Menu ngang

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

Chặn nguy cơ một 'xã hội chết'


Mặc dù xây dựng nền tảng đạo đức xã hội luôn là điều cốt yếu, nhưng cũng cần có những quy định pháp lý để chống bệnh vô cảm. Một xã hội vô cảm sẽ là một "xã hội chết".

Không khó nhận ra bệnh vô cảm, nhưng làm sao để chữa được bệnh thì không hề đơn giản. Sự mất lòng tin trong xã hội, sự ích kỷ, tính thực dụng trong lối sống của một bộ phận xã hội làm cho bệnh thêm nặng.
Tạo cho xã hội sức đề kháng
Để chữa trị căn bệnh "ung thư tâm hồn" này,  cần phải kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết phải tạo cho xã hội một sức đề kháng. Đó chính là việc xây dựng và không ngừng nhân lên những yếu tố tích cực trong xã hội. Một môi trường xã hội tốt, lành mạnh sẽ tạo được sức đề kháng cao với căn bệnh này. Ngược lại, trong một môi trường xã hội xấu, nơi mà tiêu cực lấn át tích cực thì bệnh vô cảm sẽ lây lan.
Một xã hội vô cảm sẽ là một "xã hội chết"- cái chết trước hết từ trong tâm hồn.
Phải bền bỉ xây dựng văn hóa ứng xử, tạo đời sống tinh thần phong phú, mà ở đó các giá trị tinh thần, đạo đức của xã hội được xác lập rõ ràng, thể hiện mạnh mẽ, để ai làm những điều xấu cũng phải sợ, cũng phải ngại. Nếu cái tốt, cái thiện ở thế thượng phong, nếu ở đâu người tốt cũng biết đoàn kết, hợp lực tạo nên sức mạnh thì ở đó chắc chắn cái xấu, cái ác sẽ từng bước bị đẩy lùi,  sự vô cảm sẽ mất dần đi.
Tất cả chúng ta đều phải day dứt trước câu hỏi: Bây giờ đời sống của người Việt Nam mình khấm khá hơn trước rất nhiều nhưng tại sao bệnh vô cảm lại nặng hơn?  Như thế càng thấy rõ, không phải cứ nghèo là vô cảm, không phải cứ túng là làm liều.
Thuốc chữa bệnh vô cảm nằm ở sự truyền phổ sâu sắc những giá trị truyền thống của dân tộc, thẩm thấu vào trong đời sống xã hội. Xã hội càng hiện đại thì những giá trị đó lại càng cần nhân rộng, không được để cho những làn sóng lai tạp, xô bồ che lấp, lấn át những giá trị truyền thống.
Khi bệnh vô cảm trong xã hội càng lây lan thì sự gắn kết, tình người càng bị mai một. Xã hội cần có ngọn lửa nhân ái lan tỏa, những người hoạn nạn càng cần ngọn lửa nhân ái sưởi ấm họ. Đó chính là tiêu chí của một xã hội văn minh, một xã hội có đạo đức.
Cuộc chiến chống bệnh vô cảm cần được triển khai trong từng gia đình, trước hết là giáo dục con cháu bằng các hành vi ứng xử mẫu mực của ông bà, cha mẹ, người lớn tuổi.
Tôi từng chứng kiến một việc đáng buồn: Hôm đó, chúng tôi đang đi trên một đường phố thì thấy một cụ già gầy guộc, quần áo cáu bẩn, ngồi bên vỉa hè chìa tay xin ăn. Một cháu bé chừng 8 tuổi đi cùng với bố mẹ liền đưa cho cụ già gói bánh cháu đang cầm trên tay. Cụ già nói, giọng thều thào: "Cảm ơn cháu". Lập tức, người mẹ sẵng giọng nói với cháu bé: "Ăn mày giả vờ đấy con ạ". Cháu bé ngơ ngác không hiểu mình đã làm sai điều gì.

Cần những quy định pháp lý
Mặc dù xây dựng nền tảng đạo đức xã hội luôn là điều cốt yếu, nhưng cũng cần có những quy định pháp lý để chống bệnh vô cảm. Nếu thấy bệnh nhân nguy kịch mà nhân viên y tế từ chối việc cứu chữa thì dù với bất cứ lý do gì cũng phải bị xử lý nghiêm minh; nếu gặp người bị nạn trên đường mà không cứu sẽ bị truy cứu với những chế tài riêng.
Trách nhiệm công vụ thể hiện đạo đức công vụ, đạo đức xã hội. Đối với hệ thống công quyền, để trị bệnh vô cảm, cần cải cách hành chính một cách mạnh mẽ hơn, đưa ra những quy định khoa học, cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm của từng người trong guồng máy công vụ để nếu một người không làm đúng chức trách của mình thì lập tức bị bật ra khỏi hệ thống. Nếu một nền hành chính được thực thi một cách khoa học thì sẽ dần dần sẽ tạo ra một thói quen, buộc những ai ở trong guồng máy cũng phải làm hết chức phận của mình.
Bên cạnh việc xây dựng một nền hành chính khoa học để quản trị tốt thì cần tăng cường giáo dục để cho những "công bộc" - những người ăn lương của nhà nước bằng tiền đóng thuế của dân - phải cảm thấy mình có trách nhiệm đạo đức trong việc phục vụ dân; trước những đòi hỏi, những bức bách, thậm chí những bất hạnh của người dân thì không thể làm quay mặt làm ngơ. Và cần tăng cường thanh tra công vụ thường xuyên, bất chợt, đột xuất dưới nhiều hình thức khác nhau để bắt bệnh thật chính xác, kịp thời, từ đó sẽ thưởng phạt nghiêm minh.
Không gì có thể thay thế việc khơi dậy lòng nhân ái và dũng khí trong mỗi con người,   tinh thần trách nhiệm và dũng khí của các cơ quan chức năng trước những ngang trái và bất công.
Cần xây dựng một xã hội đồng cảm và chia sẻ. Các hoạt động nhân đạo, từ thiện được triển khai rộng khắp là hướng tới một xã hội như vậy.
Một xã hội vô cảm sẽ là một "xã hội chết"- cái chết trước hết từ trong tâm hồn.
Hồ Quang Lợi

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

VỀ VỚI ĐỀN THIÊNG DIÊN CỜ



            Mấy chục năm qua, một phần do chiến tranh, phần chủ yếu do nhận thức tư tưởng ấu trĩ tả khuynh cực đoan của con người, hầu như mọi đền chùa miếu mạo - cơ sở truyền thống văn hóa tín ngưỡng tâm linh - ở Nghệ An đều bị tàn phá, hủy hoại. Nhiều nơi không còn dấu tích. Đền Diên Cờ ở làng Đông Chử, xã Nghi Trường cũng chỉ còn lại như một phế tích hoang tàn. Có thể nói, tỉnh Nghệ An là quán quân của cả nước trong việc phá bỏ các công trình văn hóa tâm linh. 
           Từ làng Đại Xá xã Nghi Hợp quê tôi lên làng Đông Chử chừng 5 cây số. Thuở nhỏ, tôi được nhiều người truyền tụng sự linh thiêng của đền Diên Cờ. Có người nói rằng, hễ có người nhà bị ốm đau, thì lên xin hái lá cây ở đền Diên Cờ về sắc uống sẽ khỏi.
        Nhằm suy tôn, tri ân những vị thần có công với nước, với làng; cùng tấm lòng chí nghĩa nhiệt thành với quê hương xứ sở, gia đình cụ Nguyễn Đăng Cẩn mà chủ trì là Đại tá AHLĐ Nguyễn Đăng Giáp- người con cả- đã đứng ra vận động thuyết phục, đầu tư tái thiết phục dựng đền Diên Cờ. Điều chắc chắn rằng, để xây dựng một Công trình hoành tráng, bề thế như thế, công sức tiền bạc bỏ ra là rất lớn. Nhưng theo tôi, trong nghĩa cử cao đẹp này, cái lớn hơn tiền bạc công sức đó là cái Tâm, cái Đức của nhà đầu tư. Trên cơ sở Tâm - Đức hợp đạo lý, hợp thời thế, hợp lòng người, nhà đầu tư đã có một tầm nhìn vượt trội. Tin chắc rằng, Di tích Lịch sử Văn hóa đền Diên Cờ sẽ có sức lan tỏa trong đời sống văn hóa tâm linh theo thời gian và vượt qua không gian một miền quê Xứ Nghệ.       
Tháng 8 năm 2012, anh Nguyễn Đăng Giáp mời tôi (với tư cách Trưởng ban Liên lạc Hội đồng hương huyện Nghi Lộc tại Hà Nội) về dự Lễ khánh thành Đền Diên Cờ. Lễ khánh thành do Đảng ủy, UBND xã Nghi Trường phối hợp với Tổng Công ty 36 / Bộ Quốc phòng cùng gia đình Cụ Nguyễn Đăng Cẩn tổ chức trọng thể vào ngày 31 tháng 8 năm 2012 -  đúng vào ngày Tết Vu Lan rằm Tháng 7 năm Nhâm Thìn.
Tới dự buổi Lễ có Bí thư huyện ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND huyện Nghi Lộc, đại diện các ban ngành liên quan của tỉnh Nghệ An và huyện Nghi Lộc; Đảng ủy, UBND, các ban ngành đoàn thể xã Nghi Trường, đại diện lãnh đạo Tổng Công ty 36/BQP và đại diện lãnh đạo của những xã bạn. Đặc biệt là, giữa một ngày trời nắng chói chang, gió Lào hầm hập thổi, không khí oi nồng, thế mà có đến hàng mấy ngàn bà con ở xã Nghi Trường cùng các xã trong vùng tề tựu về dự Lễ với tâm thế phấn khởi, trang nghiêm, thành kính. Buổi Lễ khánh thành diễn ra trọng thể, hoành tráng, có ý nghĩa tình cảm và tâm linh sâu sắc.
Tôi vinh dự được thay mặt bà con đồng hương huyện Nghi Lộc ở Hà Nội về dự Lễ. Chiều hôm trước tôi đi qua nhiều cửa hàng văn hóa phẩm ở thành phố Vinh tìm mua kỷ vật lưu niệm để trân trọng trao tặng trong buổi Lễ.  Có người khái quát kinh nghiệm về tặng kỷ vật là: “ Nhất chữ, nhị tranh, tam sành, tứ gỗ”. Dĩ nhiên, tôi lấy phương thức tặng chữ. Cửa hàng bày bán nhiều loại chữ: Tâm, Nhẫn, Tín, Tài, Lộc, Phúc, Đức,…Mỗi chữ hàm chứa một nội dung ý nghĩa sâu sắc. Sau khi cân nhắc giữa chữ Tâm và chữ Đức, tôi quyết định chọn chữ Đức là phù hợp nhất.
Theo truyền thống tín ngưỡng, tâm linh, Lễ hô Thần nhập tượng được tiến hành vào đêm trước ngày Lễ  khánh thành. Khoảng hơn 9 giờ tối, đang ở quê, tôi được anh Nguyễn Đăng Giáp gọi điện : “ Anh ơi! Vì công việc đột xuất ở Hà Nội, tôi không thể về dự Lễ được. Đề nghị anh đến tham dự Lễ hô Thần nhập tượng với bà con. Tiến hành từ 10 giờ đêm nay ”. Tôi lập tức lên đền Diên Cờ dự Lễ.
Đêm 14 tháng 7 trời cao xanh lồng lộng không một gợn mây, trăng sáng vằng vặc, gió nồm từ biển thổi vào dịu mát. Theo lối rẽ vào làng Đông Chử, từng tốp người từ các ngả đường kéo đến, trong đó có cả những cụ già và nhiều cháu nhỏ. Sân đền Diên Cờ rộng lớn , đô hội, rộn ràng âm thanh, chan hòa ánh sáng. Dưới ánh trăng vàng bát ngát và lung linh ánh điện, đền Diên Cờ lừng lững theo thế chữ TAM, với cả ba tòa Hạ điện, Trung điện và Thượng điện ngói đỏ tươi, kiểu dáng kiến trúc cổ kính, lộng lẫy, sơn son thếp vàng đẹp đẽ, tọa lạc trên một khuôn viên rộng mênh mông. Cảnh quan vừa đẹp vừa thâm nghiêm.
Đúng 10 giờ đêm, Lễ hô Thần nhập tượng bắt đầu. Pháp sư Phùng Bá Vinh - một Pháp sư có tên tuổi ở thành phố Vinh là người chủ trì buổi Lễ. Tham dự buổi Lễ có ông Nguyễn Đình Thống, Chủ tịch UBND xã Nghi Trường, đại diện một số ban ngành ở địa phương, cụ Nguyễn Đăng Cẩn cùng con trai là Nguyễn Đăng Ngọ… Hơn chục người chúng tôi được xếp ở hàng đầu, bắt đầu quỳ lạy chiêm bái trước bát hương rất lớn ở sân Hạ điện.
Tôi được biết, theo văn hóa tâm linh tín ngưỡng Phương Đông, môt bức tượng, một vật thể nếu được gọi đúng tên, đúng lúc thì sự linh thiêng sẽ ứng nghiệm. Sự ứng nghiệm không phải là ngẫu nhiên mà các bức tượng đó đã được các Pháp sư làm cho trở nên linh vật, huyền bí. Việc khai mở một vật từ vô tri trở nên linh thiêng, phải có những vị thầy biết được mật mã để khai mở. Thực chất của Lễ hô Thần nhập tượng là việc cung cấp cho vật thờ cúng một năng lượng ban đầu và sau này trong quá trình thờ cúng, năng lượng đó không ngừng tăng trưởng, khiến cho độ linh thiêng ngày càng cao. Hô Thần nhập tượng ( khai quang , điểm nhãn ) là tăng thêm linh khí cho pho tượng trước khi thờ cúng.
Khi mọi người yên vị, Pháp sư Phùng Bá Vinh đọc Thần chú, dùng Linh phù mượn Sắc lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế, làm Phép trấn Thần vào bát hương và các bức tượng mới được thỉnh về, tẩy các vong linh hỗn tạp tá túc. Sau đó, Pháp sư  dùng Thần chú để gia trì vào tượng, vào bát hương. Và cuối cùng dùng Sắc lệnh Ngọc Hoàng để hô Thần nhập tượng.
Lễ hô thần nhập tượng bắt đầu từ Hạ điện, qua Trung điện và cuối cùng là Thượng điện, kéo dài từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng. Mặc dù thời gian dài, thời tiết khí hậu nóng bức oi ả, lại cần phải có sự tập trung, nhưng trong suốt thời gian chiêm bái, tinh thần mọi người vẫn rất sảng khoái.
Trong thời khắc thiêng liêng, khói hương nghi ngút, không khí trang nghiêm, sự tập trung cao độ, giọng đọc Thần chú của Pháp sư nghe vang ấm, truyền cảm và đầy sự thần bí thuyết phục. Giữa những người cùng chiêm bái, lắng lòng trong khói hương, tôi như đang được đắm mình vào thế giới tâm linh, nghe như tiếng vọng xa xăm hồn cốt anh linh của các vị thần từ ngàn xưa đang hiện hữu với chúng sinh giữa cõi trần. Tôi như cảm thấy sự giao thoa, giao hòa lắng đọng dịu êm giữa: Người - Thần - Thiên nhiên.
Từ ngàn xưa qua, mọi thời đại, câu ca dao : “Thương dân, dân lập đền thờ…” là triết lý nhân sinh sâu sắc trong đời sống tâm linh của người Việt chúng ta. Thần được thờ ở đền Diên Cờ là Cao Sơn, Cao Các, Tam tòa Thánh Mẫu, các nhân thần có công với làng, với nước : Đỗ Văn Sỹ, Lê Văn Vận, Đinh Văn Sung và Lê Văn Tần. Sự tích của các vị thần được phụng thờ ở Đền đã được các tác giả giải thích trong cuốn sách này.
 Đức Thánh Trần và Thái sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí được phối tế ở Đền Diên Cờ. Quả thật, đây là sự lựa chọn vô cùng sáng suốt. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng bậc nhất của dân tộc, là danh tướng tiêu biểu nhất của lịch sử Việt Nam. Trần Hưng Đạo được nhân dân muôn đời phong Thánh và thờ phụng ở nhiều vùng trong cả nước để suy tôn và tri ân  công lao vĩ đại, tài năng và đức độ vô song của Ngài. Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí - vị tướng kiệt xuất trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh; đại thần suốt 4 triều Hậu Lê, người có công đầu phò lập vua  Lê Thánh Tông, một triều đại vẻ vang, hưng thịnh nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí được vinh danh là: “ Người hai lần khai quốc” theo câu đối của vua Lê Thánh Tông ban tặng: “ Bình Ngô khai quốc / Tịnh nạn trung hưng”. Quê hương Nguyễn Xí ở làng Thượng Xá ( nay là xã Nghi Hợp) cách làng Đồng Chử chừng 3 cây số theo đường chim bay. Đền thờ Nguyễn Xí là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia. Theo tộc phả Đại tôn Nguyễn Đình, vào năm 1445, Tướng quân Nguyễn Xí được vua Lê Thánh Tông giao cầm quân chinh phạt quân Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía Nam. Trên đường đi đã dừng quân tập kết ở làng Đông Chử. Hiện nay còn dấu tích hồ Bạch Tượng (ao voi nẹp). Tương truyền, tên Diên Cờ là nói lên một sự tích : Ở Diên ( giáp - đơn vị hành chính) này có cờ xí rợp trời của đại quân Nguyễn Xí khi dừng chân, luyện quân trước ngày ra trận.
Sự linh thiêng hội tụ hồn cốt anh linh của các vị thần được thờ phụng và kiến trúc hoành tráng nguy nga tráng lệ, đền Diên Cờ xứng đáng với danh hiệu được tôn vinh : Di tích Lịch sử Văn hóa. Trong niềm vui chung, chúng tôi tin tưởng và ước ao rằng: Cùng với thời gian, nơi đây là một địa chỉ tín ngưỡng tin cậy trong đời sống tinh thần của các tầng lớp nhân dân, là điểm đến trong các cuộc du lịch tâm linh của quí khách thập phương khi hành hương về Xứ Nghệ - một miền quê giàu truyền thống lịch sử văn hóa.
Xin được nhiệt liệt hoan nghênh gia đình cụ Nguyễn Đăng Cẩn, những người con của cụ, đứng đầu là Nguyễn Đăng Giáp chủ trì, cùng sự nhiệt thành của các nhà tài trợ, đã tái thiết phục dựng ngôi đền thiêng Diên Cờ. Đây là một công trình Lịch sử Văn hóa đồ sộ, có ý nghĩa tâm linh sâu sắc - là một món quà lớn của nhà đầu tư trao tặng quê hương xứ sở, cho ngày nay và cho hậu thế mai sau.

                                                        Mỹ Đình, Trung Thu năm Nhâm Thìn

                                                                                 NMĐ

       



Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

Mại dâm là một nghề?

Đỗ Du - Tô Hà - Bảo Trân/ Người lao động


Từ lâu, xã hội xem bán phấn, buôn hương là một nghề nhưng hành vi này bị luật pháp ngăn cấm; bị cấm nhưng mại dâm vẫn… tồn tại!

Dự án Luật Đầu tư (sửa đổi) vừa được cơ quan soạn thảo là Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách cho ý kiến. Đáng chú ý, “mại dâm” đã được dự luật xếp vào danh mục các ngành nghề bị cấm kinh doanh. Xung quanh vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng xã hội đã nhìn nhận đây là một nghề tồn tại trong đời sống thì có nên chấp nhận hoạt động này được công khai để quản lý tốt hơn?

Nên xếp vào loại kinh doanh có điều kiện

PGS-TS Trịnh Hòa Bình, Giám đốc Trung tâm Điều tra Dư luận xã hội - Viện Xã hội học, cho biết hiện nay có quan điểm kiên quyết tẩy trừ mại dâm, đặt mại dâm ra ngoài vòng pháp luật nhằm giữ gìn trật tự xã hội. Nếu xem mại dâm là một nghề ngay thời điểm này thì sẽ vấp phải sự phản đối hoặc “nhẹ nhàng” hơn là những ý kiến đòi hỏi phải có trường đào tạo, phải có nơi chăm sóc, bảo vệ… người hành nghề mại dâm. Tuy nhiên, cũng theo ông Bình, những ý kiến phản đối đã không tính đến thực tế đang tồn tại một thị trường tình dục. Đối tượng tham gia thị trường tình dục này có loại hình bán dâm. Mặt khác, bán dâm thường được nói là một nghề cổ xưa, tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử loài người dù ở bất cứ nơi nào, không phụ thuộc vào sự phát triển hay kém phát triển của xã hội. “Tạm thời, chúng ta chưa thể thừa nhận mại dâm là một nghề như ở Úc, Hà Lan, Đức… thì chúng ta có thể chọn cách quản lý mại dâm kiểu như Trung Quốc, Thái Lan là chấp nhận hoạt động này và quản lý rất chặt, làm cho mại dâm không phá hỏng nền tảng đạo đức xã hội, không đe dọa thể chất và tinh thần của xã hội, không làm lây lan, truyền dịch bệnh qua đường tình dục” - ông Bình nhấn mạnh.

Chuyên gia kinh tế - TS Lê Đăng Doanh cho rằng dự án Luật Đầu tư (sửa đổi) quy định “cấm kinh doanh mại dâm” thì mặc nhiên đã xem mại dâm là một nghề. “Và đã thừa nhận có nghề này trong xã hội rồi thì việc cấm có khả thi không? Có chắc là cấm được hoàn toàn không?” - TS Doanh đặt vấn đề. “Tôi cho rằng nên xếp mại dâm vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện khi mà chúng ta đã hợp pháp hóa casino, gá bạc. Còn thời điểm nào cho phép hoạt động công khai chỉ là vấn đề thời gian vì sự thật ngành nghề này, theo cơ quan chức năng, là có nhiều người tham gia cả bên “mua” và “bán”. Thậm chí, có không ít đối tượng trục lợi, làm giàu từ đó. Đáng ngại hơn là chừng nào chưa hợp pháp hóa thì những người hành nghề mại dâm còn không được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, dẫn đến nguy hại cho xã hội” - ông Doanh nói thêm.

Làm luật cần tính “đường dài”

TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương (CIEM), cho biết việc dự án Luật Đầu tư (sửa đổi) đưa mại dâm vào trong danh mục 11 ngành nghề cấm kinh doanh không có nghĩa là thừa nhận kinh doanh mại dâm như một nghề. “Pháp luật Việt Nam chưa bao giờ coi mại dâm là một ngành nghề và vẫn cấm kinh doanh mại dâm ở nhiều luật khác. Trước đây, Luật Doanh nghiệp cấm kinh doanh mại dâm, nay chuyển vào Luật Đầu tư cho hợp lý hơn” - ông Cung nói.

TS Trần Thế Quân, Cục phó Cục Pháp chế và Cải cách hành chính tư pháp - Bộ Công an, cũng cho rằng đây là chuyện “câu chữ”. “Chuyện này tương tự tội danh “đánh bạc trái phép” được quy định trong Bộ Luật Hình sự, tới đây sẽ phải thay đổi nếu chúng ta cho phép người Việt chơi casino. Mại dâm bị cấm nhưng quy định trong luật nào cho phù hợp thì phải bàn” - ông Quân nói.

Trong khi đó, ông Trần Ngọc Vinh, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng, cho biết trong phiên thảo luận vừa qua về dự án Luật Đầu tư (sửa đổi), cá nhân ông cũng đã bày tỏ băn khoăn về điều này. “Nếu đưa vào Luật Đầu tư (sửa đổi) sẽ dễ dẫn tới cách hiểu đây là lần đầu tiên nhà nước coi mại dâm là một nghề. Trong khi đó, định nghĩa về nghề phải khác, tức là phải có đầu tư, kinh doanh, sản xuất chứ không thể có khái niệm kinh doanh, sản xuất xác thịt được. Mại dâm thì nằm trong số các tệ nạn xã hội và đã có quy định ở những chỗ khác như Pháp lệnh Phòng chống mại dâm, Bộ Luật Hình sự rồi cơ mà! Luật Đầu tư chỉ điều chỉnh quan hệ về kinh doanh, sản xuất thôi” - ông Vinh nói.

TS Lê Đăng Doanh nói việc đưa mại dâm vào ngành nghề cấm kinh doanh trong dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) có thể được hiểu là Quốc hội đã tính tới chuyện sắp đến Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn, có thể có bước phát triển mới nên “lo xa” và đưa vào quy định trong luật. 

Không cấm tiệt được thì phải quản

Theo PGS-TS Trịnh Hòa Bình, nhà nước và xã hội cần nhìn nhận mại dâm là một thành tố tất yếu của du lịch xanh mặc dù không một quốc gia văn minh nào trên thế giới lại không tuyên bố tẩy trừ “sex tour”, không chủ trương kiếm lợi trên hoạt động này nhưng vẫn xem đây là một nguồn lợi. “Không có cơ sở “tiêu diệt” được mại dâm thì hãy nên quản lý nó” - ông Bình nêu ý kiến.



Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

Nhận biết bố cục hung sát để tránh

 khi mua hoặc xây nhà

Với quan niệm phong thủy hình thế, có một số bố cục phong thủy nhà ảnh hưởng bất lợi về sức khỏe, công việc và tài lộc của người ở, do vậy, trước khi mua (thuê) bạn nên cân nhắc thêm.
Khi mua nhà đa số chúng ta, ai cũng có một số tiêu chí riêng để lựa chọn, ngoài tiêu chí giá cả, thuận lợi đi lại, vị trí,... các bạn nên xem phong thủy, vì phong thủy là kiến thức lựa chọn nơi ở được vẫn có nguyên giá trị.
Với quan niệm phong thủy hình thế, có một số bố cục phong thủy nhà ảnh hưởng bất lợi về sức khỏe, công việc và tài lộc của người ở, do vậy, trước khi mua (thuê) bạn nên cân nhắc thêm.
Phong thủy thực nghiệm lưu ý với bạn những cách cục sau:
1. Phong thủy nhà ở nếu gần tòa nhà cao tầng rất dễ bị áp chế, bởi vì nó sẽ che chắn dương khí, âm dễ xuất hiện; Riêng nhà cao tầng ở phía sau lưng thì lại là cách cục tốt. 
2. Phong thủy nhà ở tránh gần đền, chùa, miếu mạo, nơi đặt bình đựng di cốt, nghĩa trang, lăng mộ, bệnh viện, nhà giam, vì  những nơi này âm khí quá vượng, không tốt cho sức khoẻ, dễ bệnh tâm thần.
3. Không nên bố cục nhà có hình chữ “T” vì theo các nhà phong thủy, kiểu nhà này không thể tàng phong tụ khí, chủ dễ bị bần hàn.
4. Nhà có khoảng trống phía trước (gọi là Minh Đường) nhỏ hẹp, như một đường kẻ vạch. Theo phong thủy hình thế “đường kẻ” này tạo ra luồng khí sát, không thể tụ khí, nếu nhà có minh đường rộng lớn, gia đình phúc lộc đầy đủ. 
5. Không nên bố cục nhà có phòng khách chật hẹp vì phòng khách kiểu này không tụ tài, vì phòng khách đại diện cho tài lộc, sinh khí của gia đình.
6. Nếu gia đình người ít thì không nên mua nhà quá to. Các nhà phong thủy cho rằng, nhà to ít người được gọi là trạch khắc nhân, còn gọi là “hư”, ở lâu sẽ không tốt, lạnh lẽo, cô quạnh.
7. Nhà khuyết góc tây nam, góc tây bắc. Kiểu nhà này không tốt cho người Mẹ và người Cha. Trên Cửu cung thì tây bắc là Càn cung, tây nam là Khôn cung ( đại diện cho Cha, Mẹ), xét từ góc độ phong thủy cần phải vuông vứt thì khuyết góc là không tốt.
8. Nếu gia đình có con nhỏ thì không mua nhà có khu vệ sinh ở hướng chính đông. Với  phong thủy, kiểu bố trí nội thất như vậy sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất - tinh thần và tương lai của con trẻ.
9. Bố cục phong thủy nhà ở không nên có khu vệ sinh, nhà bếp ở góc tây bắc. Kiểu nhà này được cho là chủ về hung, người ở dễ gặp những chuyện không tốt lành.
Theo Nhà phong thủy Qúy Hải (Nguồn Phong thủy huyền không) 

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

                       Nông dân

                                                 Thơ  Nguyễn Sĩ Đại
Có người nói nông dân không tư tưởng
Nông dân làm cản trở bánh xe lăn
Tôi đã thấy nông dân suốt một đời làm lụng
Nuôi cái ăn chung trên mảnh đất khô cằn.
Tôi đã thấy trên chiến trường ngã xuống
Những nông dân áo lính, máu tươi ròng
Chết tưới đất, sống ngày cày xới đất
Không bổng lộc nào theo đến luỹ tre xanh.
Tôi đã thấy những xiềng xích phong kiến
Cái trói tay của công hữu màu mè
Mấy chục năm kéo người xa ruộng đất
Mấy chục năm ròng cái đói vẫn ghê ghê. 
Nghèo chữ quá nên trọng người hay chữ
Bóp bụng nuôi con thành ông trạng , ông nghè
Sáu mươi tuổi, mẹ còn cấy hái
Ông trạng áo dài, ông trạng sống li quê!
Dẫu năm khó, không quên ngày giỗ chạp
Nhớ người xưa, con cháu quây quần
Vâng, có thể nông dân nhiều hủ tục
Nhưng không yêu được họ hàng, yêu chi nổi nhân dân!
Tôi đã thấy tằng Bờm và mẹ Đốp
Còn sống chung với Bá Kiến, Chí Phèo
Con gà mất, chửi ba ngày quyết liệt
Con gái gả chồng, cả xóm có trầu vui.
Tôi đã thấy đổ mồ hôi, sôi nước mắt
Từ hạt lúa gieo mầm đến cấy hái phơi phong
Dăm bảy tạ vài trăm nghìn một vụ
Bữa tiệc xoàng của mấy “sếp” là xong!
Có miếng ngon, nông dân dành đãi khách
Thờ Phật, thờ Tiên, thờ cả rắn, cả rồng
Cả tin quá, tin cả dì ghẻ ác
Sống chết mấy lần, nợ quyết trả bằng xong!
Nông dân sống lặng thầm như đất
Có thể hoang vu, có thể mùa màng
Xin chớ mất, chớ niềm tin sai lạc
Chín phần mười đất nước – nông dân!

Giáo sư Hồ Ngọc Đại:


Đừng đổi mới giáo dục 

bằng xào xáo cái cũ


Đừng đổi mới giáo dục bằng xào xáo cái cũ
GS Hồ Ngọc Đại cho rằng: “Cần có một nền giáo dục mới. Một nền giáo dục buộc phải mới tận nguyên lý của nó. Một nền giáo dục tất yếu phải trở thành sự cứu nguy cho dân tộc, nơi trẻ em là những “Anh hùng thời đại”. Và một nền giáo dục không bị thần bí hóa bằng lời hô hào "sáng tạo" suông, mà là một nền giáo dục công nghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà khoa học tạo ra bằng thực nghiệm”. Chuẩn bị bước vào một năm học mới, PV đã có cuộc đối thoại với GS Hồ Ngọc Đại.
'Nếu nền giáo dục làm đúng thì 15 năm sau chúng ta có một dân tộc khác'
Năm nay đã gần 80 tuổi, có thể nói ông đã dành tâm huyết cả đời mình cho ngành giáo dục. Có những công trình ông viết từ gần 40 năm trước giờ mới được công nhận, đưa vào giảng dạy. Vậy trong con mắt của ông, nền giáo dục của chúng ta đứng ở đâu so với thế giới?
- Nếu so với thế giới, nền giáo dục của chúng ta quá lạc hậu. Tôi có thể nói thế này: Vào thời điểm này từ cuộc sống, tất cả các ngành, các nghề của con người và xã hội đã biến đổi rất lớn so với cách đây 15-20 năm, nhưng nghiệp vụ sư phạm của chúng ta thì từ nửa thế kỷ nay không thay đổi gì cả. Thậm chí còn tệ hại hơn trước vì trước là thầy giảng, trò ghi nhớ nhưng bây giờ là thầy đọc, trò chép.
Bộ GDĐT đã nhận thức được điều đó nên trong những năm gần đây đã đưa ra hàng loạt phương án đổi mới giáo dục như 10+2 hoặc 9+3, hoặc các phương án đổi mới SGK, đổi mới kỳ thi... đó cũng là cách đổi mới đấy chứ?
- Với lực lượng hiện nay tôi không tin là làm được bởi bản chất vẫn là xào xáo cái hiện có. Người ta thay ngôn từ này bằng ngôn từ khác cho khéo léo hơn, lọt tai hơn nhưng bản chất không thay đổi gì vì tư duy và trình độ không có gì thay đổi giống như cái cày chìa vôi thì dù cải tiến bằng trời nó vẫn là cái cày chìa vôi. Cuộc đời tồn tại bằng sự vật vì vậy muốn cải tiến thì hãy cải tiến từ sự vật, từ cuộc sống chứ không phải bằng ngôn từ.
Vậy theo GS, việc đổi mới phải từ đâu?
- Muốn đổi mới thì phải nhìn nhận lại tư duy triết học về giáo dục bởi tư duy hiện nay về giáo dục là tư duy triết học học trò, triết học thi cử, triết học sách giáo khoa mà đáng lẽ ra phải có cái nhìn triết học bác học. Vấn đề nữa là tâm lý học giáo dục rồi mới đến khoa học chuyên ngành.
Vấn đề triết học bác học về giáo dục là gì ạ?
- Đó là anh phải nhìn nhận đối tượng giáo dục mà bắt đầu từ trẻ em là cái gì? Quan điểm của tôi  về trẻ em thế này:“Trẻ em là mỗi người tự sinh ra nó” bố mẹ sinh ra con là cho nó cái hình hài vật chất, còn quá trình lớn lên là nó tự sinh ra nó. Vì vậy vai trò của giáo dục ở đây là định hướng để họ phát triển và làm cho người nào trở thành chính con người ấy, chứ không phải trở thành người khác.
Vậy có nghĩa là quá trình giáo dục là quá trình hướng cho đứa trẻ tự hoàn thiện mình?
- Đúng vậy. Chúng ta phải giáo dục sao cho trẻ em tiếp thu được nền văn minh xã hội, phải tổ chức để người học tiếp nhận được điều đó. Tôi vẫn muốn nhấn mạnh về việc ưu tiên giáo dục mầm non bởi đây là giai đoạn hình thành nhân cách của trẻ. Ưu tiên trẻ con là ưu tiên dân tộc, vì tương lai dân tộc. Nếu nền giáo dục này mà lành mạnh và làm đúng thì tôi tin 10-15 năm nữa chúng ta sẽ có một dân tộc khác. Phương pháp của tôi là dạy cho trẻ tự làm lấy hết mọi việc, khi con trẻ  biết tự làm lấy mọi việc thì sẽ tự tin. Khi đã tự tin thì sẽ tự trọng. Nếu một đất nước mà công dân đất nước đó ai cũng tự tin và tự trọng thì đất nước đó vĩ đại lắm. Muốn như thế thì phải đổi mới căn bản trong giáo dục. Nếu làm được thì  10-15 năm nữa chúng ta có một dân tộc khác, một dân tộc đầy tự tin và tự trọng.
Nền giáo dục toàn lý thuyết như  vậy có phải là nguyên nhân để đất nước ta có một số lượng tiến sĩ, cử nhân vô cùng lớn, nhưng những công trình nghiên cứu của những tiến sĩ này đều không thể đưa vào áp dụng trong thực tế, cử nhân thì không biết làm việc ?
- Đúng là nền giáo dục của chúng ta đã đẻ ra một hệ thống tiến sĩ “từ chữ sang chữ, từ sách sang sách”. Cái gọi là công trình khoa học của tiến sĩ ấy là chép từ sách này sang sách khác, hoàn toàn là những bản photocopy lẫn nhau. Đây là trò chơi chữ nghĩa, trò chơi trong phòng thi, trò chơi trong phòng kín giữa những nhóm người với nhau  chứ không phải từ cuộc đời mà ra. Cử nhân cũng vậy, ra trường không biết làm việc không biết một nghề gì cụ thể. Tôi cho rằng nếu muốn cải cách giáo dục hiệu quả thì việc cải cách đó phải từ cuộc đời mà ra.
Xin trân trọng cảm ơn GS!
Chí Tùng thực hiện (Theo Lao Động)

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

Khoan dung - động lực để chấn hưng đất nước


Công cuộc chấn hưng đất nước không thể tách rời triết lí khoan dung. Có thể nói rằng, đất nước đang cần sự khoan dung hơn bao giờ hết.
1.Nếu phải chỉ ra một đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam, tôi sẽ lựa chọn tính đa dạng (diversity). Có thể bạn sẽ nghĩ khác, nhưng tôi có lí do riêng: Kỳ thực, dân tộc Việt Nam được cấu thành trên sự đa dạng. Nếu thử quan sát đất nước mình, từ mọi góc nhìn, chúng ta đều thấy toát lên vẻ đa dạng, như nguồn gốc, thành phần tộc người, địa lí, sinh thái, khí hậu, ngôn ngữ và văn hóa ... Vì thế, tính đa dạng không chỉ là đặc điểm nổi bật, mà còn là đặc tính tự nhiên của dân tộc ta.
Đặc tính này đòi hỏi một triết lí phát triển phù hợp, đảm bảo tính thống nhất về lãnh thổ và lí tưởng chính trị mà không làm phương hại tính đa dạng về tự nhiên và văn hóa. Câu hỏi được đặt ra, triết lí ấy là gì vậy? Lịch sử Việt Nam để lại một gợi ý, cũng là một bài học sâu sắc và thiết thực, những nhà nước thành công nhất đều mang gương mặt khoan dung (tolerance).
Khoan dung là giá trị nền tảng của kỉ nguyên Lý – Trần rực rỡ. Khoan dung cũng là giá trị động lực làm nên sự nghiệp mở nước vẻ vang của các chúa Nguyễn ở phương Nam .
2. Có lẽ, cần nhắc lại đôi điều về đường lối trị nước của các vị vua anh minh triều Trần. Từ kho tàng trí tuệ bao la của Phật giáo, triều Trần đã tiếp nhận, chọn lọc và xây dựng nên một đường lối quản trị đậm đà khoan dung. Từ lúc còn rất trẻ, vua Trần Thái Tông – người khai sáng triều Trần đã khảng khái tuyên bố: “Ta xem ngai vàng như chiếc giày rách, bỏ đi lúc nào cũng được”.
khoan dung, động lực, đất nước, chấn hưng, Hoàng Giang, phát triển, tính đa dạng
Ảnh: Lê Anh Dũng
Câu nói này, cùng với thái độ ứng xử của một số vua Trần sau đó đã bộc lộ một nhận thức sâu sắc về bản chất của quyền lực, xét đến cùng, quyền lực chỉ là phương tiện để người đứng đầu đất nước thực hiện lí tưởng quốc thái, dân an.
Vì thế, thay vì chìm đắm, “mắc kẹt” trong quyền lực, ông vua cần tùy cơ mà quyết định sử dụng hay buông bỏ nó. Bấy giờ, trong tinh thần khoan dung, Phật giáo tuy được xem là quốc giáo nhưng cùng cộng sinh bình đẳng với Nho giáo và Lão giáo. Nhà Trần đãi ngộ nhân tài và sĩ phu rất kính cẩn, cho nên người giỏi xuất hiện khắp nơi và đều tụ về triều đình.
Nhận xét về giới sĩ phu đời Trần, trong Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quý Ðôn đã viết: "Bởi vì nhà Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, không hẹp hòi, hòa vị mà có lễ phép, cho nên nhân sĩ thời ấy ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn vĩ vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với Trời Ðất, há phải đời sau kịp được đâu" ...
3. Ngày nay, khoan dung là một vấn đề mang tính thời sự toàn cầu. Nó được đặt ra trong bối cảnh tính đa dạng ở từng quốc gia và trên toàn thế giới đang bị xâm hại nghiêm trọng bởi các quan điểm chính trị, tôn giáo cực đoan, hẹp hòi. Thực tế cho thấy, việc mù quáng từ chối hay triệt tiêu tính đa dạng chỉ càng làm cho các xã hội trở nên đơn điệu hơn, cạn kiệt hơn, bất ổn hơn và bần cùng hơn.
Bởi vậy, vì  hòa bình, hạnh phúc và tự do của con người, khoan dung trở thành một cam kết quốc tế. Ngày 16-11-1995, tại hội nghị toàn thể lần thứ 28, UNESCO đã khởi xướng Ngày Khoan dung Quốc tế với chữ ký đồng thuận của 185 nước thành viên. Hội nghị cũng thông qua bản Tuyên bố về các nguyên tắc khoan dung.
Trong bản Tuyên bố, khoan dung được định nghĩa là “tôn trọng, chấp nhận và cảm thông đối với tính đa dạng của các nền văn hóa trên thế giới, các hình thức biểu hiện và các cách thức tồn tại của con người. Lòng khoan dung được nuôi dưỡng bởi kiến thức, sự cởi mở, sự giao tiếp, sự tự do tư tưởng, khả năng nhận thức và đức tin. Khoan dung là hài hòa trong khác biệt. Khoan dung vừa là một bổn phận đạo đức, vừa là một đòi hỏi pháp lý và chính trị” .
Rõ ràng, định nghĩa của UNESCO hàm chứa một ý niệm mới mẻ về lòng khoan dung. Theo UNESCO, khoan dung không chỉ là một lối hành xử có văn hóa giữa các cá nhân trong một cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Quan trọng hơn, khoan dung còn là một nghĩa vụ chính trị mà tất cả các nhà nước đều phải có trách nhiệm thực hiện.
Từ góc độ nhà nước, khoan dung có nghĩa là xây dựng một không gian pháp lý dân chủ và nghiêm cẩn, công khai và minh bạch nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể khác nhau cùng bình đẳng tham gia vào quá trình kiến tạo xã hội, cùng tiếp cận các cơ hội phát triển và cùng thụ hưởng các giá trị văn hóa. Trong môi trường chính trị khoan dung, mọi người dân đều được công khai, bình đẳng bày tỏ ý kiến của mình về các sự vụ công cộng của xã hội.
Ở đó, không một quyết định lớn nào được đưa ra mà không trải qua một quá trình tham vấn, đối thoại giữa nhà nước với người dân nhằm lựa chọn các phương án chính sách khả thi nhất. Nhờ vậy, con người có điều kiện vượt ra khỏi kiếp sống luẩn quẩn với những nhu cầu, những mối bận tâm vụn vặt, tầm thường để tồn tại trong tâm thế năng động, tự chủ của một người công dân hiện đại.
4. Sau gần 30 năm Đổi mới đất nước, Việt Nam đã giành được một số thành tựu trong phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Nhưng Việt Nam vẫn đang thiếu rất nhiều điều kiện để trở thành một quốc gia phồn thịnh, văn minh. Trong bối cảnh hiện tại, công cuộc chấn hưng đất nước không thể tách rời triết lí khoan dung. Có thể nói rằng, đất nước đang cần sự khoan dung hơn bao giờ hết.
Chỉ trong tinh thần khoan dung, chúng ta mới có thể khơi dậy, phát triển, chuyển hóa tính đa dạng của thực tế xã hội thành các nguồn lực dồi dào cho đất nước. Chỉ trong tinh thần khoan dung, chúng ta mới có thể hình thành một khuôn mẫu ứng xử mới mẻ, văn minh: Không lựa chọn ứng xử thô bạo, mà lựa chọn phương thức đối thoại bình đẳng, cởi mở để giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Lịch sử Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới đương đại càng chứng tỏ rằng, lựa chọn triết lí khoan dung là lựa chọn cấp bách và tất yếu của dân tộc Việt Nam trong hiện tại và tương lai.
Hoàng Giang

Câu chuyện bóng đá và cải cách giáo dục

                                                                                                           
Chỉ khi dịch chuyển từ giáo viên làm chủ thể sang học sinh làm chủ thể thì mới nói đến học sinh tự thể hiện được - (Ảnh: Nguồn internet)
Chỉ khi dịch chuyển từ giáo viên làm chủ thể sang học sinh làm chủ thể thì mới nói đến học sinh tự thể hiện được - (Ảnh: Nguồn internet)

5.9 ngày khai trường và cũng là ngày khai tranh giải U19 Đông Nam Á. Hai sự kiện trùng một ngày nhưng tâm trạng hoàn toàn trái ngược. “Say và sốt với U19 Việt nam” với bóng đá bao nhiêu thì lo âu sầu não với giáo dục Việt nam bấy nhiêu. Trùng lặp về thời gian, đối ngịch về tâm trạng, một bên là ma lực, một bên là cực hình!
Có một sự tương đồng giữa giáo dục và bóng đá. Với giáo dục là giáo viên và học sinh, với bóng đá là huấn luyện viên và cầu thủ. Vậy đâu là sự khác biệt để bóng đá tạo ra ma lực? Đâu là nguyên nhân để giáo dục mãi vẫn là… cực hình?
Khác biệt cơ bản nhất: với bóng đá thì cầu thủ là chủ thể, chủ động được chơi, được thể hiện, huấn luyện viên chỉ là người hỗ trợ, tư vấn để các cầu thủ thể hiện tài năng bản sắc. Với giáo dục thì giáo viên là chủ thể thể hiện và áp đặt, học sinh là đối tượng bị áp đặt, bị nhồi nhét kiến thức. Hơn thế nữa, mọi đối tượng trong lớp học bị áp đặt và nhồi nhét cùng một kiểu như nhau. Ở sân bóng thì cầu thủ càng nhiệt tình thể hiện thì càng được hoan hô cổ vũ, cầu thủ nào kém thể hiện thì bị loại ra khỏi sân và thay bằng người khác. Ở lớp học thì ngược lại, càng ngồi im, càng co rúm thì càng được khen, thể hiện thì dễ bị phiền toái.

Chỉ có dịch chuyển chủ thể mới có thể cải cách giáo dục một cách triệt để
Với bóng đá, khi các cầu thủ nhiệt huyết đam mê thể hiện, huấn luyện viên điềm tĩnh quan sát chỉ thỉnh thoảng chỉ đạo trợ lý nhắc nhở thì đấy là một trận đấu tuyệt hảo. Còn khi các cầu thủ uể oải, huấn luyện viên nhảy dựng la hét thì chắc chắn đấy là một thảm hại. Lớp học thì ngược lại. Khi học sinh co rúm sợ sệt nghe giáo viên la hét thì được gọi là ngoan ngoãn. Lớp nào mà có các hoạt động sôi nổi liền bị nhà trường nhắc nhở bớt ồn ào.
Chúng ta đã tốn quá nhiều bút giấy và thời gian để bàn về cải cách giáo dục. Nào là cải cách sách giáo khoa với kinh phí hàng chục nghìn tỷ đồng; nào là thay đổi phương pháp giảng dạy từ “đọc chép” sang “chiếu chép” qua máy tính và màn hình hiện đại… Dù cải cách kiểu gì gì đi nữa thì đấy vẫn là cái ngọn của cải cách.
Chúng ta cùng nhìn lại tháp nhu cầu Maslow để hiểu thêm về giáo dục. Theo Maslow nhu cầu con người gồm 5 bậc từ thấp đến cao: 1. Sinh lý, 2. An toàn, 3. Quan hệ xã hội, 4. Được công nhận, 5. Tự thể hiện. Rõ ràng nhu cầu cao nhất của con người là tự thể hiện. Thế mà giáo dục hiện tại lại chỉ chú trọng vào bậc 1 và bậc 2, nặng về nhồi nhét và an toàn tuyệt đối (ngồi im không ngọ nguậy, không phát biểu, không đặt câu hỏi).

Tháp nhu cầu Maslow - (Nguồn internet)
Bóng đá thì hoàn toàn ngược lại. Các cầu thủ được khuyến khích thể hiện bản sắc riêng biệt (bậc 5) và luôn được tôn vinh (bậc 4) bất cứ khi nào thể hiện xuất sắc. Và một điều tất nhiên là các cầu thủ phải chấp nhận rủi ro. Việc đầu tiên của các cầu thủ là phải mua bảo hiểm chấn thương. Muốn được ban thưởng phải chấp nhận tổn thương.
Bàn về cải cách giáo dục là cả một bài toán lớn. Muốn giải được bài toán lớn thì điều đầu tiên phải đi đúng hướng đi vào cái cốt lõi. Cái cốt lõi nhất là dịch chuyển chủ thể. “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”, người thọ 70 xưa nay hiếm. 1/3 đời người, 1/3 đẹp nhất chúng ta sống trong nhà trường. Làm thế nào để biến nhà trường thành một nơi đáng sống, một nơi con người được khuyến khích để thể hiện hàng ngày chứ không phải một nơi đáng sợ, một nơi thụ động bị nhồi nhét để sau này ra đời thể hiện.
Rõ ràng khi và chỉ khi dịch chuyển từ giáo viên làm chủ thể sang học sinh làm chủ thể thì mới nói đến học sinh tự thể hiện được, mới nói đến nhu cầu bậc cao của con người được. Khi học sinh là chủ thể thì đối tượng là phương pháp tự học. Giáo viên (teacher) phải dịch chuyển sang vai trò là huấn luyện viên (coach), tư vấn viên (consultant) và người hỗ trợ (facilitator) để học sinh tự chơi và thể hiện bản sắc riêng biệt một cách xuất sắc như các cầu thủ bóng đá. Khi chúng ta dịch chuyển giáo dục sang học sinh là chủ thể thì mỗi ngày khai trường là một ngày hội đầy háo hức say mê.