Menu ngang

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2020


NHỮNG NGÀY LANG THANG


                                                 Nguyên Ngọc


Một đoạn hồi ký, viết đã rất lâu, rồi bỏ quên. May có người bạn còn giữ, vừa gửi lại cho.
Đọc lại, tôi chỉ nghĩ, giá phải viết lại hôm nay, chắc tôi sẽ không muốn thay đổi gì nhiều.
NN
… Mấy năm ở miền Bắc tôi làm nghề biên tập viên và phóng viên cho tạp chí Văn nghệ quân đội, trụ sở đóng ở cái nhà 4 Lý Nam Đế nổi tiếng. Thích làm phóng viên hơn biên tập vì vẫn thích lang thang. Biên tập thì phải ở nhà nhiều hơn, quanh quẩn mãi Hà Nội.
Thật ra tôi đã phải lòng Hà Nội ngay từ buổi đầu. Cả đất nước, chắc chắn không có thành phố nào đẹp bằng, đáng để yêu và thương nhớ hơn. Yêu và thương nhớ khôn nguôi, mặc trăm thứ bà rằn từng giày vò quấy nhiễu cắn xé anh ở đó… Tình yêu là vậy, là cái gì đó không thể rứt ra được, vô lý và vô nghĩa, vô vọng và vô duyên, biết rất rõ chẳng đi đến đâu hết mà vẫn cứ yêu, một cách dại dột, một cách vụng về, một cách lố bịch nữa cũng có khi, người ta lạnh nhạt hờ hững với mình ra mặt mà mình cứ lao vào, bất kể, bất lực, liều lĩnh, như điên. Tình yêu là vậy, là cái kiểu anh chàng rất Nam Bộ lăng nhăng nọ, “ra đường thấy vịt cũng lùa, thấy duyên cũng bén, thấy chùa cũng tu”, gặp cái gì cũng dính, yêu ba bốn nơi một lúc, bỏ cái nào cũng tiếc, đâu cũng là nợ là duyên. Tình yêu thật nào mà chẳng trái khoáy, kỳ quặc vô lý vô nghĩa đối với bất cứ ai ở ngoài cuộc. Tình yêu là chỉ để cho độc có mình hiểu lấy mình, may ra còn thêm mỗi một người nữa hiểu cho, người ấy… Nhưng trong trăm nghìn mối duyên nợ linh tinh vấp phải suốt đường đời gập ghềnh, trong mê hồn trận kiếp người ấy, vẫn có một phen nào đó, – lại thường là phen bất ngờ nhất – anh bị phang cho một vố nặng hơn cả, coup de foudre, “cú sét đánh” mà lại, cháy rụi cả người, không còn gượng dậy được, sạch sành sanh hết cả quá khứ, cả hiện tại, cả tương lai, tuy bề ngoài, dưới mắt mọi người tất cả mọi sự yên ổn trước đó vẫn còn, vẫn trôi chảy, vẫn bình thường như không… Cũng có những cú sét đánh âm thầm, không nghe tiếng nổ, không thấy lửa, chỉ anh biết, anh bị cháy mà chỉ anh biết, lặng lẽ, vụng trộm, êm re…
Tôi yêu Hà Nội như vậy. Với Hà Nội tôi chẳng qua là dân ngụ cư, là thứ ngoại lai, anh nhà quê người ta không cho nhập tịch… Nhưng cứ yêu, biết làm sao.
Tôi biết có một người cũng yêu Hà Nội đúng như thế : anh Đoàn Giỏi. Đoàn Giỏi Nam Bộ thế. Văn chương anh, đọc kỹ mà xem, toàn là văn chương về trăm nghìn thứ cây cỏ muông thú kỳ quặc của đất Nam Bộ, cực nam Nam Bộ hoang dã, về ba ba, rùa, rắn, kỳ đà, con ba khía, con cá linh, con cạp nong và con hổ mang, về cây đước, cây mắm, cây tràm, cây nắp nước, cây ô môi, cây so đũa… đặc sệt Nam Bộ. Ấy vậy mà suốt đời lòng anh không sao rứt ra nổi khỏi Hà Nội. Trong Đoàn Giỏi thậm chí có cả một phần gì đó rất Hà Nội Nguyễn Tuân. Sao tôi cứ hình dung Đoàn Giỏi giống hệt cái anh chàng nhà quê làng Lệ Mật bên kia sông Hồng, suốt ngày, ngày nào cũng vậy, ngồi ở cái góc vườn hoa Hàng Đậu nọ, bán những con rắn lổm ngổm ngoằn ngoèo cho người Hà Nội vừa ghê sợ vừa tò mò…, và mê Hà Nội, người Hà Nội, đất Hà Nội, phong vị Hà Nội.
Đoàn Giỏi cũng có những mối quan hệ với Hà Nội rất kỳ lạ. Một hôm anh rủ tôi đi ăn phở ở cái quán một bà gốc Hoa cạnh ga Hàng Cỏ. Ăn xong thấy anh rút ví tưởng anh sắp trả tiền, nhưg lại thấy anh bảo: Bà đưa cho tôi hai chục. Bà ấy đưa cho anh hai chục thật, anh thản nhiên nhét vào ví. Hỏi ra mới biết anh đã nợ bà ấy ba chục, bây giờ cầm thêm hai chục nữa đi uống cà phê, cho thành năm chục, trả sau !
Cuối đời anh về Sài Gòn, chết ở Sài Gòn… như một kẻ ngụ cư. Tôi có sống với Đoàn Giỏi một thời gian ở nhà khách Bến Nghé, đêm nào thức giấc cũng thấy anh ngồi uống rượu một mình, và nẫu lòng nhớ Hà Nội. Tôi cũng có theo anh một chuyến về tận quê anh, Tân Hiệp – Mỹ Tho. Bữa ấy thật tình tôi nhìn bạn mà tê tái : anh về quê, ồn ào, nhậu nhẹt, ba hoa đủ thứ chuyện xưa… mà vẫn cứ lạc lõng như người khách lạ…
Đất nước, nơi nào mà chẳng đáng mê, như mê một cô gái đẹp quá đột ngột gặp qua đường và không bao giờ trở lại nữa.
Tôi yêu Cà Mau, cái thị xã gì mà kỳ thế, một thứ Venise quê mùa hoang dã, nhà cửa cứ quay mặt hết ra sông, sông là đường phố, đi lại ở đấy, gặp nhau ở đấy, buôn bán ở đấy, nhậu nhẹt bù khú cũng ở đấy, toàn trên mặt nước phù sa nhiều hơn là nước, vỏ lãi đuôi tôm, xuồng máy thong thả rong chơi hay phóng ngang phóng dọc bạt mạng trên sông hệt như Honda, xe Cub phóng bạt mạng trên các đường phố Hà Nội. Dân Cà Mau là dân của xứ Mũi, cái đất mới hình thành, đang hình thành, chưa định hình, chưa có gì chắc chắn lâu dài cả, nay là đất mai có thể là biển, nay là biển mai có khi sẽ là đất, dân tự do, bất cần, táo tợn và hiền lành, thô sơ, sần sùi, lung linh như nước, nhầy nhụa mà giàu có như bùn phù sa sông Cửu Long chín nhánh, làm ít chơi nhiều, làm quyết liệt và chơi hết mình, làm kinh tế, làm văn chương cũng hệt như đi bắt rùa bắt rắn trong rừng U Minh, vui làm chán bỏ…
Tôi yêu Trà Vinh – cảm ơn cô gái Vĩnh Long không biết do thông cảm điều gì mà đã liều lĩnh một mình dẫn tôi đi tìm ra cái thị xã Trà Vinh hình như bây giờ đã mất tên, không còn ai biết, ai nhớ, thị xã của những cây sao cao vút, thẳng tắp, đẹp không chịu được, còn các khu phố thì ô vuông răm rắp như bàn cờ, thị xã lặng lẽ sống rất riêng nó một thời xa lắc xa lơ nay đã mất. Ngủ ở Trà Vinh, nửa đêm chợt tỉnh giấc, có thể ngỡ đang trôi ngược lại một thời vương quốc Phù Nam huyền thoại, cái vương quốc chính các nhà sử học nghiêm trang và uyên bác còn cãi nhau chán không biết có thật từng có hay không…
Tôi yêu Hà Giang, Lũng Phìn, Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Cán Tỷ, Mậu Duệ… là thơ chứ không phải đời thật. Các cô gái Mèo phơi váy tròn xoe dưới thung lũng sâu, các đoàn ngựa thồ Mèo bình thản đi chậm chạp trên các sườn núi Mèo, cả cái anh chàng người Lô Lô ngồi làm gì một mình giữa phiên chợ Mèo đã tàn, chiều xuống tím hết rồi kia nữa, say hay là buồn đấy… tất cả, tất cả đều như không phải làm bằng xương thịt, bằng đất đá, mà tuyền bằng lụa, cái chất tranh lụa bao giờ cũng gợi thơ và gợi một chút gì đó rất não lòng…
Có bao nhiêu thứ, bao nhiêu đất, bao nhiêu người để say và mê, một ngọn cỏ cao vút sắc lạnh đèo Bông Lau đường số 4, một cây xà nu Tây Nguyên gợi nhớ câu thơ của Olga Berggoltz mà tôi cứ muốn đọc trại đi “con người, hãy thẳng và rắn như cây”[*], một chiếc vỏ lãi chở nước ngọt chạy re re một mình buổi chiều trên con rạch vắng ngắt Rạch Gốc Cà Mau, một phiên chợ Quảng Uyên Cao Bằng đỏ ối vì những chiếc áo váy thêu đỏ quá của các chị người Dao… Yêu tất cả. Nhưng đằm sâu nhất, không rứt ra nổi vẫn là Hà Nội. Muốn nói gì thì nói, Hà Nội, bất chấp tất cả mọi “cuộc đấu tranh”, mọi phiền nhiễu, cả đểu cáng ta từng chịu đựng, nếm trải… vẫn đọng lại ở đâu đó tận đáy tâm hồn. Một buổi sáng rất sớm, sớm đến nỗi chính giữa mùa hè vẫn se se một chút lạnh, đến ngồi một lúc một mình trên chiếc ghế đá chắc một người hành khất bẩn thỉu vừa ngủ qua đêm, ngồi một mình, mặc kệ bẩn, nghe hồ thở nhẹ và mặt nước mới rạng sáng còn mờ hơi sương, bỗng thấy có thể mặc xác tất cả, khuây khỏa hết cả bao nhiêu giày vò và đau khổ, lo âu và ngờ vực… Và đêm khuya, thật khuya, đi một mình lêu lổng một cách rất đáng hồ nghi dọc các phố tối tăm, chật hẹp, hôi hám, Hàng Cói, Hàng Mắm, Hàng Rươi, Hàng Phèn, Hàng Buồm, Hàng Hòm, Hàng Mành, Hàng Quạt, Mã Mây… Cứ đi thử đi, một mình, thật khuya… sẽ có thể nghe thức dậy một thời Kẻ Chợ, chua chua cái hương vị ẩm mốc của thời gian đã úa tàn. Có thể nghe thức dậy một “Hà Nội phố Phái”, chỉ có Hà Nội mới có thể đẻ ra được cái ông Bùi Xuân Phái kỳ tài kỳ quặc nhìn phố xá Hà Nội cứ xiêu vẹo tuyệt vời như thế.
Tôi là dân Hội An, thuộc cái giống người hoài cổ (mà tất cả các nghệ sĩ đều giấu trong mình một kẻ hoài cổ, phải không?) nghe có kỳ không, biết ông Phái một lần rồi, nhiễm phải tranh của ông, những bức tranh nhỏ xíu tiện tay ông ngồi hút thuốc lào vặt vẽ ngoằn ngoèo trên vỏ bao diêm rồi vứt đấy bỏ đi, nhiễm rồi, đố anh đi xa có thể nhớ về một Hà Nội không xiêu vẹo rất Phái như thế. Hà Nội Phái mới đích thực là Hà Nội thật, mặc xác các cao ốc, các đại lộ mới ngay ngắn sổ thẳng, đường cao tốc hai chiều với đèn huỳnh quang màu đỏ đua đòi Sài Gòn, đua đòi cả London vốn nổi tiếng sương mù…
Hà Nội thật Hà Nội, rất Hà Nội chẳng còn nhiều (nghe nói nó đã bị Nghệ Tĩnh hóa đến mấy mươi phần trăm) nhưng mà cũng còn. Trong những gia đình chính cống gốc Kẻ Chợ, thường ở chung một số nhà mà bây giờ, cha mẹ, con cái, dâu rể, cháu chắt phải chia ra thành từng hộ nhỏ, nhiều hộ nhỏ nhưng vẫn là một gia đình lớn, một số nhà, khép kín lại nâng niu gìn giữ một cách ngoan cố mà bất lực, tuyệt vọng cái chất thanh lịch truyền thống chỉ Hà Thành mới có.
Tại sao Huỳnh Văn Nghệ lại viết “Từ thuở mang gươm đi mở nước / Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” nhỉ? Ông có gốc Hà Nội không? Hay trong máu mỗi người Việt đều có một giọt vĩnh cửu Hà Nội cứ nhất quyết không chịu phai?…
Cuối năm 1972 chúng tôi đánh nhau quần quật mệt lử mấy tháng trời quanh cái quận lị Hoài Ân tỉnh Bình Định, giành đi giật lại không biết bao nhiêu lần, chiếm, rồi mất, rồi lại chiếm, lại mất, lại chiếm… Có mỗi một cái cao điểm 82 phía bắc quận lị chật bằng cái sân mà chết không đếm được, không chôn được người chết, chiến hào đào đi đắp lại, moi lên dập xuống, đất đá, sắt thép trộn lộn tùng phèo với thịt và xương người, chết hết lớp này tới lớp khác, toàn lính Hà Nội, Hải Phòng trẻ măng, sinh viên, học sinh, hùng dũng, quyết liệt và ngơ ngác. Ngơ ngác trước sự anh hùng của chính mình và trước cái chết bỗng dưng vừa kinh khủng vừa dễ dàng quá.
Chính những đêm ấy, đêm nào cũng vậy, ở thung lũng An Lão, Hoài Ân đang tử chiến, suốt đêm chúng tôi nghe tiếng B52 ầm ì bay qua rất cao trên đầu, trong đêm đen kịt. Chúng đã bỏ, chúng không thèm trút bom xuống chỗ chúng tôi nữa. Từ Guam, bay qua Biển Đông, qua đầu chúng tôi, chúng ra đánh Hà Nội. Và lính chúng tôi đau nhói đúng giữa tim.
– Chúng đánh vào trái tim của tổ quốc chúng ta ! – Ai đó nói. Chắc là chính trị viên.
Còn tôi, tôi chẳng nghĩ gì đến “trái tim của tổ quốc”. Tôi sợ nhất, lo lắm : Lạy trời, chúng đừng có đánh trúng những Hàng Mắm, Hàng Thùng, Hàng Phèn, Hàng Thiếc, Hàng Rươi… Đừng xóa mất những “phố Phái” của tôi!
Ngớ ngẩn chứ gì nữa. Nhưng biết làm sao được. Mỗi người có một nỗi nhớ và tình yêu của riêng mình, ai cấm ?
…Yêu và mê Hà Nội, nhưng ở lâu lại thấy tù túng, thấy chán. Hà Nội ở mãi, lâu quá, dễ làm tê dại lòng người, tê dại cả trí óc và tay chân, hình như thế. Lại ngứa ngáy muốn lang thang.
Văn nghệ quân đội khuyến khích phóng viên đi. “Thâm nhập thực tế” mà. Còn gì bằng!
Tôi lang thang khắp nơi, nơi nào “hay” thì đi, gặp gì thích thì viết. Ngày ấy chẳng vợ con gì, tha hồ tung tẩy. Lên Tây Bắc. Lên Lạng Sơn, la cà dọc đường số 4, Na Sầu, Thất Khê, Đông Khê, Cao Bằng. Rồi Nguyên Bình, Tĩnh Túc, Tà Sa, Bảo Lộc. Rồi Mã Phục, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Cà Páo… Vẫn không bỏ được cái thói gặp chuyện gì cũng nhảy xổ vào “tham gia”. Giữa đường thấy sự bất bằng mà tha! Ở Trùng Khánh, anh Đào Xuân Quý và tôi, hai anh em hăng máu lên phát đơn kiện tận Viện Kiểm sát Tối cao bênh vực một cô gái thanh niên xung phong bị tổ chức trù dập. Vụ kiện chẳng tới đâu. Cô gái cứ bị kỷ luật như thường…
Ở Thông Huề, Quảng Uyên, tình cờ gặp hai cô gái Hà Nội lên dạy trên rẻo cao. Con gái Hà Nội, một cô Hàng Bông, một cô Hàng Trống, lên dạy rẻo cao thì hăng hái quá, nhưng cũng buồn thối ruột. Các cô rủ ở lại. Thì ở lại… hơn tháng trời. Và viết một cái truyện ngắn. Truyện ngắn này nghe đâu về sau có làm phiền cho một cô : tôi cứ giữ tên thật của cô. Chịu, không sao đổi một cái tên “bịa” được. Đổi, nghe nó cứ thế nào ấy, viết không ra!
Lên Nước Hai lại sa đà hàng tháng với anh thanh niên người Tày mù tài hoa Phạm Trung Pồn. Mê nhất là cái kiểu đêm đêm anh ta vẫn cứ làm đủ thứ việc, đục đẽo, chế máy tuốt lúa, leo cả lên trần nhà lấy cái gì đấy trong bóng tối đen kịt chả đèn đuốc gì hết. Anh mù mà lại, đêm cũng “sáng” như ngày. Trong khi mình đủ nguyên hai mắt, đến đêm lại hóa mù! Và tình yêu tuyệt vọng của anh với một cô gái Kinh tình cờ đi qua. Tôi viết truyện ngắn Pồn, rất thích, nhưng gửi báo Nhân dân, báo không đăng. Anh Thợ Rèn bấy giờ phụ trách mục văn nghệ ở đấy bảo : Truyện buồn quá, không hợp báo Đảng.
Đang ở Cao Bằng, nghe tin phỉ nổi lên ở Hà Giang. Cao Bằng cử một cánh quân sang đánh phối hợp. Tỉnh đội trưởng Cao Bằng, tên là Mỹ Sơn, rủ. Tôi đi ngay. Hai ngày ô tô từ thị xã Cao Bằng lên Bảo Lạc. Rồi đi ngựa từ Bảo Lạc, qua Khâu Vai, trên những đỉnh núi Nùng chót vót, đẹp mờ ảo như tranh sơn thủy Tàu, sang Đồng Văn. Đánh xong phỉ, quân Cao Bằng rút về. Mỹ Sơn hỏi:
– Về cùng chứ?
– Anh về trước đi. Mình ở lại thôi. Mê rồi!
Tôi ở lại, và chẳng theo nguyên tắc tổ chức nào cả, được cử làm đội phó đội phát động quần chúng tiễu phỉ ở Mèo Vạc suốt gần năm. Đội trưởng là anh Cộng Hòa, người Tày, sau này làm bí thư huyện Bạch Thông. Trong đội còn có chị Thào Thị Mỹ người Mèo và anh Lùng Sùng Páo người Lô Lô. Chị Mỹ đẹp não nùng và có cuộc đời tình duyên tan nát. Lùng Sùng Páo thì táo tợn, uống rượu tì tì, đêm vào làng bắn xuyên táo chết một lần hai tên đầu sỏ phỉ, sáng lại vác về một con chó cho cả đội chén.
Tôi viết Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng, vì mê chị Mỹ và mê cả hoa thuốc phiện. Hoa thuốc phiện đẹp lạ, lẳng lơ, quyến rũ, não nuột.
Viết bằng tay trái. Tay phải còn vướng bao nhiêu việc : truy tìm đầu sỏ phỉ còn lẩn trong dân, đuổi bắt bọn buôn thuốc phiện lậu có vũ trang đến cả trung liên, đại liên, đánh nhau với các toán tàn quân Quốc dân đảng bên Tàu.
Về Lùng Sùng Páo, tôi còn mắc nợ. Anh hay thế, mà tôi chưa có chữ nào về anh cả.
Cũng có viết một cái kịch bản phim về những người lính hy sinh trong khi cả nước đang hòa bình. Kịch bản tồi, chưa bao giờ được quay.
Thế đấy, tôi vẫn là một nhà văn nghiệp dư. Viết tay trái. Công việc chính là những công việc trên trời rơi xuống, chẳng ai chính thức giao cho cả. Hay cũng có thể chống chế: công việc chính là sống. Tôi là cái thằng ham sống. Sống dẫu sao vẫn hay, vẫn vui hơn là viết chứ!
Hết phỉ Hà Giang, lại về đi đào đất ở cái vùng ao đầm vô cùng bẩn thỉu chỗ ngã ba sông Thao sông Hồng làm đường ống nước cho nhà máy điện Việt Trì. Rồi đi đào đất san nền khu gang thép Thái Nguyên, với Xuân Cang.
…Những ngày ấy, hình như đã có một cái gì đó hơi khác. Tôi bắt đầu lờ mờ nhận ra mọi sự chẳng phải chỉ tuyền một điệu anh hùng ca. Lờ mờ nhận ra sự phức tạp của cuộc đời và con người trong những bạn bè tôi bộ đội miền Nam chuyển đi làm công nghiệp Việt Trì, Thái Nguyên. Và cả trong chính tôi.
Đẻ ra cái truyện vừa Mạch nước ngầm. Một chút thử thăm dò vào những mạch ngầm quanh co trong con người.
Truyện in ra, bị đánh một trận tơi bời. Ở 51 Trần Hưng Đạo, trong cái phòng lát gỗ bây giờ ta vẫn thường họp, thỉnh thoảng lại tổ chức tang lễ một nghệ sĩ qua đời, và đêm đêm ban nhạc của anh Khắc Huề vẫn biểu diễn nhạc trữ tình đấy, một bữa Tố Hữu phê Mạch nước ngầm: “Truyện rất hiểm, đánh đúng ngay vào giữa trái tim của chủ nghĩa xã hội.”
Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi gọi đến, bảo phải sửa. (Tôi còn nhớ: tại căn nhà ngõ Ngọc Hồi.)
Mà sửa chỗ nào? Sửa thế nào nhỉ? Tôi ngơ ngác.
– Không in thì thôi cũng được, anh ạ. – Tôi bảo.
Sau đó sách vẫn ra, nhà xuất bản (Văn học) có cắt dán đôi chỗ thế nào đó…
Cũng may, đấy là thời miền Nam đang gọi. Chúng tôi lên đường vào chiến trường. Ai lại còn đuổi đánh theo “người chiến sĩ” đang đi vào chốn chiến đấu tử sinh!
Nói vậy chứ trên đường về Nam, một đêm giữa rừng Lào, mở radio theo dõi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 2, tôi và Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn) vẫn còn được nghe trong bài phát biểu của ông Trường Chinh thay mặt Trung ương một đoạn lên án Mạch nước ngầm, có điều lần này còn kèm thêm mấy câu biểu dương tập truyện ngắn Rẻo cao.
Tôi chẳng nói gì. Nguyễn Thi thì thở dài. Anh bảo: Mẹ kiếp, người ta đi vào đến đây rồi còn đánh với theo!
Nhưng rồi chiến trường trong kia đang gọi hối hả. Chuyện được quên đi. Chính tôi quên đi.
*
Tôi ở miền Bắc, rất tình cờ, đúng trọn vẹn bảy năm : tập kết đổ bộ lên Sầm Sơn Thanh Hóa đúng ngày 19-5-1955 ; trở về Nam đúng ngày 19-5-1962.
Tôi đi cùng Nguyễn Thi.
Lội bộ Trường Sơn hơn hai tháng, lúc trên đất Lào, lúc trên đất ta, thì tới một khu rừng xà nu rất đẹp phía tây Thừa Thiên, trên biên giới Việt-Lào. Đến đây là điểm chia tay. Đoàn của Nguyễn Ngọc Tấn sẽ đi tiếp hướng tây nam, men theo biên giới Việt-Miên về Nam Bộ. Tôi rẽ hướng đông nam, về miền tây Quảng Nam – Quảng Ngãi, Khu 5.
Chúng tôi dừng lại một ngày, lấy sức, và cũng để làm cuộc chia tay biết đâu sẽ là vĩnh viễn.
Một ngày nghỉ hoàn toàn, chẳng phải làm việc gì hết. Tấn và tôi treo võng nằm cạnh nhau, rủ rỉ trò chuyện, ôn lại toàn bộ cuộc đời mình từ trước tới giờ phút này, chuẩn bị đón nhận những ngày gian nan sẽ tới.
Sau này, những ngày sóng gió gần đây, nhiều lần tôi thường nghĩ về Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi. Nếu Thi còn sống, anh sẽ ra sao trong thế cuộc bây giờ nhỉ? Như Nguyễn Khải chăng? Hẳn là không rồi. Tính cách họ khác nhau quá. Như Nguyễn Minh Châu chăng? Thi cũng thường im lặng như Châu, cũng là một kiểu người lặng lẽ lẩn khuất khiêm nhường đi qua giữa cuộc đời, giấu rất kín sự kiêu hãnh và quyết liệt của mình sau một vẻ bình dị có chút gì đó hơi thiền. Nhưng có lẽ khác Châu, Thi thỉnh thoảng, rất ít thôi, hay đột ngột có những lúc bột phát rất dữ dội, một ngọn núi lửa đã ngủ im hàng nghìn năm bỗng một hôm rùng rùng chuyển động. Và đến lúc ấy chẳng còn kể gì nữa hết, kể cả sự nổ vỡ tung của chính mình. Châu bền bỉ hơn, bền bỉ cho đến phút lâm chung…
Mà đoán làm gì, đoán sao được. Thi mất sớm hơn thời cuộc đến gần hai chục năm. Hai chục năm là dài lắm, đối với một đời người, và trong thời đại biến động ghê gớm từng ngày bây giờ…
Nguyễn Ngọc Tấn về Văn nghệ quân đội sau tôi ít lâu. Tôi được gọi về Hà Nội tháng 8-1955, cùng với gần hai chục anh em từ khắp các sư đoàn trong toàn quân: Tổng cục Chính trị mở trại sáng tác viết truyện anh hùng quân đội, gọi mỗi sư đoàn về một người để viết về người anh hùng của chính đơn vị mình vừa được chính phủ tuyên dương.
Tôi từ sư đoàn 324 bấy giờ đang đóng ở Tĩnh Gia Thanh Hóa, ra Hà Nội một buổi chiều tháng tám, ngơ ngác. Tìm đến trạm ở 61 Cửa Đông, bị anh thường trực tên là Cay sạt cho một mẻ, suýt nữa thì đuổi về Liễu Giai, trạm nằm chờ lưu cữu của đủ thứ cán bộ chưa có việc. Lính mới tò te, trẻ măng, lần đầu về thủ đô, lên “trung ương” mà, ai quát cũng sợ. May sao lúc đó có Nguyễn Trọng Oánh cũng mới từ sư đoàn 304 được gọi lên, tình cờ đang đứng đấy. Oánh hỏi:
– Cậu là Ngọc phải không? Sao lên chậm thế, anh em chờ mãi. Thôi đi với mình.
Oánh dẫn tôi vào thành.
Chà, gặp ngay một loạt các bậc “nhà văn đàn anh” ghê gớm tôi từng nghe tên, văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, và thán phục từ những ngày còn lụi hụi trong chiến tranh ở miền Nam: Nguyễn Khắc Thứ vừa in xong bộ tiểu thuyết Đất chuyển hai tập dày cộm; Hồ Phương đã nổi tiếng với Thư nhà; Nguyễn Khải từng được giải thưởng Văn nghệ Liên khu 3; Phùng Quán đang lừng danh vì Vượt Côn Đảo; Lý Đăng Cao, mập ù, thấp người, đi giày săng-đá cứ nện thình thịch suốt ngày oang oang đọc thơ; Mạc Phi cao lều khều, đội mũ “bình thiên” (mũ kê-pi), thỉnh thoảng lại dẫn chúng tôi đến cái quán bà Tàu đầu Cửa Đông đãi một món rất sang trọng là sữa đậu nành và kể chuyện Tây Bắc nghe mê lịm cả người; Xuân Thiêm ngay thời ấy đã đẹp trai, nhẵn nhụi và trang trọng như hệt bây giờ… thỉnh thoảng lại nhờ tôi dịch hộ nghĩa một bài thơ tiếng Tây để anh chuyển thành vần (xin nói: ngay cái việc ấy tôi cũng phục lăn, tôi dịch nôm thô thế mà anh ghép vần nghe sao thánh thót thế!); Trần Cẩn, bẩn ghê gớm, suốt ngày ngồi trong một góc phòng, quấn chăn giữa trưa hè, hút thuốc lào đánh nỏ phì phì và viết hàng chục trang thơ đặc kín… Đó là còn chưa kể các vị “tiền bối”: anh Trần Dần, lúc đó là trưởng ban văn, người phụ trách cao của tất cả chúng tôi. Anh Hoàng Cầm được phân công giúp chúng tôi tập viết. Anh Tử Phác, trưởng ban nghệ thuật thỉnh thoảng đá qua một lúc, nói như hát.
Trại trưởng của chúng tôi là anh Từ Bích Hoàng, hiền như bụt.
Anh lính tò te măng sữa từ chiến trường xa mới chân ướt chân ráo về ngày ấy, cứ như trót lọt vào một hội tao đàn của chư vị quần tiên. Thú thật đã có lúc muốn lặng lẽ “rút dù”… Hồ Phương dẫn tôi đi chơi Bờ Hồ lần đầu tiên, dặn phải bám theo chặt sau lưng, còn nhỡ có lạc thì cứ đi theo đường tàu điện, khắc sẽ tìm về đến Cửa Đông. Tôi đừng ngẩn người ở Bờ Hồ, tìm mãi không ra cái Tháp Rùa: tôi cứ tưởng nó phải to, cao vòi vọi, không thể tin nó bé thế. Và bị lạc thật. Theo lời dặn của bậc đàn anh Hồ Phương, tôi cứ cắm đầu theo đúng đường tàu điện mà đi… lên mãi tận Cầu Giấy!…
Vì là đảng viên mới kết nạp, tôi được phân công làm tổ trưởng tổ ba người, có hai tổ viên về sau này đều lừng danh cả: Phùng Quán và Xuân Vũ. (Tôi nói luôn ngay chuyện này một chút để sau này khỏi phải trở lại. Tôi thương Xuân Vũ. Anh ấy là một con người cực kỳ cảm tính, dễ cực đoan, dễ sai lầm, cả những sai lầm chết người, và là người ít gặp may trong đời. Ở trại, anh được phân công viết về anh hùng Sơn Ton. Hì hục viết, viết xong rồi mới vỡ lẽ: cái ông Sơn Ton ấy là anh hùng được chính phủ tuyên dương hẳn hoi, nhưng hóa ra là anh hùng… dỏm! Thành tích toàn bịa. Thế là toi công… Sau này trong chiến tranh chống Mỹ miền Nam Xuân Vũ đã rẽ đi một con đường khác. Tôi có nghe Nguyễn Quang Sáng kể lại chuyện ấy. Đáng giận, đáng buồn, và cũng đáng thương. Cũng là một cuộc đời!)
Những ngày đầu, tôi chẳng có bạn. Quanh quẩn chỉ bám lấy Nguyễn Trọng Oánh, người đã cứu tôi khỏi tay ông thường trực Cay. Lúc ấy chúng tôi ở ngay trong cơ quan Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Cơ quan có một cái thư viện kha khá. Suốt 9 năm kháng chiến trong rừng Khu 5, chúng tôi đói sách. Sách Tây, sách Liên Xô càng chưa bao giờ được thấy. Được dịp may quá, tôi lao vào ngấu nghiến : Un homme véritable của B. Polévoi, La Tempête, Chute de Paris, Lame de fond của I. Ehrenburg, Printemps à Sakène của Guéorgui Goulia, Jeune Garde và Défaite của Fadéev, Le Don paisible của M. Cholokhov… Đối với tôi lúc ấy, tất nhiên đấy là một cuộc khám phá vĩ đại…
Một bữa tôi đang nằm đọc sách, Nguyễn Khải đi qua, ghé mắt nhìn, dừng lại kêu to lên:
– Chúng mày ơi, thằng này nó đọc được tiếng Tây, chúng mày ạ!
Khải bắt quen với tôi, và chúng tôi bắt đầu thân nhau từ đấy.
Chúng tôi lao vào viết như điên. Sức viết ngày ấy thật ghê. Không có bàn, cứ lấy cái tấm ván giường cá nhân bộ đội kê cao lên, bốn đứa ngồi bốn góc, đối mặt nhau thế mà viết tiểu thuyết. Viết chẳng kể ngày đêm. Thỉnh thoảng anh Từ Bích Hoàng lại thì thầm – bao giờ anh cũng nói thì thầm nhỏ nhẹ:
– Anh em dọn dẹp tất cả lại cho sạch sẽ ngăn nắp. Chiều nay anh Vũ Tú Nam sẽ ra thăm trại đấy.
Chúng tôi vội vã thu dọn đủ thứ linh tinh, xếp lại chăn màn thẳng ro, giúp Trần Cẩn làm vệ sinh cái xó rất bầy nhầy của ông. Và đón phó phòng văn nghệ Vũ Tú Nam đến “thăm anh em” trang trọng, nơm nớp…
Nguyễn Khải hay trò chuyện với tôi, hỏi chuyện những “sách Tây” tôi đọc. Anh cực thông mình, tiếng Pháp mới võ vẽ, nhưng cứ lao vào đọc, ít lâu sau đã rất thạo.
Khải viết khó nhọc. Khổ thân cho anh, cái chất của anh mà người ta lại giao cho anh một bà anh hùng Mạc Thị Bưởi. Anh viết Người con gái quang vinh! Biết Nguyễn Khải ngày nay, nghe cái tên quyển tiểu thuyết đầu tay ấy của anh, đủ biết ngày ấy anh khốn khổ đến thế nào rồi!…
Xong trại sáng tác, chúng tôi được lệnh đi tham gia cải cách ruộng đất. Lại Nguyễn Khải, Nguyễn Trọng Oánh và tôi cùng đi một đoàn, về Thủy Nguyên ngoại ô Hải Phòng. Ba đứa ngơ ngác giữa cái không khí hừng hực hăng say đấu tranh giai cấp và hận thù những ngày cải cách. Trong đội chúng tôi hồi ấy còn có cả chị Nguyễn Khoa Diệu Hồng nữa. Cái loại “trí thức tiểu tư sản” chúng tôi chỉ có bàng hoàng… Cũng may, làm nửa chừng thì có lệnh dừng lại, sửa sai. Ba chúng tôi chưa kịp bắn chết tên “địa chủ” nào…
Năm 1957 kéo nhau về, xin được cái nhà 4 Lý Nam Đế, và chính thức thành lập tạp chí Văn nghệ quân đội.
Anh Văn Phác làm chủ nhiệm. Anh Vũ Cao, Thanh Tịnh làm phó. Anh Từ Bích Hoàng bí thư chi bộ. Ít lâu sau thêm Nguyễn Ngọc Tấn từ sư đoàn 330 về. Rồi lần lượt thêm Xuân Khánh, Xuân Sách, Xuân Thiều, Nam Hà. Nguyễn Minh Châu về sau năm 1962, khi Nguyễn Ngọc Tấn và tôi đã về Nam. Phòng tôi sát cạnh phòng anh Thanh Tịnh. Nguyễn Khải ở phòng phía sau. Đi, viết, làm báo, chơi đùa. Anh Văn Phác cái gì cũng mê, có thể bắt chúng tôi cùng đánh tú lơ khơ suốt đêm… Tôi cứ nghĩ Văn nghệ quân đội ngày ấy rất đẹp, đẹp hơn… bây giờ nhiều – Hay là cảm giác không tránh khỏi của người đã già chăng?
Tôi hay lang thang và viết ít, rất chậm.
Nguyễn Khải lại lười đi, mà viết nhiều.
Tôi đi lêu lổng mãi hàng năm mới viết được dăm ba cái truyện ngắn, mỗi cái có dăm ba trang. Nguyễn Khải “đi thực tế” rất lạ (ông Văn Phác ngó vậy mà rất nghiêm: đứa nào không đi thực tế, chết với ông!). Nguyễn Khải cũng phải đi, nhưng mới khăn gói lên đường tuần trước, tuần sau lại thấy ở Hà Nội rồi. Nếu tôi nhớ không nhầm, để viết Xung đột, tác phẩm đầu tiên thật sự là Nguyễn Khải, anh đi vùng công giáo Nam Định đâu có đúng một tuần. Đi Tây Bắc cũng chỉ đâu có một tuần, và viết Mùa lạc… Không, chẳng phải Khải lười đâu. Mỗi người đều có cách sống và viết của riêng mình, chẳng ai giống ai. Tôi thì cứ phải để cho cái chất men của đời sống chậm chạp thấm vào mình từng giọt, từng giọt, ngày này qua tháng nọ, năm này qua năm kia, chờ rất lâu, rất lâu cho chín ở đâu đó trong mình, và thường đột ngột bắt đầu viết. Khải sắc sảo khác thường, thoáng một cái anh đã nhận ra, phát hiện ra cái “cơ máy” bên trong của sự vật, đến từng chi tiết, từng bí mật lẩn khuất, cái vận động bên trong khúc khuỷu mà chặt chẽ của thế giới. Anh biết giữ cái nhìn lạnh lùng của một nhà khoa học, soi mói không thương tiếc vào mọi bánh xe của guồng máy cuộc sống, tuy không cần tháo gỡ nó ra, làm cho nó chết đi. Văn chương của Khải có cái gì đó như tàn nhẫn, cái tàn nhẫn của người biết rõ ràng chính là cuộc sống tự nó tàn nhẫn như thế. Và, để ý kỹ mà xem, Nguyễn Khải thường “tàn nhẫn” trước hết với chính mình, không thương tiếc chính mình, những quan hệ thậm chí máu thịt thiêng liêng của chính đời mình. Anh là người có khả năng tự quan sát rất sắc, cái khả năng, theo tôi, cần có đầu tiên của người viết tiểu thuyết. Đọc Nguyễn Khải, thường có cảm giác vừa thích vừa ngại, hơi rờn rợn vì sự “tàn nhẫn” trong quan sát con người ấy của anh. Có cảm giác như anh xé chính đời mình ra, chính những quan hệ máu thịt của đời mình, mà phơi ra trên trang giấy, mà làm chất liệu cho các tác phẩm của anh, để chiêu đãi công chúng.
Nhà văn thật sự nào cũng là một khối mâu thuẫn. Nhân hậu và ác độc. Khiêm nhường và kiêu hãnh. Thủ thỉ và gào thét. Tham lam và nhường nhịn… Khải cũng vậy thôi.
Đọc Nguyễn Khải từ những cái đầu tay của anh (tất nhiên không kể Mạc Thị Bưởi “quang vinh”) cho đến những cái gần đây nhất, tôi cứ thường tự hỏi: tại sao anh thông minh thế, sắc sảo thế, rất chất tiểu thuyết thế, nhưng hình như các quyển sách của anh cứ như những ghi chép rất tài tình… mà vẫn chưa có cái nào thật sự là tiểu thuyết hoàn chỉnh, trọn vẹn, đến cùng? Cứ như là những ghi chép liên tục và thật giỏi cho một tiểu thuyết ta nóng lòng chờ… mãi đến bây giờ vẫn chưa thấy. Có lẽ anh hơi khôn quá chăng? Cái khôn để biết dừng lại, không bao giờ đi đến triệt để, không bao giờ phải chịu tiếng “cực đoan”. Cái anh nhà thật sự là văn ấy mà, anh phải… hơi dại một chút. Để mà dám liều lĩnh một đôi lần ít ra, nhất là trong văn chương. Khải cũng có “lỡ dại” đâu một đôi lần (hồi anh hăng hái phát biểu bài gì đó trên báo Nhân dân của ông Hoàng Tùng) nhưng anh… rút kinh nghiệm quá nhanh. Nhà văn là cái anh bị căn bệnh dại dột suốt đời không chữa được kia. Hơi tiếc, giá tài năng ấy được cộng thêm một dũng khí triệt để hơn nữa…
Từ cái buổi bắt quen ban đầu ấy (“Chúng mày ơi, thằng này nó đọc được tiếng Tây, chúng mày ạ”), Khải với tôi cứ như bị cột với nhau bằng một mối duyên nợ éo le. Rất hiểu nhau (hiểu tận đáy đấy), nhưng hình như suốt đời cứ vừa thương nhau vừa giận nhau, có thời hờn dỗi hàng năm không nhìn mặt nhau, ở gần thì vừa thân thiết gan ruột vừa “cảnh giác” đề phòng nhau, xa nhau thì thấy thiếu. Tôi vẫn chờ Khải, chờ một quyển tiểu thuyết cho thật triệt để tiểu thuyết của anh. Nhiều lúc tôi muốn nói với anh: cứ liều một chuyến hết mình đi xem nào, tới đâu thì tới. Văn chương là cái nghề phải dám chịu chơi.
Có điều này nói ra có thể hơi lạ: người viết văn cầm bút chớ nên nghĩ đến bạn đọc (đương nhiên càng không nên nghĩ đến cấp trên). Chỉ nên nghĩ đến mình, trút hết mình ra vì cái nhu cầu đến như sinh lý của chính mình. Hoặc chỉ nên nghĩ đến một người. Một người có khi đến gần cuối đời anh mới gặp, anh thương yêu một cách hoàn toàn vô lý vô vọng, phi hiện thực, phi “đạo lý” nữa, người anh muốn và biết có thể trao hết, gửi hết, cho hết, trút hết, không giữ gìn, không rào đón, không dành lại chút gì. Tôi tin mỗi người trong đời đều gặp một người như vậy, và bỗng nhiên anh hiểu với anh đó là tất cả. Anh viết cho người ấy. Đối với anh, cuộc đời là người ấy đấy. Người “đàn bà xa lạ” của Kramskoi ấy mà, ngồi kiêu hãnh trong buổi sáng mờ sương Nga… Tất nhiên, đó không phải là vợ. Không ai lại đi nói hết với vợ mọi chuyện, có mà dại! Vợ là nghĩa, văn chương là tình.
…Tôi nghĩ về Nguyễn Khải cũng là để nghĩ về chính mình. Tôi thiếu cái tỉnh của Khải. Còn Khải, có lẽ, lại thiếu cái dại của tôi…
Nguyễn Minh Châu về Văn nghệ quân đội, như tôi đã nói, sau khi tôi đã đi vào Nam. Trước đó tôi có gặp anh một lần trong cái gọi là “Hội nghị bạn viết toàn quân” họp ở chỗ Bộ Quốc phòng bây giờ. Châu là “bạn viết”, cộng tác viên tạp chí Văn nghệ quân đội từ Quân khu 3 về dự họp. Thật tình hồi đó tôi chẳng để ý Châu lắm. Anh mới có một cái truyện ngắn gì đấy.
Ở chiến trường miền Nam tôi đọc của anh Mảnh trăng cuối rừng, Dấu chân người lính… Tôi biết đây là một người có tài.
Đâu khoảng năm 1970 hay 71, thời kỳ rất đen tối sau Mậu Thân, tôi nhận được một mảnh thư rất ngắn của Nguyễn Minh Châu từ Hà Nội gửi vào. Anh viết có mấy chữ: “Ngọc ơi, ra đi. Đừng sa đà trong đó lâu quá. Lùi ra một chút thì mới viết được – Châu.”
Tôi chẳng nghe lời anh. Thời đó chiến trường đang ác liệt quá, bế tắc nữa là khác. Đói, chết, phản bội, mất dân, mất đất… Chúng tôi quần nhau với giặc, nhiều lúc một cách tuyệt vọng, như điên. Bỏ chiến trường, ra Bắc lúc ấy cứ như là đào ngũ. Tôi là thằng giàu tự ái. Tôi quyết không bỏ.
Anh Tố Hữu cũng điện vào giục ra. Tôi lờ đi. Mấy anh em văn nghệ chúng tôi còn lại trên chiến trường Khu 5 tơi bời – Nguyễn Chí Trung, Bùi Minh Quốc, Chu Cẩm Phong, Thái Bá Lợi, về sau có thêm Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Hồng… (Phan Tứ đã ra Bắc từ giữa 1965) – chẳng anh nào còn “làm văn nghệ”. Toàn đi đánh giặc, sa đà lao vào chiến tranh máu lửa…
Mãi sau 1975 tôi mới gần Nguyễn Minh Châu. Và gần nhau, hiểu nhau, quý nhau cũng chậm.
Châu ít nói, lù khù hơi nhà quê, hằng ngày đạp cái xe đạp cọc cạch đến 4 Lý Nam Đế, lúc nào cũng đội cái mũ cối tàng tàng. Khải trắng trẻo thư sinh bao nhiêu, Châu xấu trai quê kệch bấy nhiêu.
Hồi ở Liên Xô làm tủ sách văn học hiện đại Việt Nam 15 tập, Nguyễn Minh Châu và tôi được in chung thành một tập. Tất nhiên có hai cái ảnh tác giả. Ảnh tôi trẻ măng, ra vẻ nghệ sĩ và trí thức. Ảnh Châu đen đủi, có thể nhầm với anh đạp xích lô đâu đó ngoài đường, tuy có mặc com-lê hẳn hoi, đầu đội mũ bê-rê lệch. Tất cả thần sắc dồn ở đôi mắt. Đôi mắt hơi nheo lại, một chút giễu cợt, nhiều ưu tư, nhìn xuyên thấu cuộc đời.
Trong thế hệ chúng tôi, anh là người dũng cảm nhất, người triệt để nhất, người nghệ sĩ nhất, người tài năng nhất.
Ngay từ Dấu chân người lính, rồi sau này đến Miền cháy, trong khi hầu hết chúng tôi còn thao thao anh hùng ca (anh hùng ca say sưa như tôi, hay anh hùng ca gượng gạo như Nguyễn Khải), ở Châu đã manh nha dấu hiệu gì đó khác. Đối với anh số phận từng con người đáng để chú tâm hơn cả cái tổng thể cộng đồng rộng lớn, trừu tượng. Và trong từng con người, hình như anh đã có thiên hướng muốn soi nhìn vào cái cõi u minh huyền ảo nào đó trong họ.
Hình như số mệnh một con người ở đời cũng có ảnh hưởng như thế nào đó đến văn chương của anh, con đường và sự nghiệp sáng tác của anh.
Một hôm Nguyễn Minh Châu đến chơi nhà tôi, tôi thấy anh hốc hác xanh xao quá. Tôi hỏi:
– Ông sao thế? Đi khám bệnh đi.
Anh bảo:
– Ốm nhì nhằng ấy mà… Nhưng gần đây mình cũng thấy mệt quá, cứ hâm hấp sốt.
Anh đi khám ở 108. Chị Doanh vợ anh vốn là y sĩ. Chị đọc tờ phiếu khám, số lượng hồng cầu, bạch cầu, hiểu ra ngay: tai họa lớn nhất của đời chị đã ập đến rồi. Anh bị ung thư máu!
Nguyễn Minh Châu đối mặt với cái chết đến từ từ, chắc chắn, đối mặt với cái hư không thăm thẳm suốt hai năm ròng. Anh giành giật từng ngày, từng ngày, từng ngày để sống, quằn quại đau đớn để viết cho đến hơi thở cuối cùng. Chị Doanh chạy xuôi chạy ngược, hết 108 lại đưa anh vào tận trong Nam, nhờ thầy ở Long Thành, nơi Châu chứng kiến cảnh thập loại chúng sinh tưởng như đem dồn hết nỗi đau khổ của cả loài người quanh ngôi chùa làm phước nhỏ bé này. (Trước khi chết Nguyễn Minh Châu còn nói: Anh định viết một cuốn tiểu thuyết, lấy tên là Cõi người). Long Thành cũng không xong, lại trở ra 108… Anh hoàn thành Phiên chợ Giát trước khi tắt thở có mấy ngày.
Gần đây Tô Hoài nói: Đó là một thiên truyện cực hay. Tô Hoài là người sành sỏi và xưa nay chẳng chịu ai, ta biết rồi.
Riêng tôi, tôi lại muốn nói: Những ai được sống cùng thời với sự ra đời của một tác phẩm như thế, nên biết rằng mình là người có may mắn và hạnh phúc lớn!
Phiên chợ Giát là đỉnh cao của một chặng đường dài Nguyễn Minh Châu. Với nó, chúng ta có một nhà văn lớn, và văn học ta bước sang một bước mới nào đó, khác hẳn về chất. Đó là chuyện đất nước suốt một thời dài, thời chúng ta, với bao anh hùng và đau đớn, với bao sự nghiệp lớn lao và bao cuồng vọng ngớ ngẩn, với bao cái vĩ đại có thật, hiển nhiên và bao cái vĩ đại vớ vẩn hay là vớ vẩn vĩ đại. Đó là chuyện đất đai này, con người VIệt Nam này, thời buổi này, vừa thiêng liêng vừa trần tục, cao cả và bi đát, nghiêm trang và buồn cười. Đó là phiên chợ Giát, phiên chợ đời ngổn ngang, hỗn tạp, ồn ào mà cũng tê tái buồn, tàn bạo và nhân ái, con người trùng trục lầm lụi như con vật và con vật thường khi người hơn con người. Phiên chợ Giát là chuyện đời, đời hôm nay, và đời mãi mãi.
Mà cũng là chuyện con người đối mặt với số phận, với cái vô cùng, cõi hư không. Tôi cứ nghĩ chắc Nguyễn Minh Châu không thể viết được đến thế nếu anh không bị căn bệnh hiểm nghèo ấy, nếu anh không phải đối mặt từng ngày với cái chết. Truyện chỉ có thể viết vào lúc lâm chung…
Để đến Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu đã phải đi một chặng đường dài, âm thầm và rất quyết liệt.
Trong thế hệ chúng tôi, anh là người cảm nhận ra sớm nhất cái yêu cầu thống thiết phải thay đổi, thay đổi một điều gì đó tận gốc, văn học ta. Anh hiểu ra sớm nhất văn học ta, từng đẹp đẽ, hữu dụng, cần thiết lắm một thời – mà chính anh cũng tham gia làm ra cái thời tốt đẹp đó – vẫn có một cái gì đó không phải, chưa phải.
Anh hiểu và làm. Lặng lẽ, ngoan cố, quyết liệt. Từ sau Dấu chân người lính và Miền cháy, anh bắt đầu viết một loạt truyện ngắn. Anh vật lộn đau đớn, khó khăn, quằn quại, mà im lặng, cắn răng lại im lặng, với chính anh, quá khứ của anh, vinh quang hôm qua của anh, thành tựu cũ của anh, vì cái sự phải thay đổi đó, vì cái điều anh đã cảm nhận ra đó. Cảm nhận chắc chắn, nhưng đồng thời cũng còn lờ mờ, lẫn lộn, u u minh minh.
Tôi nhớ hồi ấy có lần anh Nguyễn Văn Bổng bảo tôi:
– Mình đọc mấy cái truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, chẳng hiểu gì cả!
Có lẽ chính Châu cũng không hiểu rõ hết những điều anh đang tìm. Hiểu rõ cả rồi thì còn tìm làm gì!
Đâu khoảng năm 85, 86 có một trận phê phán truyện ngắn Nguyễn Minh Châu khá căng thẳng. Báo Văn nghệ tổ chức một cuộc gọi là hội thảo phê bình, theo chỉ thị của ai đó. Danh sách những người mời đến phát biểu được chọn lọc, duyệt soát kỹ càng. Tôi không được vinh dự có tên trong số đó.
Trước hôm diễn ra cái cuộc ấy, tôi vừa ra cổng thì gặp Nguyễn Minh Châu.
– Này, họ định làm gì ông thế? – tôi hỏi.
– Định làm thịt mình đó mà – anh cười, buồn.
– Mặc!… – anh nói thêm, rồi bỏ đi.
Châu buồn những ngày ấy, tôi biết. Nhưng anh không hề chùn bước. Anh lại viết. Người ta bảo anh: xu hướng “tư sản”, “mới một nửa xã hội chủ nghĩa”… Anh im lặng. Sự im lặng như một lời mặc kệ: Nhảm!
Châu là người quyết liệt. Anh đi nhiều, không tham gia các cuộc cãi vã, đấu đá ở Hà Nội. Đi Quảng Trị, đi Huế, có chuyến tôi cùng đi với anh vào Quảng Nam. Tôi để ý thấy lúc nào anh cũng nhìn mọi việc, mọi người với đôi mắt đượm buồn, không hề bình luận bất cứ chuyện gì. Chỉ cặm cụi đi, cặm cụi viết. Tiếp tục viết cái anh đang tìn, ngoan cố, bất chấp…
Nhưng cũng có lúc anh đột ngột nhảy vào cuộc. Anh đến nhà tôi, bảo như ra lệnh:
– Này, ông phải ra làm báo Văn nghệ đi. Nắm lấy tờ báo, tới lúc cần rồi đấy.
Hôm sau anh đến anh Trần Độ, lại nói chuyện ấy.
Trong khi tôi đang phân vân, cân nhắc, anh giục:
– Đừng chần chừ nữa. Làm đi!
Chính Nguyễn Minh Châu là người đầu tiên “buộc” tôi về làm báo Văn nghệ.
…Hơn năm sau, khi Văn nghệ đang sáng giá, cũng là lúc Châu đã thập tử nhất sinh, một hôm tôi vào thăm Châu ở 108, hai anh em ngồi với nhau suốt một buổi chiều, anh cầm tay tôi, bảo:
– Cậu phải nhớ điều này: Rồi đến lúc “họ” sẽ trả thù. Trả thù dữ tợn đấy. Có thể liên quan đến cả sinh mệnh chính trị nữa kia. Chịu được không?
Tôi có cảm giác lời dặn của anh là một lời trăng trối. Tôi nói:
– Được!
Tôi thấy anh ứa nước mắt.
Những ngày ấy, báo Văn nghệ ra được số nào, tôi cầm ngay vào bệnh viện cho anh. Anh đọc. Và lại dặn:
– Không còn được lâu nữa đâu (anh nói về số phận của tờ báo). Họ căm lắm rồi. Ráng làm những số cuối cùng cho hay.
…Hôm báo Văn nghệ đăng bài Hãy đọc lời ai điếu… của anh, tôi đến hỏi:
– Ông cho tôi cắt bớt đôi chỗ căng quá nhé!
Anh nghiêm mặt:
– Tuyệt đối! Tuyệt đối không cắt một chữ!
Ngày 16 tháng Chạp ta vừa rồi tôi đến thăm chị Doanh: ngày giỗ mãn tang anh Châu. Thế là ba năm rồi đấy, từ ngày Châu ra đi. Vậy mà đến bây giờ còn khối người vẫn đay đi nghiến lại cái bài Ai điếu… của anh. Vẫn những “phủ nhận, xóa toẹt, bôi đen… quá khứ…”, đến nhàm!
Nguyễn Khải có nói: Nguyễn Minh Châu là người dũng cảm nhất trong thế hệ chúng tôi.
Khải thì không dám, nhưng anh thành thật.
Thế hệ chúng tôi và thế hệ tiếp sau hiểu Nguyễn Minh Châu: Anh là người quả cảm nhất dám quyết, đến rớm máu, rứt bỏ một thời vinh quang cũ, để nhọc nhắn, gian nan, đau khổ tìm ra cái mới. Anh là người đi đầu. Người đi đầu nào mà chẳng cô đơn. Và anh đã đến, đúng vào lúc cuối đời.
Vừa rồi, cải mộ cụ Nguyễn Tuân ở Văn Điển, tôi ghé thăm mộ Nguyễn Minh Châu, thấy có mấy bông hồng còn rất tươi. Ai vừa đặt đấy. Ai thế nhỉ?
Tôi cứ tin của một người cầm bút trẻ nào đấy, có lẽ còn vô danh.
Họ khỏe hơn chúng tôi, rảnh rang, thanh thoát hơn. Chẳng phải, chẳng cần “ai điếu” gì cả.
Chúng tôi là thế hệ lót nền.
Nguyên Ngọc
1-3-91
[*] Thơ Olga Berggoltz viết về thành phố Leningrad thời chống Hitler bao vây : “Con người, hãy rắn như đá!”.

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2020

TÔI " ĂN MÀY " TÔI

Tôi đích thực kẻ “ ăn mày “ dĩ vãng

Mải miết nhâm nhi từng giọt thời gian
Miền hoài niệm trở về năm tháng cũ
Lục tìm trong ký ức những trang vàng !

08/7/2020
LẠI VỀ QUÊ

Lại xe giường nằm Phúc Lợi
Rong ruổi dặm trường quán quê
Khê nồng trưa hè chang nắng
Giỗ Cha, không thể không về !

06/7/2020

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2020


ĐỌC TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ “ KẺ SĨ THỜI LOẠN ”CỦA NHÀ VĂN VŨ NGỌC TIẾN


Cuối đông năm Đinh Dậu (2017), nhà văn Vũ Ngọc Tiến chuyển cho tôi đọc tập bản thảo Tiểu thuyết lịch sử “ KẺ SĨ THỜI LOẠN ” của anh. Vậy là, trong mấy năm qua, sau “ SÓNG HẬN SÔNG LÔ”  và “ QUỶ VƯƠNG”, đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử thứ ba về triều Lê tôi được anh trao tặng. Được biết, trước đó anh còn có 3 cuốn tiểu thuyết khác nữa về 3 nhà cải cách Khúc Hạo, Trần Thủ Độ, Đào Duy Từ đã in và tái bản nhiều lần, được Đài phát thanh thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đọc truyện đêm khuya 3 tháng liền trong năm 2008.
Tôi quen nhà văn Vũ Ngọc Tiến khoảng gần 10 năm nay, khi chúng tôi cùng tham gia Trung tâm tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý cho gia đình Liệt sĩ (gọi tắt là Trung tâm Ma Rin). Ở anh, toát lên một con người có kiến thức, vốn sống sâu rộng cùng với sự lịch lãm, tinh tế mà lại thẳng thắn, chân tình với mọi người.
Trong các tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Vũ Ngọc Tiến, với cách viết rất riêng mới của anh, tôi đều chân nhận rằng, văn phong của anh trong sáng, chân thực, phong phú, thấm đẫm tình người, chứa đầy tư liệu lịch sử; Đồng thời, đồng hiện lên những mảng hiện thực đương đại với biết bao ngổn ngang tiêu cực, nghịch lý của xã hội. Với thái độ trách nhiệm công dân, anh trực diện phán ảnh, không hề né tránh. Bằng mạch văn nhẹ nhàng, trầm tĩnh xuôi chảy qua các dòng sự kiện lịch sử và đương đại, anh đã điềm nhiên đưa ra những tư liệu sống động, những luận bàn, đối thoại thẳng thắn mà khéo léo đủ gợi dẫn.
Tôi không phải là người nghiên cứu lịch sử; lại cũng không phải là nhà văn hoặc nhà lý luận phê bình văn học. Tôi chỉ là người lính suốt thời trai trẻ xông pha trận mạc, nhưng yêu thích văn học, ham đọc sách hoặc khi cao hứng thì viết văn, làm thơ. Sau khi đọc khá kỹ tập bản thảo tiểu thuyết “ KẺ SĨ THỜI LOẠN ” dày hơn 200 trang khổ A4 với kết cấu 8 chương của nhà văn Vũ Ngọc Tiến, ở tư cách độc giả, tôi có đôi điều cảm nhận:
Trước hết, tôi hoan nghênh nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã chọn phương pháp khá mới lạ để viết tiểu thuyết lịch sử. Theo tác giả, đây là loại hình “Tiểu thuyết giáo trình” dùng tiểu thuyết để giảng về một phân kỳ lịch sử nên vừa có phần KỂ vừa có phần GIẢNG thông qua hồi ức hoặc lời thoại của các nhân vật xưa và nay. Cách viết này tuy chưa xuất hiện nhiều ở nước ta, nhưng thật sự hấp dẫn người đọc, dễ nhớ và dễ cảm thụ.
Như chúng ta đều biết và yêu thích, Tam quốc diễn nghĩa và Thủy Hử là hai kiệt tác văn học Trung Quốc của hai nhà văn vĩ đại La Quán Trung và Thi Nại Am. Nhiều năm qua, hai kiệt tác văn học đó đã được dựng thành những bộ phim sử thi rất hoành tráng, có giá trị cao cả về tư tưởng và nghệ thuật. Nó giúp cho các thế hệ người Trung Quốc hiểu sâu về lịch sử nước mình ở hai giai đoạn vô cùng phức tạp; đồng thời cho họ những bài học đắt giá về sự hưng phế của các triều đại, cách đối nhân xử thế ở đời. Thử nghĩ, nếu chỉ bằng phương pháp học lịch sử thông thường, làm sao dân nước họ có được những hiểu biết như thế?...
Thời nào cũng vậy, tri thức lịch sử là điều rất cần thiết cho mọi công dân. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, một thực tế là,sự hiểu biết về lịch sử của nhiều người là nông cạn, thậm chí có trường hợp rất ngô nghê khi nói về lịch sử. Trong các trường phổ thông nhiều học sinh ngại môn Lịch sử. Học sinh cho đó là môn phải học thuộc lòng với quá nhiều kiến thức về sự kiện, số liệu, nhân vật, nguyên nhân, diễn biến, kết quả... với bao nhiêu giai đoạn, thời kỳ. Vì thế, với môn Lịch sử các em cảm thấy thiếu hứng thú, học một cách thụ động. Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục lịch sử cho rằng, Chương trình môn Lịch sử hiện hành ở bậc phổ thông nặng về kiến thức cụ thể hơn là kỹ năng, phương pháp phân tích, đánh giá nên việc kiểm tra và đánh giá cũng thiên về “trả bài” hơn thông hiểu, vận dụng, liên hệ thực tế. Điều đó, vô hình chung làm cho các em hiểu lịch sử đơn giản chỉ là nhớ những gì xảy ra trong quá khứ, những chuyện đã qua từ lâu, không liên hệ gì đến hiện tại và càng không có liên quan gì đến tương lai. Thiết nghĩ, đổi mới phương pháp dạy và học môn lịch sử là một vấn đề cực kỳ quan trong. Trong bối cảnh đó, viết tiểu thuyết lịch sử - coi đây như một cách dạy lịch sử - như nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã và đang làm là một việc rất có ý nghĩa, đáng trân trọng.
Trở lại với tiểu thuyết KẺ SĨ THỜI LOẠN , nội dung đề cập trong tiểu thuyết này thực ra là hai cốt chuyện được cài đan xen kẽ nhau sau từng chương. Anh Vũ Ngọc Tiến có nói rằng, câu chuyên thời đương đại như một “ chiếu nghỉ” cho độc giả khi leo lên bậc thang của câu chuyện lịch sử. Với tôi, mỗi câu chuyện có những sắc thái riêng, ý nghĩa riêng. Và cái “ chiếu nghỉ ” đó thật sự cũng không kém phần hấp dẫn người đọc - nhất là đối với bạn đọc trẻ.
Nhìn lại lịch sử nước nhà, số phận bất hạnh đã khiến dân ta chìm đắm trong các cuộc nội chiến lớn: chiến tranh Lê- Mạc (1527- 1592); Trịnh - Nguyễn phân tranh (1592- 1765),; chiến tranh Tây Sơn với các chúa Trịnh, chúa Nguyễn (1771- 1802). Theo đó, vào nửa cuối thế kỷ 18 chiến tranh liên miên giữa các thế lực Đàng Trong, Đàng Ngoài và Tây Sơn, khiến dân chúng một thời gian dài vô cùng cực khổ, chết chóc, loạn ly. Và ngay trong từng thế lực vẫn luôn luôn có các phe phái tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau. Bàn cờ quyền lực trong xã hội Đại Việt nửa cuối thế kỷ 18 với những liên minh và đối địch, tạm thời hay lâu bền, dựa trên căn bản quyền lợi thiết thân được tái hiện một cách phức tạp. Trong thời kỳ lịch sử đó, ngoài những nhân vật lịch sử tiêu biểu nhất như Nguyễn Huệ - Quang Trung, Nguyễn Ánh - Gia Long, thì đi liền theo đó phải kể đến sự xuất hiện nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh (1740- 1787). Và ông cũng chính là đối tượng phản ánh của tác giả cuốn KẺ SĨ THỜI LOẠN ...
Sự thật lịch sử là thế nào khi đánh giá về nhân vật lịch sử Nguyễn Hữu Chỉnh trong một thời kỳ hỗn mang phức tạp của đất nước; làm sao thật công minh, khách quan dựa trên những chứng cứ tư liệu lịch sử cụ thể?
Nguyễn Hữu Chỉnh quê ở làng Cổ Đan (nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) là người bộc lộ trí thông minh từ rất sớm, đến tuổi trưởng thành được học tập rèn luyện trở nên văn võ song toàn. Mặc dù rất giỏi giang và nuôi chí lớn, nhưng cuộc đời ông là cả một bi kịch, long đong lận đận. Bi kịch đời ông là sự nỗ lực bứt phá ra ngoài hoàn cảnh đi tìm minh chủ để thi thố tài năng và cũng đã lập nhiều công lớn. Song, ông luôn bị ngờ vực, đều không được tin dùng (hoặc chỉ tận dụng tài năng của ông khi cần thiết, nhưng vẫn đố kỵ, ngờ vực, sẵn sàng trừ khử ), để rồi nửa đường đứt gánh. Cuối cùng, vào năm 1787, tình thế buộc Nguyễn Hữu Chỉnh phải tự mình làm minh chủ, tự lập một con đường tự giải phóng năng lực và thực hành tham vọng chính trị của mình, dẫn quân Cần Vương về Thăng Long tạo ra một bước ngoặt lịch sử. Nhưng đáng tiếc, do không gặp thời, ông không thỏa nguyện, bị thất thế và phải ngậm oan, bị hành hình chết thảm. Cái chết của Nguyễn Hữu Chỉnh là bi kịch chung cho giới kẻ sĩ Bắc Hà giữa thời tao loạn, vận nước suy vi.
Từ xưa đến nay, khi đánh giá về Nguyễn Hữu Chỉnh, các nhà nghiên cứu lịch sử và phần đông người đời đều coi ông là nhân vật lịch sử khá phức tạp, mang tính 2 mặt “anh hùng & gian hùng” -  Trong đó mặt “ gian hùng ” và “ cơ hội ” được coi là nổi trội, chính yếu”. Sự thật lich sử là thế nào?!
Tôi thật sự tâm đắc khi đọc bài “ CON CẮT BIỂN” của Nguyễn Thị Chân Quỳnh. Có thể nói, đây là một bài viết công phu, có cái nhìn khách quan, toàn diện và phân tích kỹ về con người Nguyễn Hữu Chỉnh trên từng phương diện. Bằng sự viện dẫn đánh giá về Nguyễn Hữu Chỉnh của sử gia và những người đương thời như: Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Huệ, Vũ Văn Nhậm, … Thực ra, tất cả đều là những lời nói từ một phía, xuất phát từ sự đố kỵ, ghen ghét, nghi kỵ để rồi kết tội Nguyễn Hữu Chỉnh là bất trung, phản trắc, lật lọng. Nhưng khi xem xét các cứ liệu lịch sử - cả phát ngôn lẫn hành động của Nguyễn Hữu Chỉnh - ngay từ thời theo Quân Việp - Hoàng Ngũ Phúc, Quận Huy - Hoàng Đình Bảo và sau đó phò tá Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, rồi phò tá Vua Lê, thì chưa tìm thấy bất cứ chứng cứ nào thể hiện sự bất trung, phản trắc của ông. Có câu chuyện sau khi giành được Phú Xuân, Nguyễn Hữu Chỉnh hiến kế với Nguyễn Huệ thừa thắng tấn công đánh Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, thì Nguyễn Huệ do dự ngại ngần lo sợ sự chống đối của kẻ sĩ Bắc Hà. Trước tình cảnh đó, Nguyễn Hữu Chỉnh tỏ ra thực thà đến thành vụng về khi nói: "Nhân tài Bắc hà chỉ có mình tôi mà thôi". Ðó là sự thực, bằng cớ là vua Lê Chiêu Thống mấy lần phải triệu Chỉnh ra cáng đáng việc nước. Chính sự vụng về này, chứng minh Nguyễn Hữu Chỉnh chưa hề nghĩ đến chuyện bỏ Tây Sơn. Mãi tới khi anh em nhà Tây Sơn bí mật lẳng lặng quay về Nam, bỏ Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Thăng Long với ý định mượn tay các sĩ phu Bắc Hà trừ khử, thì tới bước đường cùng Nguyễn Hữu Chỉnh mới tự lựa chọn cho mình một lối khác. Như vậy là, từ đầu đến cuối, những người khác có âm mưu và hành động diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Còn lại, không có dấu hiệu Nguyễn Hữu Chỉnh có hành động “ gian hùng” chống lại các chủ cũ của mình cũng như đối với anh em nhà Tây Sơn và Vua Lê. Nhìn một cách tổng thể, Nguyễn Hữu Chỉnh là một viên tướng giỏi, văn võ song toàn, có công lớn trong việc phò giúp Tây Sơn đánh sập hai tập đoàn phong kiến Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, trước sau ăn ở có nghĩa khí không kém ai, hành động tàn nhẫn không hơn ai, song gặp toàn nghịch cảnh, suốt đời lận đận. Ðã không gặp thời, không thỏa chí nguyện, ngậm oan chết thảm mà còn bị người đời phỉ báng. Khách quan mà nói, lịch sử đối xử với Nguyễn Hữu Chỉnh là oan uổng, chưa công bằng.
Lịch sử diễn ra một lần, nhưng viết lại lịch sử, định vị giá trị của lịch sử - trong đó có những nhân vật là trung tâm lịch sử - thì lại diễn ra nhiều lần và có nhiều trường hợp có cách thể hiện trái chiều, đối nghịch nhau. Điều đó cũng là bình thường, dễ hiểu. Lệ thường, sự đánh giá sự kiện và con người lịch sử đều qua lăng kính và theo tâm thế chủ quan của người cầm bút. Mà nói chung, ở mọi thời đại, người viết sử đều là viết theo (tuân theo) ý chí của thế lực cầm quyền. Lịch sử là khách quan, công bằng. Để đạt được sự khách quan, công bằng khi đánh giá một sự kiện, một nhân vật lịch sử, trong nhiều trường hợp là không dễ chút nào. Có nhiều người bị oan khiên rất nhiều năm, sau đó mới được chiêu tuyết. Với độ lùi của thời gian, kết cục của lịch sử và những chứng cứ tư liệu lịch sử xác đáng, người ta có thể giũ bụi thời gian, gạt bỏ những định kiến hình thành từ nhà cầm quyền và cả trong giới sử học cũng như của dân chúng trong quá khứ.
Thành công của nhà văn Vũ Ngọc Tiến khi viết tiểu thuyết lịch sử ĐỜI KẺ Sĩ là đã dựng lên một bức tranh toàn cảnh có hồn và rất chi tiết về cuộc chiến, về sự tranh giành thế lực giữa các bên, với nhiều sự kiện lịch sử sống động, đa dạng phong phú và những nhân vật có tính cách, sở trường, sở đoản riêng. Điều đó làm cho người đọc cảm thấy thật sự hấp dẫn trên từng trang sách.
Cùng với quá trình tái hiện lịch sử, với cách viết 2 trong 1, tác giả Vũ Ngọc Tiến viết thêm cốt truyện ở thì hiện tại về cuộc tình éo le giữa trí thức Duy Thiện và nghệ sĩ Hoàng Lan. Họ đều xuất thân thân từ gia đình trí thức danh giá, đã có nhiều công lao đối với cách mạng. Toàn bộ cốt truyện ở thì hiện tại xoay quanh cuộc giải thoát cho Duy Thiện khỏi Viện tâm thần tỉnh H do Hoàng Lan và những người bạn thực hiện. Cặp đôi Duy Thiện - Hoàng Lan gắn bó với bao kỷ niệm từ thuở ấu thơ - một tình yêu học trò thơ mộng. Như một cơ duyên, năm 1966 học hết cấp 3 hai người cùng được phân công đi du học ở Nga. Trong hoàn cảnh mới, tình yêu của họ như được chắp cánh với những khát vọng và những dự định đẹp đẽ cho tương lai.
Bố Duy Thiện là học giả Nguyễn Hữu Đăng - hậu duệ của Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh - nhà trí thức danh tiếng có công tham gia sáng lập câu lạc bộ Khai Trí Tiến Đức hồi đầu thế kỷ 20 thời thuộc Pháp. Ông đã ủng hộ Chính phủ gần như toàn bộ tiền bạc của gia đình trong tuần lễ vàng năm 1946 và tình nguyện đưa cả gia đình lên Việt Bắc kháng chiến chống giặc.Trong chiến dịch thu đông năm 1947, giặc Pháp đã điên cuồng bắn chết cả hai ông bà và 5 đứa con lớn. Duy Thiện là đứa con út mới 20 tháng tuổi may mắn còn sống sót. Đến tuổi trưởng thành, Duy Thiện là một con người thông minh, vốn kiến thức phong phú sâu rộng, tính cách thẳng thắn, bộc trực. Sau khi tốt nghiệp Tiến sỹ ngành Di truyền học ở Nga, về nước anh “ bị ” phân công làm việc trái nghề tại Trung tâm Khoa học Kỹ thuật nông lâm sản thuộc Ủy ban Khoa học Kỹ thuật tỉnh H và là người thực thi công việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của những con người dốt nát, bất tài, thực dụng.
Bước vào thời đất nước mở cửa, tỉnh H ồ ạt tiếp nhận đầu tư nước ngoài, các khu công nghiệp mọc lên, thêm chủ trương xây dựng mở rộng thị xã nâng cấp lên thành phố. Đi liền theo đó là sự cấu kết trục lợi tham nhũng của những người chủ trì trong bộ máy quyền lực, hình thành “ nhóm lợi ích ” - thực chất đó là băng nhóm maphia - thao túng cả chính trị và kinh tế ở địa phương với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm.
Với sự hiểu biết và bản lĩnh của mình, Duy Thiện đã làm gửi đơn khắp nơi tố cáo tình trạng tham nhũng, ô nhiễm môi trường của tỉnh H. Hơn nữa, anh còn giúp nông dân làm văn bản đấu lý chính quyền trong việc cưỡng chế giải phóng mặt bằng. Bởi thế, các thế lực “ lợi ích nhóm” coi Duy Thiện là một “ cái gai ”, một phần tử nguy hiểm cần phải dẹp bỏ. Họ đã vu khống anh bị bệnh điên và tống anh vào Bệnh viện Tâm thần. Từ người khỏe mạnh bình thường nhưng được cấp có thẩm quyền “ chỉ thị ” nhốt cách ly và “điều trị bằng các toa thuốc đặc hiệu”, thì Duy Thiện đích thị trở thành một người tâm thần nặng. Thực chất, Duy Thiện cũng là một mẫu bi kịch của một kẻ sĩ thời nay.
Hoàng Lan là con gái của học giả Hoàng Thiếu Bảo - một trí thức yêu nước, là Đại biểu Quốc hội và là Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc thành phố. Từ thuở thiếu thời Hoàng Lan đã xinh đẹp, càng lớn càng xinh đẹp, một vẻ đẹp kiêu sa như các tiểu thư quyền quý. Nhưng một tai nạn chính trị của gia đình đã ập đến, nó là biến cố như là sự đun đẩy của thời cuộc và số phận. Năm 1967, vị học giả danh tiếng Hoàng Thiếu Bảo bị oan khiên, bị bắt giam vì được cho là dính dáng đến một vụ án chính trị của thời đó.Thời gian học giả Hoàng Thiếu Bảo bị bắt giam và chết trong tù thì gia đình ông rơi vào sự khủng hoảng, hệ lụy trầm trọng, cay đắng xót xa. Năm 1971, sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Tchaicovsky ở Nga, Hoàng Lan sang định cư ở Pháp rồi sau ở Mỹ và số phận đã xui khiến bà gặp được David Brown - chàng trai người Mỹ giàu có, tốt bụng, mê nhạc cổ điển và hết lòng thương yêu vợ. David Brown chết trong một vụ tai nạn máy bay khi đi làm từ thiện ở Châu Phi. Nhiều năm sau đó, Hoàng Lan được thừa kế khối tài sản khá lớn từ gia đình chồng, và bà vẫn kiên trì thực hiện tâm nguyện của chồng, trích nửa phần tài sản thừa kế làm từ thiện cho các nước nghèo ở châu Phi, Mỹ La Tinh. Lần này về nước bà đã tìm được Duy Thiện, hy vọng nối lại tình xưa. Bà cũng có nguyện vọng chuyển tiền về nước đầu tư một một dự án nhân đạo cho bệnh nhân dân nghèo và vài dự án kinh tế cho người thân... Sau biết bao biến cố trong cuộc đời, với khát vọng cháy bỏng, nay nhà trí thức Duy Thiện và nghệ sĩ- đại gia Hoàng Lan được may mắn tái ngộ trong ngập tràn hạnh phúc. Đấy là một kết cục có hậu.
Trên “ cái chiếu nghỉ ”- tức là nói về câu chuyện của thời đương đại - trong tiểu thuyết KẺ SĨ THỜI LOẠN ngoài nhân vật trung tâm là Duy Thiện, Hoàng Lan, nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã đưa ra nhiều mẫu nhân vật, nhiều sự kiện, nhiều chi tiết, nổi lên nhất là về sự tha hóa, biến chất của những cán bộ có chức có quyền với những âm mưu thủ đoạn tham nhũng kinh tế lẫn chính trị ở tỉnh H, gây cho nhân dân biết bao thiệt hại. Đó như sự cập nhật thông tin với những trang văn mang hơi hướng phóng sự điều tra các vụ án.
Bao giờ và ở đâu cũng vậy, đặc trưng của xã hội là sự đan xen giữa cái tốt đẹp và cái xấu xa. Vấn đề là sự khác nhau về tính chất, quy mô và phạm vi ảnh hưởng. Khi cái tốt thắng thế thì xã hội thịnh vượng. Ngược lại, khi cái xấu lên ngôi, thì xã hội suy vi. Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh giữa một bên là những người trung kiên vì lợi ích của nhân dân, của cộng đồng với phía bên kia là đại diện cho lợi ích nhóm, diễn ra quyết liệt, lâu dài, một mất một còn, mà nhiều khi chưa phân thắng bại.
Đôi điều cảm nhận của tôi về tiểu thuyết KẺ SĨ THỜI LOẠN là vậy. Những đánh giá về văn chương, học thuật xin nhường lời cho các nhà phê bình, lý luận văn học.
Chân thành cám ơn nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã gửi bản thảo cho tôi đọc trước khi ra mắt một tiểu thuyết hay, có nhiều ý nghĩa!

                                  Mỹ Đình, Tháng Chạp năm Đinh Dậu


   ĐÔI ĐIỀU ĐƯỢC BIẾT VỀ
TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO


Biết tôi ham đọc sách, thích tìm hiểu nghiên cứu các chuyên để khoa học xã hội và nhân văn, GS Nguyễn Đình Chú (với tư cách tham gia tổ chức và là người đầu tiên trình bày tham luận khoa học) mời tôi đến dự Hội thảo khoa học quốc tế “Tư tưởng triết học và giáo dục của Trần Đức Thảo” được tổ chức tại Đại học Sư phạm, ngày 7/5/2013. Tôi vui vẻ nhận lời, bởi đây là một dịp hiếm được biết về Trần Đức Thảo - Triết gia duy nhất của Việt Nam trên trường quốc tế - người mà GS Nguyễn Đình Chú (vốn là học trò yêu, sau đó khi tốt nghiệp Đại học, đỗ thủ khoa, được Nhà trường giữ lại làm trợ lý của Giáo sư Trần Đức Thảo) trọn đời kính trọng. Thêm nữa, tôi có một người bạn thân là Tiến sĩ Triết học rất ngưỡng mộ về tài danh của Triết gia Trần Đức Thảo. Mấy lần bạn tôi kể vắn tắt cho tôi nghe về giai thoại tranh luận dang dở giữa Trần Đức Thảo và Jean Paul Sartre xoay quanh chủ đề Hiện tượng học của Husserl với Chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác. Mặc dù chăm chú cố tiếp thu, nhưng quả thật, trước những vấn đề học thuật lớn lao, với khả năng rất hạn chế, tôi chẳng hiểu được mấy, ngoài niềm kính trọng tự hào về Triết gia Trần Đức Thảo - một người Việt Nam xuất chúng trong giới học thuật thế giới.
 Dù rất háo hức, nhưng là người trái nghề, tự thấy mình lạc lõng, tôi khó thoát khỏi tâm lý tự ti, mặc cảm khi đến dự một cuộc Hội thảo khoa học lớn. Thầy Nguyễn Đình Chú xuống tận sảnh tầng 1 đón tôi lên Hội trường K1. Bước vào Hội trường, tôi tự chọn cho mình một chỗ ngồi thật khiêm nhường, dĩ nhiên là ngồi trước các sinh viên Khoa Triết của ĐHSP. Tại đó, tôi nhìn bao quát được toàn cảnh Hội trường, lặng lẽ theo dõi đầy đủ cuộc Hội thảo. Yên vị, quan sát một lượt, tôi thấy Hội trường thật sang trọng, được bài trí rất hoành tráng. Sự hiện diện của nhiều nhà khoa học sáng danh, nhiều Giáo sư, Tiến sỹ đầu đàn, “là cây đa, cây đề” của giới triết học nước nhà, như: GS.TSKH Phạm Minh Hạc, GS.TS Hoàng Chí Bảo, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, GS Hà Minh Đức, GS.TS Lê Hữu Nghĩa, …cùng nhiều cán bộ của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội càng làm cho tôi “choáng, ngợp”. Không choáng ngợp sao được. Về phương diện triết học, tôi không được đào tạo chuyên sâu, chỉ được học lõm bõm qua các bậc học. Và nhất là, tôi không có học hàm, học vị gì. Ở đâu và bao giờ cũng vậy, chuyên ngành học thuật có bao giờ dành chỗ cho hết thảy. Nói cách khác, tri thức không chia đều bình quân cho mọi người. Người duy nhất mà tôi quen từ nhiều năm trước đang ngồi ở hàng ghế đầu là GS.TS Lê Văn Quang, nguyên Chủ nhiệm Khoa Triết ở Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng, nhưng vì ngồi từ xa mà tôi xét thấy không tiện gặp.

 Cuộc Hội thảo được thể hiện trên 3 phần : Con người và sự nghiệp Trần Đức Thảo; Tư tưởng triết học Trần Đức Thảo; Các lĩnh vực khoa học khác trong tư tưởng Trần Đức Thảo. Có nhiều tham luận đề cập một cách phong phú, sâu sắc trên từng khía cạnh của nhiều lĩnh vực, xoay quanh chủ đề Hội thảo là “Tư tưởng triết học và giáo dục của Trần Đức Thảo”.
Với tôi, do nhiều hạn chế vốn có, tôi chỉ nghe và đọc lại 3 tham luận mà tôi cho là hay nhất: Tham luận đầu tiên của GS Nguyễn Đình Chú với nhan đề “Triết gia Trần Đức Thảo - niềm tự hào của chúng ta”. Kế đến, tham luận của GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn: “ Trần Đức Thảo - một nhân cách, một nhà triết học tư duy không mệt mỏi”. Tiếp theo, tham luận của GS Hà Minh Đức: “Nhớ thầy Trần Đức Thảo - một triết gia thông thái, một nhân cách cao đẹp”. Qui định của Ban tổ chức là mỗi tham luận chỉ được 10 phút, nhưng cả ba vị giáo sư đều trình bày quá thời gian. Thế mà xem ra, cả người trình bày và người nghe vẫn cảm thấy thòm thèm.
Tham luận của GS Nguyễn Đình Chú , Khoa Ngữ văn, phác thảo chân dung MỘT CON NGƯỜI được mệnh danh là triết gia duy nhất của Việt Nam, một người Việt Nam có thanh danh lớn nhất trên trường quốc tế về học thuật: Trần Đức Thảo. Tập trung thể hiện trên 5 phần: Trần Đức Thảo: người con xuất chúng của Bắc Ninh-Kinh Bắc, “cái nôi của người Việt, của văn hóa Việt”. Trần Đức Thảo: một người Việt nam trọn đời yêu nước với nhiều biểu hiện, đặc biệt là từ giã Pari hoa lệ để về nước tham gia kháng chiến giữa những ngày gian khổ, ác liệt. Trần Đức Thảo: một lưu học sinh làm vẻ vang cho Tổ quốc Việt Nam trên đất Pháp với tấm bằng thủ khoa thạc sĩ triết học mà đến nay chưa có người thứ hai. Trần Đức Thảo: vị triết gia duy nhất của Việt Nam trên trường quốc tế với những hành động, những tác phẩm nổi trội, có ý nghĩa phát triển chủ nghĩa Mác theo hướng “duy vật biện chứng nhân bản”. Trần Đức Thảo: người sáng lập bộ môn lịch sử triết học dưới chính thể Việt nam dân chủ cộng hòa tại Đại học Sư phạm Văn khoa (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội).
Tại Đại học Sư phạm, khóa học 1954 - 1957, thế hệ sinh viên hồi đó thật may mắn được thụ giáo bởi những những nhà khoa học, những bậc danh sư - như một giàn sao sáng trên trời, một đi không trở lại - như: Đặng Thai Mai, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Khánh Toàn, Phạm Huy Thông, Trần Văn Giàu, Nguyễn Lân, Nguyễn Lương Ngọc, Hoàng Xuân Nhị,…Các sinh viên thời đó mà phần đông sau này đều thành danh trong sự nghiệp, nhiều người trở thành những GS.TS tiêu biểu.

GS Nguyễn Đình Chú - người có thâm niên 55 năm trên bục giảng Đại học Sư phạm, bồi hồi xúc động đến nghẹn ngào kể lại những kỉ niệm của mình khi được học rồi tiếp đó là trợ lý của thầy mình - Triết gia Trần Đức Thảo. Ông kể rằng, hồi đó tại Đại giảng đường 35 Lê Thánh Tông từ phòng chính cho đến chuồng gà hầu như hôm nào có giờ giảng của Giáo sư Trần Đức Thảo thì đều chật ních và tĩnh lặng. Có hiện tượng lạ như thế là vì tiếng đồn về Giáo sư quá lớn. Nào là đậu Thạc sĩ triết học của Escole Normale ở phố Ulm - trường danh tiếng nhất của nước Pháp- thắng Jean Paul Sartre trong cuộc tranh luận, bỏ Pari hoa lệ về nước tham gia kháng chiến. Theo hồi tưởng của GS Nguyễn Đình Chú, thì Triết gia Trần Đức Thảo trên tư cách là một nhà giáo, quả là một hiện tượng kỳ lạ chưa từng thấy trong ngành sư phạm. Thầy Trần Đức Thảo có cá tính độc đáo, chỉ coi trọng chiều sâu học thuật, không câu nệ bề ngoài - thậm chí bất chấp mọi khuôn mẫu, chuẩn mực mô phạm thường thấy xưa nay của người thầy giáo trên bục giảng. Bởi thế, các đồng nghiệp, học trò vô cùng yêu mến, kính trọng thầy mà nhận xét vui rằng: Thầy Thảo có bề ngoài như là phi sư phạm nhưng thực chất lại là “đại siêu sư phạm”. Thầy Thảo thường đến lớp trong tay không một mẩu giáo án, không ngồi ở ghế mà ngồi ghé mép bàn, không hề nhìn sinh viên, chỉ nhìn ngược lên trần nhà giảng đường, mà tiếng nói thì lúng búng, thỉnh thoảng tự mỉm cười. Thế mà cô cậu sinh viên nào cũng tỏ ra mình hiểu. Nếu không thì tự nhận là mình dốt sao? GS Nguyễn Đình Chú cho rằng, sở dĩ, ông có được những kết quả trong đời thì trước hết nhờ có sư phụ Trần Đức Thảo. Bởi chính Thầy Trần Đức Thảo đã gieo vào mình một ám ảnh suốt đời phải đeo đẳng và phấn đấu là sự thèm khát suy nghĩ, thèm khát một năng lực tư duy trừu tượng khoa học, dù ít dù nhiều, cái mà thầy đã có. Mặc dù trong đời sống có nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng nghiên cứu khoa học thì bao giờ cũng rất, rất cần đến năng lực tư duy đó. Nói “đại siêu sư phạm” là thế. Không chỉ phát sáng cho học trò mà cao hơn nữa là làm sao gieo được vào học trò một nỗi ám ảnh suốt đời để học trò theo mình mà tự phát sáng dù ở lĩnh vực nào.
Kết luận bài viết, sau khi nói lên vị thế của Triết gia Trần Đức Thảo, GS Nguyễn Đình Chú nhấn mạnh: một đất nước muốn trở thành một đất nước hùng cường, sánh vai với năm châu thế giới không thể không có triết học.

GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trong bài tham luận: “Trần Đức Thảo, một nhà triêt học tư duy không mệt mỏi” đã tập trung khắc họa chân dung và nhân cách của nhà triết học Trần Đức Thảo với khả năng tư duy không mệt mỏi vì sự nghiệp khoa học. Ông là một nhà khoa học, một trí thức biết dấn thân, biết vượt qua khó khăn, những sự thù nghịch để trọn đời theo đuổi chân lý, đến với chủ nghĩa Mác - con đường đúng đắn để giải quyết vấn đề cơ bản về phần lý luận khoa học để đấu tranh đòi tự do cho dân tộc. Sự nghiệp và nhân cách của ông rất đáng được kính trọng, rất đáng được tôn vinh và thật sự đã được tôn vinh dù có hơi muộn màng. Trước những năm 80 của thế kỷ XX, Trần Đức Thảo (1917- 1993) được giới triết học phương Tây biết đến nhiều hơn những người nghiên cứu và giảng dạy triết học ở Việt Nam đọc ông, biết đến các công trình của ông và hiểu ông.
Theo GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, khi ông đang làm nghiên cứu sinh triết học tại Liên Xô (cũ), trong một buổi báo cáo khoa học, một phụ nữ không quen biết đến ngồi cạnh và hỏi, ông có phải là người Việt Nam không. Ông trả lời, vâng, đúng thế! Bà ta hỏi tiếp, ông có quen nhà triết học Trần Đức Thảo không. Ông Chuẩn trả lời rằng, tôi có biết nhưng chưa bao giờ được gặp ông ấy. Bà ta tỏ vẻ ngạc nhiên và nói ngay rằng, tôi rất thích cuốn “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng” của Trần Đức Thảo bằng tiếng Pháp”. Hóa ra là, Trần Đức Thảo không chỉ được giới triết học phương Tây mà cả giới triết học Liên Xô lúc bấy giờ cũng đã biết đến ông từ trước đó.
Tiếc rằng, ở trong nước có không ít người nghe đến tên ông Trần Đức Thảo nhưng lại chỉ biết về ông như là người có liên quan đến vụ “Nhóm nhân văn”. Việc ông không được nhiều người biết đến là do các công trình của ông dù được viết tại Việt Nam hay được viết tại Pháp, rồi được dịch ra nhiều thứ tiếng khác và được xuất bản ở các nước như Hunggari, Anh, Mỹ, Tây Ban Nha, Nhật Bản,…Ngoài ra, cũng có thể, suốt một thời gian dài ở nước ta những công trình nghiên cứu mang tính khoa học đều bị coi là thứ xa xỉ, là xa lạ rời thực tế. Người ta chỉ chăm chăm vào những cái gì mang tính minh họa hoặc thuyết minh. Hơn nữa, trong nhiều năm, việc công bố hoặc truyền bá những gì dính dáng tới những người có liên quan đến vụ “nhân văn” là điều tối kỵ và thậm chí không được phép. Những nguyên nhân cốt tử đó đã không thể đưa các tác phẩm của Giáo sư Trần Đức Thảo đến với công chúng rộng rãi cũng như những người giảng dạy triết học nhưng không thông thạo tiếng Pháp, không trực tiếp sử dụng được Pháp ngữ.
Suốt trong nhiều năm, từ cuối nhứng năm 50 cho đến cuối đời, nhà trí thức lớn Trần Đức Thảo dù bị o ép và sống trong cảnh túng thiếu, không có chỗ để sách, không có nơi làm việc, nhưng ông vẫn không ngừng công việc nghiên cứu của mình. Đặc biệt, từ đầu năm 1988, sau khi chuyển vào thành phố Hồ chí Minh, cuộc sống của ông càng khó khăn hơn. Trong mọi khó khăn, Trần Đức Thảo không đánh mất mình. Suốt những năm sau khi về nước, ông kiên trì theo đuổi các công trình nghiên cứu và nhờ đó các bài báo, các công trình được đăng cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài.
Sự nghiệp và cuộc đời của Trần Đức Thảo là sự nghiệp của một nhà khoa học biết dấn thân, biết vượt qua những khó khăn, những sự thù nghịch để trọn đời theo đuổi chân lí.

GS Hà Minh Đức, nguyên Viện trưởng Viện Văn học - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tham luận báo cáo chủ đề: “Nhớ thầy Trần Đức Thảo, một triết gia thông thái, một nhân cách đẹp”. Bài viết hồi tưởng lại những ấn tượng sâu sắc của một học trò đã trực tiếp được Giáo sư Trần Đức Thảo giảng dạy các bài giảng Lịch sử tư tưởng triết học. Cuộc đời Giáo sư Trần Đức Thảo dù gặp phải những vất vả, nhưng thầy không hề oán giận, trách móc. Thầy vẫn lặng lẽ sống, chịu đựng, quan tâm đến nghiên cứu khoa học, nhận những công việc được giao phó và hoàn thành có trách nhiệm. Với tư cách là một nhân chứng lịch sử, GS Hà Minh Đức khẳng định tầm vóc trí tuệ và nhân cách trong sáng của thầy mình - Giáo sư Trần Đức Thảo.

GS Hà Minh Đức kể rằng, hồi đó, thầy Thảo dạy về triết học duy tâm chủ yếu là phương Tây. Giáo trình dài nhưng phần nhập tâm nhiều hơn đối với sinh viên là triết học trước Mác với các tác giả nổi tiếng như Kant, Phơbach, Hégel…Là một nhà duy tâm nổi tiếng, Trần Đức Thảo bắt đầu từ đâu với triết học duy vật biện chứng. Nghe nói, hồi đó có một vị lãnh đạo nói với GS rằng, anh không thể bước từ đỉnh của triết học duy tâm sang đỉnh của triết học duy vật, mà phải đi xuống đã, rồi từ dưới leo lên đỉnh cao của triết học duy vật. Mỗi khi thầy vào lớp, mọi người đứng dậy chào, thầy khẽ gật đầu và bắt ngay vào giảng, tay cầm micro nói một hơi cho tới giờ nghỉ. Thầy lên văn phòng một lúc rồi quay về lớp giảng tiếp một hơi cho đến kết thúc. Không nói hùng hồn, hùng biện như các thầy Trần Văn Giàu và Trương Tửu mà giọng nói đều đều không vội vàng, không vấp váp như nước trong nguồn chảy ra. Phải có một tư duy hệ thống có logic chặt chẽ trong cấu tạo ý tưởng mới có thể chuyển tải bài giảng dài không hề lệ thuộc vào sách vở. Có lúc một tay thầy cầm micro, một tay đút túi quần, mắt như nhìn sinh viên mà không nhìn vào ai cụ thể. Lớp cử ra hai người là Nguyễn Đình Chú và Phạm Hoàng Gia, hai sinh viên thông minh, giỏi và chữ đẹp, viết nhanh để ghi lại lời thầy. Không có ghi âm hoặc yếu tố nào hỗ trợ, hai sinh viên Nguyễn Đình Chú và Phạm Hoàng Gia được dành 2 ghế ở hàng đầu có đánh dấu phấn để tiện công việc. Về xem lại phần ghi chép và gửi đến thầy, thầy chỉnh lí và cho in. Giờ học sau, cả lớp đã có bài giảng chu đáo, kịp thời. Có người nói vui, thầy nào cũng như thầy Thảo thì việc viết sách giáo khoa rất thuận tiện, mà chẳng tốn kém như bây giờ. Giáo trình Lịch sử tư tưởng triết học đã ra đời như thế. Nhưng điều đáng quí là, đã tạo cho sinh viên làm quen với tư duy trừu tượng. Một nhược điểm không dễ khắc phục với lối nghĩ cảm tính và cảm nhận cụ thể. Quá trình khái quát hóa và trừu tượng hóa rất cần cho học tập và nghiên cứu khoa học của mọi người. Người ta thường nhắc đến khả năng trừu tượng hóa siêu việt của Hégel và sau này một số triết gia phương Tây tiếp nối được.
Theo GS Hà Minh Đức, từ Việt Bắc về Hà Nội, Giáo sư Trần Đức Thảo vẫn giữ được vốn quí triết học, nhưng về chính trị thầy chưa trải nghiệm qua nhiều thử thách. Đúng lúc phong trào Nhân văn giai phẩm xuất hiện, Giáo sư Trần Đức Thảo đã viết bài: Nỗ lực phát triển tự do dân chủ (đăng Nhân văn số 32, 15-10-1956). Trong đó tác giả đề cao, nhấn mạnh đến yêu cầu tự do phát triển cá nhân; phê phán những tư tưởng làm hạn chế sự phát triển của xã hội như : quan liêu, bè phái, giáo điều, sùng bái cá nhân. Kết quả là, Giáo sư Trần Đức Thảo bị ngừng giảng dạy, một số cuộc họp trong Trường ĐHSP phê phán Giáo sư Trương Tửu và Giáo sư Trần Đức Thảo khá nặng nề. Sau nhiều năm chịu đựng nhiều vất vả, nhưng Giáo sư Trần Đức Thảo không hề oán hận, trách móc, thầy vẫn lặng lẽ sống và quan tâm đến nghiên cứu khoa học.
Tháng 9-2000, Giáo sư Trần Đức Thảo được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh - đây là sự giải tỏa, điều minh oan cho Thầy.

Giải thưởng Hồ Chí Minh mà Nhà nước truy tặng Giáo sư Trần Đức Thảo là căn cứ trên hai công trình khoa học tiêu biểu nhất của ông : “Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng” , “Tìm hiểu nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức”.
Được biết, Triết gia Trần Đức Thảo để lại cho đời hơn 15.000 trang viết bằng 3 thứ tiếng: Việt, Pháp, Đức. Chỉ riêng công trình Danh mục về di sản của Giáo sư Triết học Trần Đức Thảo do cố Tiến sĩ Cù Huy Chữ sưu tầm biên soạn cũng đã gần 700 trang. Có thể nói, trên đất nước ta thật hiếm có được người như ông.
Sự nghiệp và thanh danh của Triết gia Trần Đức Thảo to lớn như thế, nhưng nội dung triết học cụ thể của ông là gì, thì đối với số đông học giới Việt Nam ta, xem ra lại là điều không dễ dàng. Theo GS Nguyễn Đình Chú, một người muốn hiểu được một cách tương đối thấu đáo về tư tưởng triết học của Triết gia Trần Đức Thảo, thì phải phải hội đủ 4 điều kiện cần thiết là: Về ngoại ngữ, phải thành thạo tiếng Pháp và tiếng Đức. Phải có trình độ nhất định về triết học thế giới - đặc biệt là triết học phương Tây. Phải có hiểu biết tới mức cần thiết của khoa học tự nhiên (cứ nhìn những sách tham khảo một cách uyên bác mênh mông của Triết gia sẽ thấy phải như thế). Quan trọng hơn nữa là, phải có năng lực tư duy trừu tượng khoa học như thế nào đó thì mới thâm nhập được vào tác phẩm của Triết gia, trong khi đất nước mình vốn có thế mạnh về tư duy cụ thể mà nghèo về tư duy trừu tượng.
Về tài năng to lớn của Giáo sư Trần Đức Thảo, có thể khái quát gọn trong một câu khẳng định của Giáo sư Trần Văn Giàu: “Mình không có truyền thống triết học. Nếu có thể nói, có một nhà triết học thì người đó không phải là Trần Văn Giàu - Trần Văn Giàu là một giáo sư triết học hay nhà nghiên cứu triết học. Người đó chính là Trần Đức Thảo”.


Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

LỜI BÌNH VỀ MỘT TẬP THƠ

Sáng nay, 20/6/2020, vào Fb thấy Tập thơ Tiếng vọng thời gian của Đại tá, PGS.TS Vũ Đăng Hiến đã được NXB Hội Nhà văn xuất bản.
Sau Tập thơ Màu cát tôi yêu, đây là Tập thơ thứ hai, Vũ Đăng Hiến “ trình “ làng. Xin chúc mừng Anh !
Là người cùng xã, cộng thêm chút “ máu “ văn chương dù không chuyên
nghiệp, tôi đều được Vũ Đăng Hiến mời viết Lời bình cho cả hai Tập thơ.

Vẫn biết, “ điếc không sợ súng “, tôi đưa lên mạng Fb để bà con coi thử. Xin mọi người coi đây như là sự quảng bá về thơ Vũ Đăng Hiến vậy !
ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỚI “ TIẾNG VỌNG THỜI GIAN ”
Nguyễn Mạnh Đẩu
Thời gian - tự bản thân nó - không hình hài, âm thanh, sắc màu. Thế nhưng, hình hài, âm thanh, sắc màu của thời gian được vọng lại, được tạc ghi phản ánh sâu đậm qua mọi sự vật, hiện tượng trong số phận đời người hoặc trong lịch sử dân tộc. Thời gian không bao giờ ngưng nghỉ. Thời gian - một khái niệm chỉ một hiện tượng vô hình của vũ trụ - Song lại hiện diện hữu hình chi phối cuộc sống con người. Dấu ấn thời gian lưu lại trong cuộc đời của mỗi chúng ta qua mỗi ngả đường, trên từng lối rẽ.
Tựu trung lại, thời gian là thước đo chung cho mọi cuộc đời. Vì thế, thời gian có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi người. Ngoảnh mặt với thời gian là ngoảnh mặt với cuộc đời. Bàn về ý nghĩa của thời gian thì muôn màu, muôn vẻ. Từ xưa đến nay đã có rất nhiều người viết và bàn về thời gian với những cảm thức khác nhau.
Cách đây ngót 80 năm, nhà thơ Đoàn Phú Tứ cũng đã có một bài thơ với tựa đề MÀU THỜI GIAN với những câu thơ thật hay : “ Trời này phảng phất nhuốm màu thời gian” , “ Hương thời gian thanh thanh / Màu thời gian tím ngát”.
Tiếng vọng thời gian - tập thơ của Vũ Đăng Hiến - mà bạn đọc đang cầm trên tay là tiếng đồng vọng tâm hồn của tác giả khi hồi tưởng từng chặng đời đã qua, về quê hương và ký ức của tuổi thơ, về đồng đội một thời binh lửa, để mà hoài niệm, suy tư, chiêm nghiệm những điều trân quý, chưng cất thành ý tứ, ngôn từ, ngữ điệu làm nên tập thơ. Năm tháng qua đi, bụi thời gian có thể phủ nhòa lên tất cả. Nhưng với Vũ Đăng Hiến, những miền ký ức ấy như còn mới nguyên, tươi rói. Bởi trong anh, tình yêu gia đình, quê hương, đồng đội sâu nặng đã trở thành máu thịt và là nỗi niềm hoài niệm thiêng liêng trong tâm hồn anh. Tất cả đã trở thành nguồn thi liệu dồi dào cho những vần thơ chan chứa cảm xúc, đằm thắm, trữ tình.
Với trái tim không vơi cạn tình yêu, bất chấp thời gian, tuổi tác, trong vài năm qua, Vũ Đăng Hiến cho ra đời hai tập thơ có giá trị, để lại dấu ấn sâu lắng trong lòng bạn đọc. Tập thơ Tiếng vọng thời gian tiếp nối tập Màu cát tuổi thơ nằm trong chuỗi những bài thơ viết về tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Thêm một lần nữa, khẳng định năng khiếu văn chương và tình yêu quê hương sâu nặng của Vũ Đăng Hiến - một Thi sĩ, Chiến sĩ - một Phó Giáo sư, Tiến sỹ khoa học quân sự, có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế. Sự đa cảm của tâm hồn thi nhân giao hòa với cảnh vật và con người tạo nên những bài thơ hay để lại những suy ngẫm sâu xa khi đọc thơ Vũ Đăng Hiến.
Tôi đã đọc hết các bài thơ trong tập Tiếng vọng thời gian với một sự say mê, háo hức. Có thể nói, thơ Vũ Đăng Hiến rất dễ hiểu và rất tự nhiên dung dị như là anh đang nhỏ nhẹ tâm tình. Nhưng lại rất dễ thấm vào lòng người đọc. Vũ Đăng Hiến làm thơ không theo một thi pháp nhất định, không nghiêm ngặt khắt khe về văn phong, niêm luật, không nặng nề về cú pháp. Nhưng mỗi bài đều có sắc thái, ngân nga một giai điệu riêng. Có những bài thơ lục bát mộc mạc chân thành mang hơi thở hồn quê bình dị với những tên làng, tên đất thân quen. Có những lúc thơ anh tràn đầy cảm xúc đến nghẹn ngào khi anh viết về cha mẹ với những kỷ niệm yêu thương sâu nặng như lời ru của mẹ từ thuở ấu thơ, hay nụ hôn nồng ấm của cha trong ngày anh nhập ngũ:

“ Nụ hôn khi con bước vào đời
Không phải của người yêu
Mà của cha tặng con ngày ra trận
Giữa điệp trùng hàng quân đang đứng
Vít đầu con hôn bên nớ, bên ni
Kỷ niệm này cứ theo mãi suốt đời con ’’

( NHỚ CHA )
Có bài thơ trào lộng với đời qua những sự việc hàng ngày như hỏng ổ máy tính hay chuyện chơi chim, giọng thơ hài hước dí dỏm. Nhưng sao mà sâu sắc, trữ tình đến thế. Hay khi anh nhắc đến kỷ niệm tuổi thơ cùng bè bạn thì giọng thơ anh sôi nổi, vui vẻ, trẻ trung đến lạ lùng. Anh đang sống bằng ký ức trẻ thơ ...
Tất cả những kỷ niệm về quê hương, gia đình, bè bạn và đồng đội đã được anh gom góp và nâng niu trân quý lưu giữ trong miền hoài niệm của ký ức, để rồi theo anh suốt cuộc đời. Đó là thứ hành trang làm nên Tiếng vọng thời gian.
Tôi thực sự cảm động trước tình yêu quê sâu nặng của anh. Anh nâng niu từng vẻ đẹp của quê hương - một miền quê gió lào cát trắng, nhưng lại có núi non, sơn thủy hữu tình, nơi đó cách biển Cửa Lò thơ mộng không bao xa. Đọc những bài thơ của anh, thấy trong tim người thi sĩ luôn cháy bỏng một nỗi nhớ thương quê hương da diết. Đọng trong ký ức của anh là những hình ảnh thân thương của quê hương:

“ Quê tôi muối mặn gừng cay
Ngọt câu ví dặm đắm say lòng người
Dẫu đi khắp bốn phương trời
Con đường phía cuối là nơi cội nguồn ”.

( TRỞ VỀ )
“ Thương lắm quê mình miền Trung xứ Nghệ ” - Một tấm lòng đau đáu với quê hương yêu dấu của một người con xa quê, thương cho một miền quê nghèo với bao vất vả gian lao:
“ Dù đi ở nơi mô
Cũng nhớ về bãi bờ cát trắng
Thương nhớ quê nghèo nên tấm lòng sâu nặng
Thương lắm quê mình miền Trung xứ Nghệ ”

( NHỚ QUÊ )
Trong thơ anh còn luôn khắc khoải nhớ về những hoài niệm tuổi thơ với những trưa hè chang nắng đi học về với đôi chân trần bỏng rát trên con đường ngập cát trắng, rồi lại cùng chúng bạn xuống ngụp lặn dưới dòng sông quê. Giờ đây, khi đã bước vào tuổi xế chiều, tóc đã pha sương, anh vẫn muốn trở về đi tìm dấu xưa nơi miền quê đã từng lưu giữ từng ký ức hoa niên của mình :
“ Nếu được ước một điều gì đó
Tôi vẫn ước về miền ký ức tuổi thơ
Cùng đám bạn tung tăng đến lớp
Và cởi truồng tắm nước sông quê ”.

( NẾU ĐƯỢC )
Tiếng vọng thời gian còn là tiếng đồng vọng của những năm tháng gian lao trong cuộc đời quân ngũ của tác giả. Trải qua bao năm tháng, chiến tranh đã lùi xa, anh đã giã từ cuộc đời binh nghiệp. Nhưng, cho tới tận giờ vẫn đọng lại trong anh nghĩa tình đồng đội thiêng liêng, sâu nặng:
“ Đi qua khói lửa chiến tranh
Để thêm sâu nặng nghĩa tình chiến binh
Mừng ngày đất nước thanh bình
Nhớ về đồng đội nghĩa tình tìm nhau”.

( VIẾT TẶNG ĐỒNG ĐỘI NHÂN NGÀY 30 / 4 )
Cũng như bao nhiêu người lính khác, khi được trở về để đón mừng ngày chiến thắng và được sống cuộc đời hạnh phúc, Vũ Đăng Hiến không khỏi khắc khoải, xót xa khi nghĩ về những người đồng đội đã vĩnh viễn ra đi khi tuổi còn xanh:
“ Tiếng vọng thời gian là kỷ niệm chiến trường
Bao đồng đội đầu còn xanh
Chưa một lần trở về thăm mẹ
Yên nghỉ nơi đâu....”.

( TIẾNG VỌNG THỜI GIAN )
Có thể thấy, Tiếng vọng thời gian là tiếng lòng chất chứa bao tình cảm yêu thương, cùng với nó còn là tâm trạng buồn vui với bầu bạn, với cuộc đời qua những cung bậc cảm xúc khác nhau. Sự trải nghiệm trong cuộc đời với những đắng cay, ngọt bùi đã nếm trải cũng như nhân tình thế thái mà anh đã gom góp lại thành một trang đời, một trang thơ đậm nét. Vốn dĩ viết văn, làm báo là “ Nghề tay trái ” của anh, cùng với một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, trái tim anh luôn rung động với cuộc đời và những hình ảnh thân thương gần gũi của cuộc sống đều có thể nên thơ. Để rồi hôm nay bạn đọc mới được đón đọc tập thơ Tiếng vọng thời gian của Vũ Đăng Hiến.
Ai đó đã từng nói “ Đời người là những chuyến đi”. Con người ta thường tự ví mình như con thuyền lênh đênh trên dòng sông thời gian dài rộng, mênh mông, khi êm ả, khi cuộn trào thác lũ. Trong mỗi chặng sông đời ấy, đã để lại biết bao điều thi vị ngọt ngào, đắng đót. Và đến một ngày, khi tĩnh tâm lại, con người thường hồi tưởng về những miền quá khứ ắp đầy kỷ niệm để chiêm nghiệm và vung bút viết lên những bài thơ chan chứa tình người, dạt dào cảm xúc - Ấy là tiếng vọng của thời gian.
Thơ là người. Trong tập thơ của Vũ Đăng Hiến hội đủ: Tứ - Tình - Hình - Nhạc trên từng cung bậc cảm xúc, mà cung bậc nào tác giả cũng đẩy tới tận cùng.
Là đồng hương một xã, lại cùng trang lứa - sinh ra từ trong nghèo khó, lớn lên gặp thuở chiến tranh rồi phấn đấu trưởng thành trên con đường binh nghiệp dài lâu đầy gian khổ ác liệt hy sinh - tôi thấu hiểu và cảm mến sự rung động tâm hồn thi ca của Vũ Đăng Hiến.

Xin được lấy khổ thơ mở đầu bài TIẾNG VỌNG THỜI GIAN của tác giả để thay cho lời kết bài viết : “ Khi cuộc đời đã bên kia đỉnh dốc / Tiếng vọng thời gian ùa về trong ký ức / Kỷ niệm cuộc đời như dòng chảy một con sông / Bao trăn trở đều nặng lòng về quá khứ ”.
Tôi đồ rằng, với năng khiếu, bút lực dồi dào, cùng vốn sống trải nghiệm phong phú, Nhà thơ - Chiến sĩ Vũ Đăng Hiến sẽ còn ra mắt nhiều bài thơ, tập thơ hay và sâu sắc hơn nữa.

Mỹ Đình, tháng 5 năm 2020
N M Đ