhất Việt Nam

Để được trường thọ như bây giờ, hai cụ đã có những giai đoạn khổ cực của tuổi trẻ, thậm chí phải ăn cám và ăn rau chuối.
Trao đổi với đại diện báo Tiền Phong qua điện thoại, Tổng Giám đốc Vietkings Lê Trần Trường An khẳng định, đại diện Vietkings sẽ đến bon Jâng Plây trước Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015, để mừng thọ và trao Bằng Chúng nhận kèm Huy hiệu kỷ lục Việt Nam cho cụ Y N’dông. 
Vietkings cũng đã đề cử Tổ chức Kỷ lục châu Á, Tổ chức Kỷ lục Thế giới công nhận kỷ lục cụ ông cao tuổi nhất đối với cụ, nhưng họ yêu cầu phải tìm cho ra hồ sơ lưu trữ hành chính thời Pháp để có chứng nhận khai sinh chính xác, hoặc phải có kết quả giám định tuổi xương bằng phương pháp y học hiện đại do cơ quan đủ chức năng thực hiện. Hiện VietKings chưa đáp ứng được.
Cụ Y N’dông đưa chúng tôi ra phía sau thăm gian nhà riêng của vợ chồng cụ. Chân trần, nền đất, bếp lạnh, chiếc giường gỗ cũ kỹ ọp ẹp xung quanh treo lủng lẳng các thứ túi bịch to nhỏ. Trong gian nhà đơn sơ này, cụ có những đứa chắt mắt xoe tròn xoắn xuýt cận kề.
Đàn con cháu đông đúc thường xuyên ghé lại thăm hỏi, thỉnh thoảng lại cho những mớ cà xanh, lá bép, mây rừng, cá suối.
Chỉ cần bà nấu món canh thục vừa đắng vừa cay ông yêu thích, là mỗi ngày ông xơi hết ba bát cơm. Chỉ thế thôi, đã đủ cho họ sống êm đềm bên nhau mãi cho tới bây giờ…
Theo Hoàng Thiên Nga/Tiền phong

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2015

Tây Tiến

                                               Quang Dũng

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

CÓ MỘT NỀN VĂN HÓA HỌC VIỆT NAM

  •   LÊ VĂN HẢO

  •  giảm kích thước chữPhải chăng người Việt cổ đã "viết" nên những "trang" văn hóa học đầu tiên của Việt Nam cách nay hơn 3.000 năm ?
Từ Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đến các trường phái khoa học nhân văn Việt Nam ngày nay, một thế kỷ nghiên cứu đã đưa đến một chân lý lịch sử : tổ tiên người Việt là người Việt cổ, còn gọi là người Lạc Việt, và thời đại đầu tiên của lịch sử Việt Nam là thời đại các vua Hùng, vua Thục, vua Trưng dựng nước Văn Lang - Âu Lạc, thời đại của văn hóa Đông Sơn, còn gọi là văn minh sông Hồng. Và cách nay hơn 3.000 năm, tổ tiên chúng ta, bằng dồ gốm Phùng Nguyên, đồ đồng Đông Sơn, và bằng những chữ viết còn đầy bí ẩn, đã sáng tác nên những trang cổ kính nhất của nền văn hóa học Việt Nam.