Menu ngang

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012


LẦN ĐẦU TIÊN TÔI BIẾT HỒ CHÍ MINH LÀ NGUYỄN ÁI QUỐC

                                                               Tác giả  Đặng Thọ Truật

            Giáo sư Trần Văn Giàu, Anh hùng Lao động, vào Đảng Cộng sản Pháp năm 1929, trở về nước hoạt động và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1933, tốt nghiệp Đại học Phương Đông ở Liên Xô. Năm 1941, vượt ngục Tà Lài cùng với các bác Dương Quang Đông, Tô Ký ... vận động khôi phục và trở thành Bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ. Ngày 25-8-1945, Giáo sư Trần Văn Giàu và Xứ ủy đã lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền từ tay Phát xít Nhật. Giáo sư Trần Văn Giàu được Xứ ủy cử làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Nam Bộ. Ngày 2-9-1945, trong lễ mít tinh để nghe Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, nhưng do trục trặc kỹ thuật, để ổn định tình hình, bác Trần Văn Giàu đã nói vo gần 1 giờ đồng hồ. Sau khi nghe Giáo sư diễn thuyết, hàng vạn người tham dự mít tinh đã hô to “ủng hộ Việt Minh, ủng hộ chính phủ Trần Văn Giàu”.

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

             TRINH SÁT ĐỒN ĐỊCH, KỶ NIỆM KHÓ QUÊN



Cuối buổi chiều ngày 4/6/1969, tại một khu rừng già phía tây tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế hơn 70 cây số, có điện của Ban Tham mưu Trung đoàn: Anh Nguyễn Duy Hào Đại đội trưởng và tôi lên Chỉ huy sở Trung đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu. Hồi đó, tôi đang là Chính trị viên phó thay thế anh Trương Văn Dung  Chính trị viên bị ốm. Ăn vội mấy bánh lương khô 702, anh Hào và tôi cùng hai cậu liên lạc cuốc bộ lên Trung đoàn cách chừng 5 cây số đường rừng.
 Đúng 7 giờ tối, chúng tôi có mặt. Các anh: Ma Vĩnh Lan Trung đoàn trưởng, Kiều Tam Nguyên Chính ủy Trung đoàn và thủ trưởng các cơ quan đã ngồi sẵn quanh sa bàn trong hầm Chỉ huy sở. Thắp sáng toàn bộ căn hầm bằng một cái đèn bão. Đây là một căn hầm do Đại đội Công binh của Trung đoàn xây dựng ở sườn núi. Hầm có chiều dài khoảng 6 mét, chiều rộng khoảng 3 mét, sâu gần 3 mét, phía trên lát các thân cây gỗ khá to được cắt ra, trên cùng lấp một lớp đất dày hơn 1 mét. Loại hầm này có thể chống được đạn pháo, nhưng không tránh được bom. Do đó, xung quanh hầm được nối râu tôm các giao thông hào đến các hầm chữ A (còn gọi là hầm kèo, hoặc hầm Triều Tiên) để phân tán ẩn nấp trong trường hợp bị máy bay địch oanh kích. Hầm Chỉ huy sở của Trung đoàn được sử dụng trong suốt Chiến dịch A Bia - hè 1969. Tôi đã được dự nhiều cuộc họp bàn tác chiến tại căn hầm này.

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012




                NƯỚC MẮT MẸ TÔI 

                                                         Hồ Sĩ Hậu ( Văn nghệ )

         Làng Quỳnh Đôi của tôi nghèo lắm. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu nổi vì sao quê tôi nghèo đến vậy. Cả làng chỉ có vài nóc nhà ngói của mấy gia đình có người đỗ đại khoa, còn lại là những túp nhà tranh vách đất xiêu vẹo. Chẳng mấy gia đình được ăn cơm đều đặn. Bữa ăn của hầu hết mọi nhà là khoai lát khô cõng vài hạt gạo. Nhà nào nghèo thì phải cách mấy ngày mới có bữa ăn như vậy. Nhà tôi lúc đó chắc không phải nghèo nhất làng, vậy mà vẫn thường đứt bữa. Những hôm như thế, hai anh em tôi lại kiếm rau sam, rau mực luộc ăn trừ bữa. Cha đi kháng chiến, mẹ tần tảo nuôi hai anh em chúng tôi bằng đôi quang gánh, đầu này là một thùng nước mắm, đầu kia là mấy lít dầu. Dân làng nghèo nên mỗi lần chỉ dám mua một "cút" (0,25 lít), lại thường mua chịu. Bởi vậy kiếm được đồng tiền để sống qua ngày là khó khăn lắm.

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012


Truyện ngắn                NGÀY GẶP GỠ



              Bao giờ cũng vậy, hễ về nhà là Hải giành làm mọi việc trong gia đình. Thương vợ vất vả, đã nhiều lần Hải gợi ý với Hà:
- Em ốm đau vậy, anh thì cứ phải mải miết lo việc Công ty, chẳng giúp được gì. Thôi thì, chúng mình chịu khó dè sẻn một chút, thuê một người Ô- sin, vừa đỡ đần em, vừa cho vui cửa vui nhà.
Hà do dự:
           - Không được đâu anh! Em gắng một chút là ổn thôi mà. Thuê Ô- sin đỡ được mấy việc lặt vặt trong nhà, nhưng dễ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp lắm. Anh chưa biết thôi. Nhiều gia đình tan cửa nát nhà chỉ vì thuê Ô-sin đấy!
           Nhưng rồi, bệnh khớp của Hà ngày càng nặng hơn. Việc nhà bê trễ. Cuối cùng, đắn đo mãi, Hà cũng đành phải đồng ý tìm thuê Ô- sin.

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Bạn đọc viết

                               NGUYỄN MẠNH ĐẨU 
       VÀ "NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THỜI GIAN"

                                                             Tác giả  Phương Hà
                                      (Bài đăng ở Văn hóa Nghệ An, số 215, ngày 25/2/2012)


Tôi đọc hồi ký “Những nẻo đường thời gian’’ của Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu khi chưa hề biết ông. Nhưng với gần 500 trang viết của tập hồi ký đã có thể nói là tôi đã hiểu ông khá nhiều, như những người thân quen.

Nước ta trong giai đoạn gần đây, xuất hiện khá nhiều hồi ký mà đa phần là của các tướng lĩnh quân đội phản ánh sâu đậm một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Trong các tập hồi ký đó, lần lượt các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và kế đó là cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam được tái hiện,  nhưng cuộc chiến tranh biên giới Phía Bắc mùa xuân năm 1979 và bảo vệ chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Tổ quốc vẫn đang ít được nói đến trong hồi ký của các tướng lĩnh.

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Tập thơ                            MỘT  CHỮ  TÌNH

                       NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2006


                                              LỜI  BẠT 
 
                                                                    Tiến sĩ văn học Mai Hồng Hải
     
      "Một chữ tình" đó là tựa đề của tập thơ. Giản dị vậy thôi mà hàm chứa bao tầng ý nghĩa thiết tha, sâu lắng. Người ta thường tìm đến thơ để tự hát, để giải bày những thăng hoa, những thẳm sâu của cõi lòng. Còn Nguyễn Mạnh Đẩu đến với thơ là đến với sự đồng vọng của tâm hồn. "Một chữ tình" trong thơ Anh là sự đa cảm của tâm hồn thi nhân giao hòa với cảnh vật, là tình yêu chân thành sâu sắc tới mức cảm động của một đồng đội đối với những đồng đội của mình, là tình yêu quê hương, đất nước. Và, có lẽ ấn tượng sâu đậm nhất mà tập thơ để lại trong lòng người đọc là sự thi vị của một tình yêu đôi lứa nồng nàn, chân thành mà mãnh liệt, đắm say.

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

 Truyện ngắn                     ĐỒNG  ĐỘI CŨ


Kỳ lương tháng còm cõi không đủ lấp kín những nhu cầu tối thiểu trong sinh hoạt của gia đình. Mới nhận lương được mấy ngày, đã nhẵn túi. Bao nhiêu thứ cần trang trải. Đắn đo cân nhắc mãi, sau khi bàn với vợ là Lê, Quang đành phải quyết định xách chiếc xe đạp Phượng Hoàng cũ - vật đáng giá nhất còn lại trong nhà - ra Chợ Trời để bán. Thôi thì, trong lúc túng thiếu, bán đi mua chiếc xe khác kém hơn, đi tạm, bớt được ít tiền, giật gấu vá vai, chống đỡ qua ngày. 
          Hôm đó là Chủ nhật, Long - em ruột Quang, đang học ở một Trường Công nhân Kỹ thuật ở tận Phú Thọ cách hơn trăm cây số, về chơi. Thế là, từ sáng sớm, ăn vội bát mì sợi "không người lái", uống mấy ngụm nước lọc, hai em em đèo nhau lên Chợ Trời.

Có người nói, muốn biết trình độ văn minh, điều kiện kinh tế, chất lượng cuộc sống của một vùng quê trong một thời kỳ cụ thể, thì tốt nhất là đến quan sát hai nơi: Chợ và nghĩa trang. Điều đó không bao giờ sai.
            Chợ Trời - đúng như tên gọi của nó - họp ngoài trời, suốt ngày người tấp nập trên mấy dãy phố, buôn bán thượng vàng hạ cám, đủ loại.

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012

               THỜI GIAN

                              Tác giả Phạm Quốc Ca

Trước bàn viết tôi một khung cửa sổ

Khoảng trời xanh trắng muốt mây bay

Ngày tươi trẻ

Ngỡ cuộc đời vĩnh viễn

Chợt nao lòng: sợi tóc trắng trong tay.


Những toa vô hình

Con tàu không tiếng

Lặng lẽ trôi về ga cuối không màu

Không vé khứ hồi hai lần tuổi trẻ

Sao cược đời mình vào những không đâu?


Mộng ước cao xa

Ngày thường giăng lưới.

Vốn đời mình tôi đã tiêu hoang

Những hội họp, hoan hô

Những cuộc vui vô vị

Tỉnh cơn say chiều đã úa vàng.


Bông hồng tôi yêu hôm nào hé nụ

Đã rụng đỏ bầm những mảnh thời gian

Ngày cứ mỏng dần như bóc lịch

Mây trắng ngang trời

Lại sắp xuân sang!