Menu ngang

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2018

CHUYẾN XE ĐÊM MƯA

Đúng 14h15 phút, 31/ 7 / 2018, chuyến xe Số 03 Hãng xe giường nằm Phúc Lợi lăn bánh tại Quán Hành (Nghi Lộc, Nghệ An).
Theo lịch trình như lâu nay, thì khoảng 19 h 30 xe đến Bến Nước Ngầm ( Hà Nội ). 
Nhưng lần này không như thế.

Các tỉnh Bắc Bộ & Hà Nội chiều tối nay mưa to. Xe lưu hành trên Quốc lộ 1 A về Hà Nội bị nghẽn tắc do nhiều nguyên nhân, chủ yếu do nước ngập đường.
Mãi tới 21 h 30, xe mới đến Bến Nước Ngầm. Trước khi vào Bến, chỉ cách có một quãng đường rất ngắn mà xe phải nhúc nhích từng đoạn giữa những đoàn xe chen chúc nhau như mắc cửi.
Khi xe dừng bánh trong bến, nhân viên trên xe thông báo: 
“ Thưa bà con hành khách, vì đường tắc do trời mưa to, nên xe trung chuyển từ đây về 71 Khuất Duy Tiến chưa thể lên kịp. Đề nghị bà con ngồi đợi trong xe khoảng 30-40 phút nữa !”.

Tôi nhảy xuống xe tìm tắc xi để về. Nhưng tắc xi không được vào bến. Trời mưa to, đi ra ngoài xa hơn thì sẽ bị ướt. Tôi quay lại lên xe ngồi đợi như nhiều hành khách khác.
Bến xe giữa đêm mưa mờ ánh điện, xe liên tiếp vào ra, tôi ngó quanh chẳng có hàng quán gì. Bụng đói meo. Trưa nay mặc dù dự đám Giỗ ông Cậu, nhưng lâu ngày anh em gặp nhau hàn huyên chuyện trò là chính & chúc tụng nhau đôi ba chén rượu quê vui vẻ, thân tình.
Mãi tới 22 h 30 phút, xe trung chuyến mới tới đón về 71 Khuất Duy Tiến. 
Tiếp đó, con gái tôi đặt tắc xi Grab cho cha về nhà. 
Đúng 23 h, tôi mới lủng lẳng xách ba lô vào nhà.

Quá bữa, chỉ mệt mà không cảm thấy đói nữa. May là, con gái nhà ở gần mua sẵn cho bát cháo ngon đưa sang, dễ nuốt. Ăn uống xong đã ngót 12 giờ đêm. 
Kết thúc một ngày.

Trên đường đi, biết tôi bị kẹt xe trong đêm mưa, nhiều người thân suýt xoa thương than tôi khổ!
Tôi thì quen rồi, đó là chuyện bình thường. Chẳng qua là do Trời mưa thôi. Có gì đâu mà khổ! Vả lại, đây là việc của mình, kêu với ai, kêu để làm gì. Ở đời, sướng hay khổ, phần nhiều do quan niệm mà thôi.

Từ đầu năm đến nay về quê nhiều lần, nhưng duy chỉ có lần này là thế. Thật đúng: “ Thiên thời “ là yếu tố đầu tiên của mọi việc, thứ đến mới là : “ Địa lợi “ & “Nhân hoà”.
Chuyến xe đêm mưa có nhiều cám xúc !
GIỖ CẬU

8 h 30 phút sáng nay, 31/7/2018, nhằm 19/6 âl Mậu Tuất, sau khi bàn bạc thống nhất quy cách với thợ nề trong việc tôn tạo Lăng mộ tại Nghĩa trang, tôi và chú Nguyễn Anh Đào em trai đi Giỗ ông Trần Văn Long cậu ruột chúng tôi tại xã Nghi Kiều, cách nhà ngót 30 km. 

Trời không nắng lắm & có gió mát, anh em lai nhau đi xe máy. 9 h 30 mới tới nhà trên lừng chừng một quả đồi thoai thoải.


Ông Trần Văn Long ( 1926 - 2001 ), là con út của Ông bà ngoại tôi. Mẹ tôi là áp út, hơn cậu 7 tuổi. Trong những người con của Ông bà ngoại, có thể do lớp lứa tuổi tác, nên sinh thời Mẹ tôi và Cậu thương nhau nhất.

Ngay từ thuở còn bé đến tận sau này, 5 chị em chúng tôi luôn nhận được ở Cậu tình cảm quý mến.
Khi thắp hương, ngước lên bàn thờ nhìn di ảnh Cậu Mợ, lòng tôi ngậm ngùi hồi tưởng những kỷ niệm xưa.

Cậu Mợ tôi đông con, nhiều cháu. Các con Cậu Mợ đã thành gia đình riêng, sống nền nếp, hoà thuận, thương yêu, tương trợ nhau trong cuộc sống. 
Từ xưa đến nay, trong mọi hoàn cảnh, tôi luôn cảm nhận thấy điều đó.

12 h, chúng tôi chia tay các em, các cháu nhà Cậu Mợ, quay về Quán Hành. Khi tôi ra về, tiết trời nắng nóng, các em, các cháu cám cảnh ông già, “ bắt “ phải đi ô tô, để xe máy lại, các cháu đưa về sau.
14 h 15, lại lên xe giường nằm Phúc Lợi từ Quán Hành quay về Hà Nội.
LẠI VỀ QUÊ

Theo kế hoạch tôn tạo Lăng mộ Cha Mẹ tôi nhằm tri ân, báo hiếu trong dịp Tháng Bảy âl, sáng nay, 29/7/2018, tôi lại về quê để kịp ngày mai cùng hai chú em trai tiến hành động thổ.
Chỉ có 300 km mà tôi phải lên xuống mấy lần xe :

- 8 h, đi tắc xi từ nhà ra Văn phòng xe Phúc Lợi ở 94 phố Mỹ Đình;
- 8 h 20, cùng mấy hành khách lên tắc xi do Văn phòng thuê đưa đến Văn phòng Xe Phúc Lợi ở 71 phố Khuất Duy Tiến;
- 8 h 40, đi xe trung chuyển của hãng Văn Minh lên xe giường nằm đậu ở Bến Nước Ngầm;
- Đúng 9h30, chính xác tuyệt đối, xe lăn bánh;
- 14 h 30 xe đến điểm đỗ ở ngã ba Quốc lộ 1 - Nam Cấm. Lên xe trung chuyển về thị xã Cửa Lò;
- 14 h 45 lên tắc xi từ Cửa Lò về nhà.


Tuổi già, tay xách nách mang lỉnh kỉnh mấy thứ lặt vặt, lên xuống xe mấy lần, lại giữa tiết trời nắng nóng oi nồng, kể ra cũng mệt. Nhưng tôi quen thế rồi, chẳng sao. Vả lại, đây là việc của mình, kêu với ai, để làm gì ! Hơn nữa, thời gian nằm rảnh rỗi trên xe tha hồ lướt MXH đọc tin & có dịp để viết đôi điều lên Fb.
Về nhà Cha Mẹ không còn, chị em thì xa, cô em dâu đi từ Quán Hành về mở cửa trước. Có vợ chồng ông anh con bác họ sang chơi.
Mọi người ra về, còn lại mình tôi với ngôi nhà vắng, rộng rãi, trống trếnh đến ngậm ngùi. 
“Xưa kia nhà chật người đông 
Bây giờ nhà rộng lại không bóng người “

Ngước lên bàn thờ, ảnh hình Cha Mẹ tôi trìu mến nhìn tôi như thầm nói :” con đã về !”. Thuở sinh thời, Cha tôi vẫn nói thế mỗi dịp tôi về.
Căn nhà này này do Ông Bà nội
làm cho Cha Mẹ tôi từ năm 1940, khi ra ở riêng. Nhà được tân tạo nhiều lần, nhưng vẫn trên dằm cũ.

( Sinh thời, Cha tôi nói rằng, khi làm nhà, có ông Hội Tuynh người làng Thịnh Trường, là dượng lấy dì ruột Mẹ tôi - là bạn đồng môn của Ông ngoại tôi khi là học trò của Cụ ngoại, sau đó hai ông cùng là con rể Cụ ngoại. Thời điểm làm nhà thì Ông ngoại tôi đã mất. Ông nội tôi mời ông Hội Tuynh ( là người biết về Nho - Y - Lý - Số ) đến xem hướng, đặt móng nhà. Vì vậy, sau này dù có tôn tạo thế nào, vẫn phải giữ nguyên hướng và nền móng đó ).
Chị em chúng tôi sinh ra, lớn lên trong căn nhà này. 
Mảnh vườn nhà là nơi chôn rau theo đúng nghĩa đen.
Phía trước nhà cách 50 mét là Nhà thờ Tiểu chi họ - nơi thờ Cụ tổ 7 đời Nguyễn Đình Tín và các bậc Chư tổ.

Nhìn quanh một lượt, tôi rưng rưng hồi tưởng về bao kỷ niệm của một thời thơ ấu & niên thiếu. Tôi hít thật sâu bầu không khí quê Cha đất Tổ và mường tượng, mình đang khứ hồi quay về tuổi thơ nghèo khó đạm bạc mà ấm áp tình cảm.
Và bây giờ vào bếp lo bữa tối cho riêng mình. Một ngày lênh đênh trên đường khá mệt, nhưng bù lại có nhiều cảm xúc !
ĐẠI TƯỚNG VỀ HƯU ĐI XÂY CHÙA

Tối qua, 28/7/2018, ông Nguyễn Đăng Giáp TCTy 36 tổ chức gặp mặt một số đối tượng chính sách nhân dịp Ngày TBLS 27/7.
Tôi ngồi cạnh ông Ba. Theo quan hệ công tác, tôi là cấp dưới của ông mấy chục năm. Từ khi nghỉ hưu, lâu ngày không gặp lại, ông thân mật chuyện trò cùng tôi. 

Xưa nay vẫn vậy, ông là người sống dân giã, luôn gần gũi cấp dưới, không bao giờ quan cách - kể cả khi ngồi trên chót vót đỉnh cao quyền lực.

Tôi hỏi ông:
- Từ sau khi nghỉ hưu, anh Ba làm gì, ở đâu ?
Ông hồn hậu trả lời:
- Anh đi vận động bà con xây chùa ở các tỉnh Nam Bộ, chú ah!


Rồi ông từ tốn kể: “ Anh nhập ngũ từ năm 1953. Công tác ở miền Bắc chỉ hơn 10 năm. Sau đó đi chiến đấu ở trường B. Gắn bó với quân dân Nam Bộ hơn 30 năm. 

Sinh thời, ông Sáu Dân ( Võ Văn Kiệt ) có lần nói với anh là: Mọi người chúng ta đều biết, kẻ trước người sau, nhưng phần đông dân miền Nam đều có gốc tích tổ tiên ở miền Bắc. Ấy vậy mà, hầu hết các chùa chiền đền đài miếu mạo ở miền Nam đều là của người Hoa, người Chăm, người Khơ Me, ... rất ít chứng tích của người Việt. 
Cha ông ta trước đây chưa chú ý đến điều này. Nay chúng ta phải làm thôi.


Thấu hiểu điều trăn trở và cũng là ý nguyện của ông Sáu Dân, từ sau ngày nghỉ hưu, anh trở lại Nam Bộ vận động bà con đóng góp & các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm tài trợ để tiến hành xây dựng Chùa. Phấn đấu mỗi tỉnh có một Chùa. Đến nay đã hoàn thành được 5 Chùa & 5 Chùa đang triển khai làm.
Kinh phí Chùa ít nhất là 160 tỷ, Chùa nhiều là 300 tỷ.
 
Các ngôi Chùa mới xây dựng đều thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông & toàn bộ Hoành phi, Câu đối đều viết bằng chữ Việt “.


Ngồi nghe ông kể, tôi thầm nghĩ: Việc công đức dựng xây Chùa của ông có ý nghĩa to lớn trên nhiều mặt - không chỉ với bây giờ mà đối với rất rất nhiều năm sau.

Ông là Đại tướng, AHLLVT, Thương binh Phạm Văn Trà. Năm nay ông đã 84 tuổi. Chắc chắn rằng, trong đời sống tâm linh và tình cảm, nhiều thế hệ mai sau đều tri ân, tưởng niệm Ông - người Anh hùng trong chiến tranh giải phóng dân tộc & đã có công trong đời sống văn hoá tâm linh của cộng đồng xã hội.

Tôi trân quý ông - anh Ba Trà kính mến !

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

CHUI RÀO KIỂU ÔNG NGÃI

                                                                 N M Đ

( Trích Hồi ký “ Những nẻo đường thời gian”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2010 )

Cuối buổi chiều ngày 5 / 6 / 1969, tại một khu rừng già phía tây tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế hơn 70 cây số, có điện của Ban Tham mưu Trung đoàn 8: Anh Nguyễn Duy Hào Đại đội trưởng và tôi lên Sở chỉ huy Trung đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu. Hồi đó, tôi đang là Chính trị viên phó thay thế anh Trương Văn Dung Chính trị viên bị ốm. Ăn vội mấy bánh lương khô 702, anh Hào và tôi cùng hai cậu liên lạc cuốc bộ lên Trung đoàn cách chừng 5 cây số đường rừng.
Đúng 7 giờ tối, chúng tôi có mặt. Các anh: Ma Vĩnh Lan Trung đoàn trưởng ( quê Bạch Thông, Bắc Cạn ), Kiều Tam Nguyên Chính ủy Trung đoàn ( quê Đức Phong, Đức Thọ, Hà Tĩnh ) và thủ trưởng các cơ quan đã ngồi sẵn quanh sa bàn trong hầm Sở chỉ huy. Thắp sáng toàn bộ căn hầm bằng một cái đèn bão. Đây là một căn hầm do Đại đội 15 Công binh của Trung đoàn xây dựng ở sườn núi. Hầm có chiều dài khoảng 6 mét, chiều rộng khoảng 3 mét, sâu gần 3 mét, phía trên lát các thân cây gỗ khá to được cắt ra, trên cùng lấp một lớp đất dày gần 2 mét. Loại hầm này có thể chống được đạn pháo, nhưng không tránh được bom. Do đó, xung quanh hầm được nối râu tôm các giao thông hào đến các hầm chữ A (còn gọi là hầm kèo, hoặc hầm Triều Tiên) để phân tán ẩn nấp trong trường hợp bị máy bay địch oanh kích. Hầm Sở chỉ huy của Trung đoàn được sử dụng trong suốt Chiến dịch A Bia, hè 1969. Tôi đã được dự nhiều cuộc họp bàn tác chiến tại căn hầm này.
Chúng tôi ngồi vào ghế, anh Ma Vĩnh Lan đứng dậy vừa cầm que chỉ trên bản đồ treo ở vách hầm, vừa nói: Bộ Tư lệnh Quân khu Trị Thiên lệnh cho Trung đoàn ta cử Đại đội 20 Đặc công phối hợp với Tiểu đoàn 3 Đặc công của Quân khu tập kích Lữ đoàn 47 Thủy quân lục chiến Mỹ ở Cao điểm 817- động Ta Tách. Đây là căn cứ bàn đạp, là trận địa pháo chi viện của quân Mỹ trong Chiến dịch A Bia. Thời gian triển khai tổ chức lực lượng trinh sát bắt đầu từ ngày mai - 5/6/1969. Ban Chỉ huy Đại đội 20 trực tiếp làm việc với Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 3 để nhận kế hoạch cụ thể. Trong suốt quá trình chuẩn bị và tổ chức chiến đấu, Đại đội 20 Đặc công chịu sự lãnh đạo chỉ huy về mọi mặt của Thủ trưởng Tiểu đoàn 3 Đặc công. Tiếp lời anh Ma Vĩnh Lan, anh Kiều Tam Nguyên vắn tắt thông báo chiến công to lớn của toàn Trung đoàn trong chiến dịch A Bia - Chính nơi đây, quân Mỹ đã kinh hoàng gọi là đồi thịt băm Hăm-bơ-gơ ( Hamburger hill) . Tiếp đó, anh nói lên ý nghĩa, tầm quan trọng và những yêu cầu đặt ra trong lãnh đạo chỉ huy của Thủ trưởng Đại đội 20 trong trận chiến đấu tới. Cuối cùng, Trung đoàn trưởng giao trách nhiệm cho các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần của Trung đoàn tạo điều kiện giúp Đại đội 20 triển khai nhiệm vụ kịp thời.
Rời Sở chỉ huy Trung đoàn, anh Hào và tôi đến làm việc với anh Trần Duy Thị Tiểu đoàn trưởng và anh Lê Văn Doãn Chính trị viên Tiểu đoàn 3 cách Trung đoàn hơn một tiếng đồng hồ đi bộ. (Anh Thị quê ở Cẩm Hòa, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, sau này làm Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công. Anh Doãn quê ở Thọ Xuân, Thanh Hóa sau này chuyển đi đâu tôi không rõ). Hồi đó, chúng tôi được biết, Tiểu đoàn 3 là đơn vị Đặc công huấn luyện rất cơ bản ở miền Bắc mới được Bộ điều vào Quân khu Trị Thiên. Đầu năm 1969, khi mới vào chiến trường, Tiểu đoàn 3 đã đánh thắng giòn giã trận Cô-Ca-Va, tiêu diệt một cứ điểm của quân Mỹ ở tây Thừa Thiên. Đó là một trận thắng có ý nghĩa lớn cả về quân sự và chính trị. Mở đầu cho một năm chiến đấu trong thời kỳ mới. Chấm dứt thời kỳ khó khăn của Cách mạng sau Tết Mậu Thân. Được chiến đấu trong đội hình của Tiểu đoàn 3, anh em chúng tôi thật sự tin tưởng.
Chúng tôi quay về đơn vị ngay trong đêm để kịp chuẩn bị.

Trưa ngày 8 / 6 / 1969, anh Hào, tôi, các Mũi trưởng (trong tổ chức biên chế của Đặc công, Mũi là đơn vị tương đương Trung đội) và Tiểu đội trinh sát gia nhập đoàn cán bộ của Tiểu đoàn 3 lên đường đi trinh sát thực địa. Đoàn do anh Thị và anh Doãn dẫn đầu xuất phát từ A-Lê-Thiêm vượt qua khu vực Kho 61 ở A Lưới, cắt qua Đường 12, đi sâu vào phía động Ta Tách. Khi đến một khu rừng rậm cách Cao điểm 817 chừng 5 cây số, có một con suối nhỏ, hai bên bờ có nhiều cây to, anh Thị cho đoàn dừng lại và chọn làm nơi tập kết. Tại đây, Ban chỉ huy Tiểu đoàn họp bàn và giao nhiệm vụ cho các Đại đội.

Buổi chiều hôm đó, trên đường đi, anh em trinh sát bắt được một con rùa khá to màu đồng hun. Chúng tôi chặt cây bông báng lấy lõi non màu trắng ngà nấu với thịt rùa ăn rất ngon. Đang ăn, tôi chợt nghĩ, dân gian vẫn có câu “gặp rắn thì đi, gặp quy quay lại”. Gặp rùa mà ăn cả thịt rùa thế này, chắc báo hiệu điều không may sẽ đến. Nghĩ vậy, nhưng tôi không giám nói ra. Bởi lẽ, với tư cách là cán bộ chủ trì về chính trị, tôi sợ anh em đánh giá mình mê tín dị đoan, gieo rắc sự lo lắng, hoang mang ngay từ đầu cho mọi người. Kinh nghiệm cho thấy, khi thực hiện những công việc hệ trọng mà lại nguy hiểm nữa, thì trạng thái tâm lý cần được thoải mái, tự tin. Tuyệt đối không ám ảnh, lởn vởn hoặc vương víu vào những điều không cần thiết.
Tối hôm đó, ngủ lại bên bờ suối, mở đài bán dẫn, tôi nghe tin thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam do ông Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch. Đây là một sự kiện chính trị trọng đại, đánh dấu bước phát triển mới trong phong trào Cách mạng ở Miền Nam. Là những người lính chiến đấu trên chiến trường, khi nghe tin này, chúng tôi rất phấn khởi.
Theo thông báo của trên, tại Cao điểm 817 - Ta Tách, lực lượng địch có một Tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 47 Thủy quân lục chiến Mỹ. Đây là lực lượng thiện chiến trong quân đội Mỹ, đóng trong một căn cứ được bố trí vững chắc. Ở ngoài cùng là hàng rào cây đổ, tiếp đến là 3 hàng rào thép gai. Trong trận địa có hệ thống công sự liên hoàn: lô cốt, chiến hào, giao thông hào, ụ súng, hố chiến đấu cá nhân.
Thủ trưởng Tiểu đoàn 3 giao nhiệm vụ cho Đại đội 20 chúng tôi tổ chức 3 Mũi đánh vào mỏm B, nơi địch bố trí trận địa pháo và một đại đội Thủy quân lục chiến. 

Sau khi nhận nhiệm vụ ở Tiểu đoàn, anh Nguyễn Duy Hào Đại đội trưởng ( quê Thọ Xuân, Thanh Hóa ) và tôi hội ý bàn với nhau phân công: Anh Hào đi trinh sát hướng Đông Bắc cùng với anh Lê Văn Ba Mũi trưởng Mũi 1 ( quê Đức Phong, Đức Thọ, Hà Tĩnh ) và hai chiến sĩ trinh sát. Hướng Tây giao cho anh Trần Viết Xuân Mũi trưởng Mũi 2 ( quê Hương Thu, Hương Khê, Hà Tĩnh ) cùng hai chiến sĩ trinh sát. Hướng Đông Nam do tôi cùng anh Đặng Văn Ngãi Mũi phó Mũi 4 (quê Kỳ Anh, Hà Tĩnh, người thay anh Cao Hồng Nhụy Mũi trưởng quê Quy Đạt, Minh Hóa, Quảng Bình bị ốm) và Trần Văn Phết chiến sĩ trinh sát.

Từ trưa, xuất phát từ vị trí tập kết, tổ trinh sát chúng tôi cắt góc phương vị xuyên rừng đi về hướng Đông Nam. Đến 3 giờ chiều gặp một hang đá kiểu hàm ếch ở chân Cao điểm 817, cách đồn địch chừng 2 cây số, tôi bảo cả tổ dừng lại làm chỗ tập kết. Từng người một thay nhau cảnh giới ở cửa hang, còn lại tranh thủ chợp mắt để tối tiềm nhập vào đồn địch. Mục tiêu trinh sát là phải nắm được hệ thống chướng ngại vật, hệ thống công sự trận địa bố phòng và cuối cùng là trận địa pháo của địch. (Tiềm nhập là từ chuyên môn của bộ đội Đặc công, chỉ việc cá nhân di chuyển bí mật tiếp cận vào mục tiêu bằng các kỹ thuật đi khom, bò, trườn...).
Trong chiến đấu Đặc công, việc tiềm nhập vào cứ điểm địch để trinh sát (điều nghiên) là vô cùng quan trọng; là một trong những yếu tố góp phần quyết định sự thành bại của trận đánh. Người được cử vào trinh sát trong đồn địch đòi hỏi phải có sự dũng cảm, mạo hiểm, mưu trí, kiên trì và cụ thể. Đi trinh sát thường là căng thẳng hơn khi thực hành chiến đấu. Trong thực hành chiến đấu, thì có lực lượng và hỏa lực trong tay để đánh trả quân địch. Còn khi đi trinh sát vào trong đồn địch chỉ có ba, bốn anh em đơn lẻ, thân cô thế cô, vũ khí gọn nhẹ, chỉ được dùng khi bị lộ. Trong điều kiện địch bố phòng bằng nhiều lớp rào, nhiều bãi mìn các loại, nhiều vọng gác, nhiều lượt tuần tra, với hệ thống báo động và chiếu sáng nhanh nhậy, việc một tổ trinh sát vượt qua mọi chướng ngại tiếp cận vào giữa sào huyệt địch, đòi hỏi phải có quyết tâm rất cao và phương pháp giỏi. Trong một số trận đánh, để bảo đảm chắc chắn, nhiều khi đòi hỏi phải đi trinh sát đến mấy lần.
Đến 6 giờ tối, sau khi mỗi người ăn hết một bánh lương khô 702, uống no nước suối trong bi đông, trút bỏ những thứ lặt vặt, chúng tôi bắt đầu xuất phát tiềm nhập vào đồn địch. Anh Ngãi và Phết mỗi người một khẩu tiểu liên AK báng gấp, 2 quả lựu đạn mỏ vịt, dao găm. Tôi mang một khẩu súng ngắn K54, hai quả lựu đạn mỏ vịt, dao găm và một cái địa bàn. Từ ngoài, chúng tôi thực hành tiếp cận kiểu sâu đo. Nghĩa là, một người tiếp cận lên phía trước rồi dừng lại lợi dụng địa hình địa vật cảnh giới cho người sau tiến lên. Người sau lại tiến sâu hơn nữa rồi lại làm nhiệm vụ cảnh giới. Cứ thế, đến 7 giờ tối, chúng tôi đã vượt qua hàng rào cây đổ, chạm đến chân hàng rào thép gai đầu tiên. Đây là loại hàng rào thép gai lò xo cánh bướm đường kính khoảng 1 mét. Chồng lên nhau 3 lớp. Lớp dưới có 5 vòng. Lớp giữa có 3 vòng. Lớp trên cùng có 2 vòng. Chiều sâu của hàng rào đến gần 5 mét. Bố trí cậu Phết trinh sát giương súng cảnh giới ở mép rào, tôi và anh Ngãi bắt đầu động tác dùng tay gỡ mìn, chống rào, rồi lại dùng tay dò mìn giữa hàng rào để chui qua. Sau khi tôi và Ngãi đã qua được hàng rào ngoài cùng, làm nhiệm vụ cảnh giới cho Phết chui qua tiếp.
Giữa hàng rào ngoài cùng và hàng rào thứ hai là một bãi trống với chiều sâu khoảng 70 mét, trừ đường tuần tra, còn lại địch cài nhiều mìn sáng và mìn sát thương các loại. Ba anh em chúng tôi vừa dò gỡ mìn vừa trườn lên phía trước. Cứ thế gần một tiếng đồng hồ chúng tôi tới được chân hàng rào thứ hai. Cách tiếp cận giống như qua hàng rào thứ nhất. Nhưng khi mới đưa mình ra khỏi hàng rào, tôi bỗng nghe thấy trong đồn địch rú lên một hồi còi. Tiếp liền theo đó là các loại súng của địch thi nhau bắn xối xả ra ngoài. Quanh chúng tôi đạn súng cối nổ đanh rền, chát chúa; đạn súng bắn thẳng bay chiu chít, ràn rạt, lại có cả những viên đạn vạch đường đỏ lừ.
Ba anh em nằm dí sát mặt đất chỉ ghé mắt nhìn vào trong, nên không ai việc gì. Sự việc này chúng tôi đã lường trước. Theo qui luật, hằng đêm địch vẫn bắn báo động. Khi đi trinh sát, kể cả khi tiềm nhập vào đánh, nếu không bình tĩnh, tưởng bị lộ mà phản ứng là rất nguy hiểm. Chừng 2 phút sau, tiếng súng im bặt, bốn bề lại vắng lặng.
Khi chui qua hàng rào thứ 3 - hàng rào trong cùng - ập vào mũi tôi rặt một mùi đặc trưng khó tả: mùi đồ hộp, thùng các tông, mùi mồ hôi khen khét do ăn nhiều thịt, mùi quần áo lâu ngày không giặt giũ, mùi thuốc lá, mùi kẹo bánh, mùi xà phòng, mùi thuốc súng, mùi cỏ cháy, mùi đất mới đào xới, cây cối mới bị đốn đổ... Các mùi đó quyện vào nhau tạo ra một mùi hỗn tạp gây ngai ngái, hôi hoi, ngây ngấy, ghê ghê, rất dễ bị lợm, buồn nôn. Anh em chúng tôi vẫn nói với nhau đặt tên đó là "mùi Mỹ". Từ ngày vào chiến trường Miền Nam, trong khứu giác của tôi đã hình thành và phân biệt được cái mùi đó. Chính nhờ vậy, trong nhiều trường hợp khi đi trinh sát do ngửi thấy mùi, phát hiện được từ xa, mà chúng tôi thoát khỏi các ổ phục kích ngoại vi căn cứ của lực lượng thám báo Mỹ.
Chui khỏi hàng rào thứ 3, chúng tôi quan sát vào bên trong nhìn thấy rất rõ các lều bạt của quân địch. Liếc đồng hồ đã 2 giờ sáng, tôi ra hiệu cho anh Ngãi và Phết quay ra theo đường cũ. Khi ra, người bò sau cùng phải dùng tay xóa hết dấu vết.
Đến 5 giờ sáng chúng tôi về tới hang đá tập kết. Tôi bàn với anh Ngãi và Phết sẽ tiềm nhập tiếp đêm mai nữa mới có thể hoàn thành nhiệm vụ trinh sát. Mục tiêu cuối cùng là phải vào tận trận địa pháo.
Hôm sau, ba anh em thay nhau ngủ ban ngày, đến 6 giờ tối lại bắt đầu tiềm nhập vào đồn địch. Vì đã biết trước nên đêm thứ hai tốc độ tiềm nhập nhanh hơn. Đến 1 giờ sáng, chúng tôi đã vào được tới trận địa pháo, đặt tay lên thân pháo, đếm được 4 khẩu rồi mới quay ra.
Đêm thứ hai đi trinh sát có hai điều mà sau này tôi vẫn kể cho anh em trong đơn vị nghe và suốt đời tôi không bao giờ quên:
Điều thứ nhất, khi mới rời trận địa pháo, tôi nhìn đồng hồ để căn giờ quay ra, nhưng trời tối đen như mực không thấy gì (hồi đó chúng tôi đang dùng đồng hồ Polzot của Liên Xô, không có dạ quang). Tôi lo trời sáng mà không ra kịp thì nguy. Chợt thấy một đốm lửa nhỏ gần đó thỉnh thoảng lại lóe sáng lên một ít, tôi nghĩ đó là thân cây bị chặt ngang đang cháy dở, ở trên cao chốc chốc gió thổi làm lóe sáng lên. Tôi khẽ khàng vừa bò vừa trườn lại gần để giơ đồng hồ xem giờ. Nhưng khi lại gần sát, thì tôi thấy thân cây đó động đậy rồi di chuyển. Tôi giật mình hú vía. Té ra đó là một tên lính Mỹ da đen đứng gác, cởi trần, đang hút thuốc lá xì gà loại to bằng ngón tay cái. Mỗi lần hắn rít vào thì điếu thuốc đỏ rực lên. May quá, dù gần sát nhau khoảng hơn 1 mét, nhưng tên lính Mỹ da đen không phát hiện được, tôi bình tĩnh nhẹ nhàng trườn lui ra.
Điều thứ hai là, khi ra đến hàng rào ngoài cùng. Thứ tự chui ra: Phết ra trước làm nhiệm vụ cảnh giới, tôi ra thứ hai, anh Ngãi ra sau cùng. 

Khi luồn ra khỏi hàng rào, tôi thấy dâng lên trong người cảm giác khoan khoái lạ thường, gió thổi nhẹ dịu mát, không khí trong lành, bốn bề tĩnh mịch. Từ trên cao nhìn về hướng Đông phía chân trời tôi thấy một màu bàng bạc, trời gần hửng sáng. Ngoái lại, tôi thật lạ lùng là anh Ngãi đang nằm giữa hàng rào trong tư thế quay đầu vào phía trong đồn địch, tay lăm lăm khẩu súng AK và cho chân ra trước. Mà đã cho chân ra trước thì tốc độ chậm lắm. Hết vướng cái nọ lại vướng cái kia. Nhiều khi Ngãi cho hai chân ra hai bên của một vòng rào lò xo cánh bướm. Tôi phải quay lại luồn tay vào gỡ cho Ngãi từng sợi rào, gai rào. Xưa nay, mọi việc ở đời người ta đã khái quát: "đầu có xuôi đuôi mới lọt”, có lẽ xuất phát từ một động tác cụ thể như thế này đây!

Thời gian càng trôi đi, trời sắp sáng đến nơi rồi mà Ngãi vẫn cứ loay hoay trong hàng rào như gà mắc tóc vậy. Tôi sốt ruột lo lắng vô cùng. Sợ nguy hiểm cho cả Tổ trinh sát một phần, nhưng đáng lo hơn là làm lộ, làm lỡ kế hoạch của toàn Tiểu đoàn, nói rộng hơn là toàn Mặt trận.
Khi đã ra xa khỏi đồn địch đến vị trí an toàn, tôi nổi cáu gằn giọng hỏi Ngãi:

- Trời sắp sáng rồi! Ông có điên hay không mà lại chui rào ngược? Ông học ở đâu ra kiểu chui rào đó?!
Thay vì phản ứng giận dỗi, anh Ngãi tươi tỉnh nhỏ nhẹ phân trần:
- Anh không hiểu đấy thôi! Khi Phết và anh chui ra, thì tôi làm nhiệm vụ cảnh giới. Anh và Phết ra ngoài cả rồi, còn lại tôi ra sau phải tự mình vừa cảnh giới, vừa phải xóa dấu vết nữa chứ. Nếu chui xuôi, ngộ nhỡ khi đang chui rào mà có một tốp lính Mỹ đi tuần phát hiện được thì sao? Chắc chắn là nó sẽ đến cầm chân tôi lôi ra như bắt con cá bị mắc lưới ấy chứ!
Nghe Ngãi nói, thấy có lý, chúng tôi cùng cười vui trên đường về chỗ tập kết.

Mấy ngày sau về hậu cứ, trước khi đi đánh, đơn vị chúng tôi tiến hành huấn luyện tập bài trên thao trường mô phỏng (cũng có lô cốt, hàng rào, chiến hào, trận địa pháo ,.. như thật). 

Hôm họp Hội đồng quân nhân thông qua phương án tác chiến trên sa bàn, trong ý kiến phát biểu của mình, tôi nói vui với mọi người là: Anh em cứ yên tâm để chuẩn bị đánh cho tốt. Còn kết quả trinh sát nắm địch thì chắc chắn quá rồi. Chính tôi đã vào tận hầm ngủ của lính Mỹ rồi đấy. Chỉ tiếc là lần này không mang về được một ít thịt hộp như các lần trước. Nhưng sau này, khi vào trinh sát đồn địch, từ kinh nghiệm của chúng tôi, đề nghị mọi người phải lưu ý hai việc: Một là, quan sát thật kỹ, đừng bao giờ nhầm lẫn giữa cây gỗ cháy dở với tên lính Mỹ da đen. Hai là, để bảo đảm an toàn khi quay ra, cần bổ sung khoa mục "chui rào ngược" trong kỹ thuật trinh sát đồn địch của bộ đội Đặc công - và tôi tạm đặt tên khoa mục đó là "Chui rào kiểu ông Ngãi".

Nghe xong, mọi người đều cười.

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018

Bài đăng Báo QĐND, thứ Bảy, ngày 24/3/2018


Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Thượng tướng Trần Sâm (5-4-1918/5-4-2018)

VỊ TƯỚNG TÀI NĂNG, ĐỨC ĐỘ -

NGƯỜI CÁN BỘ LIÊM CHÍNH


                                                   N M Đ

Thượng tướng Trần Sâm, nguyên UVTWĐ ( Khóa IV ), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng, nguyên Cục trưởng Cục Nghiên cứu kỹ thuật quân sự, sinh ngày 5-4-1918, tại làng Duân Kinh, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị - một miền quê gian khó, kiên cường, giàu truyền thống cách mạng. Giác ngộ cách mạng từ rất sớm, năm 20 tuổi, ông được kết nạp vào Đảng, làm giao liên bí mật vận chuyển tài liệu và đưa đón cán bộ của Đảng trên tuyến đường sắt từ miền Trung vào Sài Gòn. Năm 1939, ông bị địch bắt, tra tấn dã man nhưng một lòng trung kiên, không khuất phục.
 Chính quyền thực dân xử án ông tại Nha Trang, lúc ấy ông mới 21 tuổi. Giữa đông đảo người chứng kiến phiên tòa, ông đã dõng dạc tố cáo sự áp bức bóc lột của chế độ thực dân đế quốc, đanh thép tuyên bố quyết tâm, chí hướng làm cách mạng của một người cộng sản. Tòa án thực dân kết án ông 5 năm tù giam và đưa đi đày ở nhà lao Buôn Mê Thuột. Trong lao tù, ông tích cực tham gia phong trào đấu tranh trước sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù.
Năm 1943, ra tù, ông lại tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Kiến thức và kinh nghiệm học được trong tù đã giúp ông rất nhiều trong công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Năm 1945, ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở tỉnh Quảng Trị. Ông Trần Sâm được bầu làm Tỉnh ủy viên và là Ủy viên Ủy ban kháng chiến tỉnh Quảng Trị. Ngày 23-8-1945, tại Quảng Trị, Chi đội Giải phóng quân Thiện Thuật được thành lập (sau đó đổi tên thành Trung đoàn 95). Đầu năm 1946, ông được giao giữ chức Chính ủy đầu tiên của Trung đoàn 95 chiến đấu bảo vệ Quảng Trị. Năm 1948, cấp trên điều động ông vào Thừa Thiên giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, tham gia Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế. Trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, ông đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu nhiều trận. Đặc biệt là, trận Hói Mít-Lăng Cô, diễn ra ngày 12-1-1949, ông trực tiếp chỉ huy phục kích tiêu diệt gọn cả đoàn tàu chở quân số và vũ khí của địch, bắt nhiều tù binh. Trận đánh đó có sức cổ vũ mạnh mẽ quân dân toàn Liên khu 4. Sau này, được Từ điển Quân sự Việt Nam xếp vào những trận đánh tiêu biểu trong thời kỳ chống Pháp. Tháng 10-1949, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Mặt trận Bình Trị Thiên - Trung Lào, ông Trần Sâm được giao làm Phó Chỉ huy. Tháng 12-1950, khi mới 32 tuổi, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4. Năm 1953, cấp trên điều động ông về Bộ Tổng Tham mưu, giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Cục trưởng Cục Quân lực kiêm Trưởng ban Quân lực Mặt trận…
 Năm 1959, ông Trần Sâm được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1961, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng. Tiếp đó, từ năm 1963 đến 1965, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Khi Bộ Quốc phòng thành lập Cục Nghiên cứu kỹ thuật quân sự (nay là Viện Khoa học và Công nghệ quân sự), ông được giao kiêm Cục trưởng. Năm 1974, ông được thăng quân hàm Trung tướng. Từ năm 1976 đến năm 1982, ông được Trung ương điều động giữ chức Bộ trưởng Bộ Vật tư. Tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1976), ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương. Cuối năm 1982, ông trở lại quân đội với cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến năm 1986, ông được thăng quân hàm Thượng tướng. 
Thượng tướng Trần Sâm là một cán bộ tài năng, đức độ, liêm chính. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông được giao nhiệm vụ trong nhiều lĩnh vực: Chính trị, tham mưu, hậu cần, kỹ thuật, kinh tế… và nhiệm vụ nào ông cũng hoàn thành tốt. Ông là một trong những điển hình của mẫu cán bộ chí công, vô tư. Mang quân hàm cấp tướng mấy chục năm, lại hơn 6 năm làm Bộ trưởng Bộ Vật tư - cơ quan quản lý, phân phối một khối lượng lớn vật tư kỹ thuật của đất nước trong cơ chế bao cấp hiện vật - vậy mà gia đình ông cũng sống rất bình dị. Hồi đó, như phần lớn gia đình cán bộ, công chức, khi tiền lương không đủ trang trải cuộc sống và nuôi 5 người con ăn học, ông bà phải tăng gia cải thiện thêm. Hàng chục năm liên tục, gia đình ông cứ nuôi xong lứa lợn này mua tiếp lứa khác. Phía sau nhà còn có mấy chuồng gà, ngoài sân đặt chuồng chim bồ câu. Khoảnh đất trống trước nhà được cuốc xới cẩn thận biến thành mảnh vườn, trồng đủ các loại rau, khoai, mía và cây ăn quả tốt tươi. Có lần ông huy động con trai, con rể và mấy anh em công vụ tranh thủ ngày nghỉ đào ao thả cá… Nhiều lần trước khi vào bệnh viện thăm người ốm hoặc thăm gia đình liệt sĩ, thăm thương binh, ông ra vườn cắt nải chuối, hái quả đu đủ, chum nho, chùm vải thiều, quả hồng xiêm làm quà... Nhiều lần đi công tác nước ngoài, khi về nước ông yêu cầu thư ký nộp lại cơ quan số tặng phẩm phía bạn tặng như đài bán dẫn, máy ảnh… để đơn vị dùng chung;  trái cây, thuốc lá… thì làm quà chia đều cho anh em trong cơ quan. Ông cho rằng, khi cán bộ ra nước ngoài mang tặng phẩm của quân đội để tặng bạn, thì khi nhận lại những tặng phẩm bạn tặng, đương nhiên đó không phải là của riêng mình…
Thời gian trong quân đội cũng như khi làm Bộ trưởng Bộ Vật tư, ông Trần Sâm là người rất nghiêm khắc, thậm chí là khó tính với việc tổ chức liên hoan linh đình, ăn uống tốn kém khi tổ chức hội nghị. Có lần tổ chức Hội nghị mừng công Bộ Vật tư, văn phòng đề nghị mở tiệc, ông chỉ chấp thuận mỗi đại biểu một bát phở tăng cường. Khi là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, có lần đến làm việc với Bộ tư lệnh Không quân về quy hoạch sử dụng máy bay, vũ khí trang bị kỹ thuật, các đồng chí trong Bộ tư lệnh mời ông ở lại dùng cơm trưa, ông bảo “bà nhà tôi nấu rồi, tôi về ăn trưa cùng gia đình, đến chiều ta làm tiếp”. Ông không bao giờ gây phiền phức cho đơn vị, cho người khác và nhất là không lãng phí, tốn kém công quỹ. Tính cách ông là vậy!
Năm 1982, khi chuyển công tác từ Bộ Vật tư trở lại Bộ Quốc phòng, ông Trần Sâm có hai việc cần làm ngay: Đầu tiên là lục lại mấy bộ quân phục sờn cũ hơn 6 năm không dùng đến, đem giặt giũ để mặc lại. Tiếp đến, trong nhà có sẵn một khung xe đạp Favorit, ông ra hiệu mua phụ tùng rồi dành hẳn ngày Chủ nhật tự tay lắp ráp thành một chiếc xe hoàn chỉnh. Từ đó, hằng ngày từ nhà riêng ở 30 phố Lý Nam Đế, ông đạp xe vào Sở chi huy Bộ Quố phòng. Hầu như không bao giờ ông dùng xe ô tô công vào việc gia đình. Tôi không thể quên lần cháu ngoại của ông Trần Sâm mới gần 2 tuổi, đang đêm bị sốt cao, tím tái, lên cơn co giật. Thấy thế, đồng chí bảo vệ của ông xin cho mượn ô tô đưa cháu đi cấp cứu ở Quân y viện 108. Ông chạy đến sờ đầu cháu suýt xoa, nói “thôi, phải đưa cháu đi ô tô cho kịp cấp cứu và nhớ là đưa xe về ngay”.
Với con cháu, ông Trần Sâm là người nhân từ, tình cảm, sâu sắc. Trong cư xử, ông luôn có thái độ trầm tĩnh, chú ý lắng nghe, khuyên bảo ân tình, gợi mở các phương án cho con cháu chủ động tự lựa chọn cách giải quyết. Trước mọi vấn đề, không bao giờ ông can thiệp, áp đặt vào việc riêng của người khác.Trường hợp con cháu có điều gì làm trái, ông đều nhẹ nhàng từ tốn bảo ban, phân tích thấu đáo; tuyệt nhiên không bao giờ to tiếng quát nạt. Con cái, dâu rể và các cháu nội ngoại trong gia đình thường xuyên nhận được ở ông sự chỉ bảo ân tình, bao dung, nhân từ. Mọi người đều tôn kính, thương yêu và quý trọng ông, luôn coi ông là chỗ dựa tinh thần.
Tháng 11 / 1992, ông nghỉ hưu theo chế độ. Sau khi nghỉ hưu, ông thường xuyên quan tâm theo dõi, đau đáu tình cảm với quê hương. Ông đã gom góp dành dụm tiền lương hưu để tham gia Quỹ Khuyến học của địa phương; mua tặng bà con xã nhà : máy phát điện, hệ thống truyền thanh, bộ máy vi tính, tủ sách, giống cây trồng. Ông cùng anh em cán bộ, nhân viên  kỹ thuật ngồi xe tải đi từ Hà Nội qua hơn 600 trăm cây số chở máy phát điện, hệ thống truyền thanh về lắp đặt cho xã nhà.
Tuổi cao, bệnh trọng, Thượng tướng Trần Sâm từ trần ngày 13 tháng 8 năm 2009 (tức ngày 23 tháng 6 năm Kỷ Sửu). Cả đời hoạt động cách mạng, toát lên ở ông một con người trong sáng, mẫu mực, vừa có đức độ, vừa có năng lực, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, vì nước vì dân.
Tấm Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công Hạng Nhất, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương, danh hiệu vinh dự khác là phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước và nhân dân trao tặng xứng đáng với công lao của ông!








Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2018

MẤY CẢM NHẬN KHI ĐỌC HỒI KÝ

CỦA THIẾU TƯỚNG LÊ HUY MAI

                                       Nguyễn Mạnh Đẩu

Tháng 7 năm 2017, trong cuộc Gặp Mặt truyền thống Cựu Chiến binh Sư đoàn 324, anh Lê Huy Mai chuyển cho tôi bản thảo ngót 500 trang tập Hồi ký “ Từ châu thổ sông Hồng đến sông Hương xứ Huế ”. Và anh có nhờ tôi đọc, tham gia góp ý với anh cả về nội dung, bố cục cũng như văn phong.
Tôi biết anh Lê Huy Mai từ giữa năm 1970, khi đơn vị chúng tôi chiến đấu ở vùng A Lưới ( Thừa Thiên Huế ). Vào một buổi chiều, với cương vị là Chính trị viên Đại đội Đặc công Trung đoàn 3 Sư đoàn 324, tôi đến làm việc với anh Cao Sỹ Nguyên Trưởng Tiểu ban Trinh sát Trung đoàn. Tại đây, tôi gặp một cán bộ có dáng người cao gầy, nước da đen xạm - dấu hiệu do sốt rét rừng nhiều năm. Anh Nguyên giới thiệu, đây là anh Lê Huy Mai, Trưởng Tiểu ban Trinh sát của Trung đoàn 1, Sư đoàn ta. Là người cùng trưởng thành từ trinh sát đặc công, đồng cảm những đặc điểm tính chất nhiệm vụ, chúng tôi thân thiết nhau từ ngày đầu gặp gỡ. Từ đó, nhất là mấy chục năm sau khi anh Lê Huy Mai đảm nhiệm chức danh Phó Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng, chúng tôi có nhiều lần làm việc với nhau. Sau khi nghỉ hưu, tôi và anh càng gắn bó hơn trong hoạt động của Hội Truyền thống Cựu chiến binh Quân khu Trị Thiên và Cựu chiến binh Sư đoàn 324.
Ngần ấy năm quen thân, trong cảm nhận của tôi, anh Lê Huy Mai là một cán bộ quân sự xông xáo, nhiệt tình, dũng cảm, thông minh, quyết đoán, bản lĩnh vững vàng, có bề dày thành tích trong chỉ huy đơn vị cũng như trong công tác tham mưu trinh sát. Anh là người có nhân cách trong sáng và phong cách quan hệ tốt.
Hồi ký “ Từ châu thổ sông Hồng đến Sông Hương xứ Huế ” của anh Lê Huy Mai là sự tái hiện một cách sinh động, trung thực, chi tiết với nhiều tư liệu rất quý - nhất là quãng thời gian từ khi anh đặt chân vào chiến trường Quảng Trị và thời kỳ hoạt động ở Thừa Thiên Huế. Trên từng trang sách mà anh Lê Huy Mai kể và tả về những địa danh, những nhân chứng của một thời hoa lửa hào hùng, gian khổ, hy sinh, thì tôi cảm thấy như có thấp thoáng bóng hình mình trong đó. Bởi lẽ, là người cùng đơn vị với anh, nhiều nơi tôi đã chứng kiến, nhiều con người tôi đã biết, trong cùng hoàn cảnh tương đồng.
Đọc Hồi ký của anh Lê Huy Mai, tôi có cảm tưởng như đây không còn là câu chuyện thuần nhất về hồi ức của cá nhân tác giả, mà trong đó mang dáng dấp  những trang lịch sử mang tính văn học của một Đơn vị anh hùng - Đó là Trung đoàn 1, là Sư đoàn 324. Hồi ký đã phản ánh khá đầy đủ về hoạt động chiến đấu đầy gian khổ hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Phân đội Trinh sát Trung đoàn 1 Sư đoàn 324 và các đơn vị chiến đấu trong đội hình Trung đoàn, Sư đoàn - Trong số đó có nhiều tấm gương tiêu biểu xuất sắc về hành động dũng cảm trong chiến đấu và tình nghĩa đồng đội thủy chung, mang tính nhân văn sâu sắc. Có thể nói rằng, tất cả những chuyện anh Lê Huy Mai kể về các hoạt động của anh, về đồng đội, kể cả những người thuộc thế hệ đàn anh, đó như những bức tranh chân thực mang các gam màu của cuộc chiến đấu sinh tử quyết liệt trên chiến trường Trị Thiên trong những năm đánh Mỹ.
Bao giờ và ở đâu cũng vậy, trong chiến công tập thể đơn vị, đều có chiến công mang dấu ấn của từng con người cụ thể. Thành tích to lớn của Trung đoàn 1 và Sư đoàn 324 trong thời kỳ đánh Mỹ được Nhà nước tuyên dương Đơn vị anh hùng là kết tinh từ hy sinh xương máu và trí lực của cán bộ, chiến sỹ thuộc nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Và trong số đó, theo tôi, anh Lê Huy Mai trên từng cương vị đã có những đóng góp xuất sắc đáng kể. Thực tế lịch sử chỉ rõ, đơn vị chủ lực đầu tiên của quân đội ta tham chiến với lực lượng Thủy quân lục chiến của quân đội Mỹ trên chiến trường Đường 9 Quảng Trị là Sư đoàn 324 Quân khu 4. Trước khi đơn vị bước vào chiến đấu, thì anh Lê Huy Mai cùng tổ trinh sát là những người đầu tiên có mặt ở chiến trường và đã đánh nhau với quân thám báo Mỹ ngay từ thời đó. Trong suốt gần 10 năm liên tục ở chiến trường, từ tháng 3/1966 đến tháng 4/1975, từ chiến sỹ Trinh sát, trưởng thành qua các cấp sau từng mùa chiến dịch, cho đến Trưởng ban Trinh sát Sư đoàn 324, anh Lê Huy Mai đã không quản ngại gian khổ hy sinh, dũng cảm mưu trí, lập được nhiều chiến công xuất sắc.
Vốn là chiến sĩ Trinh sát rồi trưởng thành lên cán bộ Đại đội Đặc công, không ít lần tôi đã cùng đồng đội luồn qua nhiều lớp hàng rào, bãi mìn vào đồn địch để trinh sát điều nghiên. Và cũng có lúc - ít thôi, vào mùa Hè năm 1967 -  tôi đã cùng mấy anh em vào trinh sát vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Quảng Trị. Bởi vậy, tôi rất thấu hiểu và có phần thán phục anh Lê Huy Mai trong nhiều sự kiện. Trong đó, phải kể đến thời điểm anh dũng cảm vào điều nghiên trinh sát Cứ điểm Cồn Tiên, trực tiếp chỉ huy đội mở cửa đánh lấn Cứ điểm Cồn Tiên, chỉ huy tổ Trinh sát kiên cường dũng cảm giữ chốt Cồn Hụ - cạnh Cồn Tiên - đánh tan nhiều đợt tấn công của một đại đội Thủy quân lục chiến Mỹ trong điều kiên vô cùng ác liệt. Đặc biệt là, sau Chiến dịch Tổng tấn công Mậu Thân 1968, anh Lê Huy Mai được Thủ trưởng Trung đoàn 1 giao nhiệm vụ chỉ huy Phân đội trinh sát 10 người quay lại đồng bằng tỉnh Thừa Thiên để móc nối bắt liên lạc, phối hợp cùng cơ sở và du kích địa phương tìm kiếm đưa được hơn 100 thương binh đang được nhân dân cưu mang che chở, đưa về vùng giải phóng. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nguy hiểm: Khi đó hầu như toàn bộ đồng bằng Thừa Thiên đều đã bị quân địch tái chiếm. Các cơ sở bí mật của cách mạng đã bị phá vỡ. Lực lượng du kích rất mỏng, lại bị phân tán. Kẻ địch dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm, độc ác trong việc săn lùng bắt bớ. Trong suốt quá trình 5 tháng về lăn lộn ở vùng địch để thực hiện nhiệm vụ này, đã có 6 trên 10 đồng chí của Phân đội trinh sát hy sinh.
Khi đọc Hồi ký và tìm hiểu cụ thể về anh Lê Huy Mai, tôi có một điều băn khoăn, trăn trở là tại sao một con người có bề dày thành tích, lập được nhiều chiến công xuất sắc đến như vậy mà chưa được tuyên dương Anh hùng LLVTND.  
Thông thường thì, đối với người đọc nói chung và những người đã trải qua những năm tháng chiến tranh nói riêng, thì điều hấp dẫn đích thực của Hồi ký trong chiến đấu phải là sự trung thực, khách quan của tác giả khi kể lại, tả lại các sự kiện, các trận chiến đấu. Không ai được hư cấu khi viết hồi ký. Rồi nữa, dẫu là nhân vật trung tâm, đóng vai trò là người dẫn chuyện, nhưng tác giả không bao giờ được đề cao cái tôi trong tất cả mọi chuyện. Cuốn hồi ký “Từ châu thổ sông Hông đến sông Hương xứ Huế ” của anh Lê Huy Mai được viết bởi chính người trong cuộc với ngồn ngộn tư liệu, con người, sự việc được trình bày một cách chân thực, trần trụi, sinh động và thật như nó vốn có. Không tô hồng và cũng không có ý làm văn, không nặng về câu chữ. Bằng lối viết dung dị, chân thực, sinh động, phong phú, rất hấp dẫn đối với người đọc.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta đã kết thúc hơn 40 năm. Trong nhiều năm qua, đồng thời với các tác phẩm văn học nghệ thuật,  nhiều tập hồi ký đã tái hiện một cách sinh động, chân thực, hấp dẫn về cuộc chiến đấu trường kỳ, quyết liệt, gian khổ mà hào hùng của quân và dân ta. Trước hết, đó là những lời tri ân đối với sự hy sinh to lớn của nhiều thế hệ; là sự phản ánh phong phú trên từng góc nhìn về một thời kỳ lịch sử vẻ vang; Đồng thời, qua đây góp phần cung cấp cho bạn đọc những điều cần thiết. Với suy nghĩ đó, tôi cho rằng, Hồi ký “ Từ châu thổ Sông Hông đến sông Hương xứ Huế ” của anh Lê Huy Mai là một cuốn sách quí!
Tôi quan niệm cuốn Hồi ký “ Từ châu thổ sông Hồng đến sông Hương xứ Huế ” vừa là bản trích yếu lý lịch bằng văn chương của Thiếu tướng Lê Huy Mai trên những nẻo đường quân ngũ, vừa là đứa con tinh thần quý báu của anh trao lại cho đời, cho gia đình, đồng đội, bạn bè và bạn đọc xa gần.
Với tư cách là đồng đội cùng đơn vị cũ - được coi như một nhân chứng của một thời sôi động đầy gian khổ hy sinh mà ấm áp tình người - tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc Hồi ký của Thiếu tướng Lê Huy Mai.

Mỹ Đình, rằm Tháng Chạp năm Đinh Dậu


                         N M Đ       

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

            TẬP THƠ LÀ CẢ MỘT TẤM LÒNG



                                      Nguyễn Mạnh Đẩu


Với sự đồng cảm thân quý, trong Lễ kỷ niệm 73 năm Ngày thành lập QĐNDVN, 22/12/2017, tại Tổng công ty 36 Bộ Quốc phòng, Đại tá PGS TS Vũ Đăng Hiến chuyển tôi bản thảo tập thơ mang tựa đề “ MÀU CÁT TUỔI THƠ ” của anh. Và anh tin tưởng đề nghị tôi viết Lời Giới Thiệu trước khi gửi đến Nhà xuất bản. Tôi thật sự lo lắng khả năng văn chương hạn chế của mình khi đặt bút viết về tập thơ của anh. Tôi đã dành thời gian đọc kỹ bản thảo dày 125 trang với 120 bài thơ khá hay do anh chọn lựa trong số bài viết từ nhiều năm trước, gồm nhiều chủ đề và nhiều thể loại thi pháp.
Vũ Đăng Hiến sinh ra ở làng Long Trảo ( Nghi Khánh, Nghi Lộc, Nghệ An ) - một làng có truyền thống lịch sử văn hóa và hiếu học - cách làng Đại Xá quê tôi chỉ một cánh đồng. Lớn lên từ một miền quê bên bờ biển Cửa Lò chất đầy kỷ niệm tuổi thơ gắn liền với cát trắng. Phải chăng vì thế mà Vũ Đăng Hiến đã chọn tên tập thơ là MÀU CÁT TUỔI THƠ. Cũng như ngay từ đầu sách, tác giả giả đã đưa ra Lời nguyện : “ Tôi xin nguyện mãi là hạt cát / Gửi mình nơi bãi biển quê hương / Để sớm tối rì rào nghe biển hát / Câu dặm quê nhà muối mặn, gừng cay”.
Năm 1974, tròn 20 tuổi, Vũ Đăng Hiến lên đường tòng quân vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam, tiếp đến là chiến đấu vì nghĩa vụ quốc tế tại chiến trường Cămpuchia, rồi sau đó được tuyển chọn về Hà Nội đào tạo Sĩ quan chỉ huy tham mưu Học viện Hậu cần Bộ Quốc phòng. Với phẩm chất tốt, được rèn luyện thử thách qua thực tiễn chiến đấu, lại có kết quả tốt nghiệp thuộc loại giỏi, anh được giữ làm Giảng viên, rồi từng bước trưởng thành lên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Hậu cần quân sự. Qua tuổi học trò trên quê hương yêu dấu, rồi 40 năm trong binh nghiệp - từ chiến trường đến nhà trường - tạo nên cho Vũ Đăng Hiến chất liệu một cuộc sống sôi động, phong phú, thi vị và được anh đã chắt lọc gửi gắm vào những trang thơ hào sảng, thi vị, trữ tình.
Thơ là tiếng nói của cõi lòng được chắt ra, thốt lên từ trong sâu thẳm nội tâm của tác giả nhằm sẻ chia như một điều tâm tình với người thân, bè bạn và công chúng. Đó là nhu cầu tự nhiên của những người làm thơ, Vũ Đăng Hiến không là ngoại lệ. Sự đa cảm của tâm hồn thi nhân giao hòa với với cảnh vật tạo nên những bài thơ hay. Thơ Vũ Đăng Hiến là tiếng nói của tình yêu chân thành đối với gia đình, quê hương, đất nước. Mà trước hết, ấn tượng sâu đậm nhất là sự thi vị của tình yêu lứa đôi nồng nàn, mãnh liệt, đắm say.
Dẫu xa quê hơn 40 năm trời gắn với cuộc đời binh nghiệp, nhưng hồn thơ của anh vẫn luôn đau đáu hướng về gia đình và quê hương yêu dấu. Ở đời, con người ta có quyền chọn lựa nhiều thứ, nhưng có hai thứ do tạo hóa sắp đặt ban phát không ai có thể chọn lựa được, đó là: Cha mẹ và Quê hương. Chính vì vậy, đức hiếu nghĩa với cha mẹ và tình yêu đối với quê hương là nền tảng cội nguồn cảm hứng của Vũ Đăng Hiến. Anh đã dành những vần thơ da diết, thiết tha và trữ tình khi khi viết cha mẹ và quê hương mình:
“ Một cội tám cành hoa trái ngọt / Ba miền sum họp giữa ngày xuân / Cung chúc Thung - Huyên tuổi thất tuần / Trường thọ khang sinh mãi mãi xuân”.
( MỪNG MẸ CHA TUỔI BAY MƯƠI )
“ Cha nằm trên đất quê nhà / Bao vòng hao đã làm nhòa mắt con / Chẳng tin cha mất hay còn / Nỗi đau cha mất héo hon cuộc đời / Nỗi buồn lãnh lẽo chơi vơi / Đường quê cát bỏng giữa trời nắng mưa”. “ Cúi đầu thắp một nén nhang / Mong cha phù hộ trên ngàn bước đi”.
( KHÓC CHA )
“ Tuổi thơ nghe tiếng mẹ ru / Ầu ơ cánh võng những trưa gió lào / Một đời vất vả gian lao / Còng lưng trên ruộng cùng bao việc nhà / Nghe trong khúc hát dân ca / Cánh cò lặn lội đồng xa đồng gần / Vai gầy mẹ gánh gia truân / Tiễn con ra trân mấy lần mẹ ơi / Con đi khắp bốn phương trời / Mới về bên mẹ nghe lời mẹ ru / Còn đâu cánh võng tuổi thơ / Nằm trong ký ức bao giờ nhạt phai”.
( TÌNH MẸ )

“ Cửa Lò chiều nay biển dâng nỗi nhớ / Câu hát xưa …mô tê, răng rứa…/ Tôi đi tìm điệu ví dặm thương nhau / Bao năm rồi em phiêu dạt nơi đâu / Để con sóng bạc đầu thương nhớ / Chuyện nhân gian chuyến đò xưa cách trở / Trái tim ngủ quên tình yêu đâu còn nữa / Anh trở về sau bao cuộc bể dâu / Trái tim ngủ quên, trái tim bừng tỉnh dậy / Hạnh phúc về bên cửa sổ nhỏ nhoi”.
(CHIỀU CỬA LÒ )

Cũng như mọi loại hình văn học, thơ là sự phản ảnh hiện thực đời sống muôn màu, muôn vẻ. Trong tập thơ của Vũ Đăng Hiến chúng ta bắt gặp nhiều hình ảnh, nhiều tình cảnh. Từ ngày bước chân vào quân ngũ, giống như tâm trạng của bao chàng lính trẻ xếp bút nghiên lên đường chiến đấu, Vũ Đăng Hiến đã có bài thơ ghi lại cảm xúc của mình :
“ Đêm nằm thương mẹ nhớ cha / Rì rào con sóng mơ xa vọng vể / Ra đi nặng một lời thề / Miền nam giải phóng mới về quê hương / Đêm nay ngủ lại Trường Sơn / Chập chờn tỉnh giấc con đường còn xa …”.
( NGÀY NHẬP NGŨ )

Sau khi kết kết thúc chiến tranh, tác giả có dịp trở lại thăm trận địa cũ:
“ Tôi về thăm trận địa năm xưa / Nay bát ngát xanh vùng kinh tế mới / Ôi đã qua những ngày lửa khói / Đã qua rồi ngủ đất nằm sương / Nghe xôn xao những kỷ niệm chiến trường”.
( THĂM LẠI TRẬN ĐỊA CŨ )

Tác giả đã dành nhiều bài thơ viết về bạn học, về ngôi trường, về thầy cô giáo cũ trong những lần gặp lại:
“ Ba mươi năm tạm chia ly / Để cho lòng biển lắm khi vơi đầy / Gặp nhau tay nắm trong tay / Kể cho nhau chuyện tháng ngày chia xa / Chuyện công tác chuyện cửa nhà / Chuyện con ăn học, lên bà - lên ông / Chúc nhau một chén rượu nồng / Chúc thầy, chúc bạn khỏe không tuổi già / Ngày mai ta lại tạm xa / Hẹn ngày gặp lại quê nhà Hè sau”.
( NGÀY GẶP LẠI )

“ Đã đi gần trọn cuộc đời / Để nay gặp lại bao người mến thương / Lớn lên từ một mái trường / Lắng sau trong mỗi bước đường ta đi / Biển xưa đã nói những gì / Để bao con song mãi đi tìm bờ / Vẫn màu cát trắng tuổi thơ / Thắm tình bè bạn bao giờ nhạt phai / Thời gian như giấc mơ dài / Hỏi lòng ai đã nhớ ai bao lần !”.
     ( MÀU CÁT TUỔI THƠ )

Thông qua cuộc sống, Vũ Đăng Hiến luôn giao cảm với ngoại cảnh. Những mảng màu chất liệu phong phú, đa dạng của cuộc sống được chắt lọc qua lăng kính tâm hồn của anh đã bừng lên lấp lánh những giá trị nhân văn, thấm đượm tình người.
“ Đảo Ngư ơi, hòn ngọc quê hương ơi / Xanh xanh ngát màu đất trời xứ Nghệ / Trăng bồng bềnh trăng rơi nghiêng thế / Thêm nao lòng người con ở phương xa / Trăng nhô lên từ hòn đảo quê nhà / Để thêm đẹp quê hương mình Cửa Lò, Cửa Hội”.
( ĐÊM CỬA LÒ )

“ Tôi đến Viên Chăn làm sao đi hết được / Dọc chiều dài đất nước triệu voi / Viết mấy câu sao nói hết chuyện đời / Cảm nhận Viên Chăn một thời để nhớ”.
(CẢM NHẬN VIÊN CHĂN )

“ Tôi về thăm Đồng Lộc / Giữa trưa hè Tháng ngâu / Gió lào tung bụi đỏ / Thêm nghĩa nặng tình sâu … Bốn mươi năm qua mau / Bao mùa thông thay lá / Mùa bồ kết trổ bông / Hương thơm ngát núi rừng. Đồi thông ngày đêm hát / Dịu dàng trong tiếng nhạc / Điệu ví và lời ru / Để người yên giấc ngàn thu”.
(THĂM NGÃ BA ĐỒNG LỘC)

Thơ là kết tinh của cảm xúc thăng hoa xuất thần trong tâm hồn được thể hiện bằng ngôn từ trau chuốt, chuẩn xác, tinh tế của tác giả tạo ra giá trị nghệ thuật. Thơ là tiếng hát cuộc đời của mỗi con người. Qua thơ Vũ Đăng Hiến, làm chúng ta thêm thêm yêu, thêm gắn bó với cuộc sống.
“ Biển đang lặng mong trời đừng nổi giận / Đẩy thuyền xô mặt biển sóng ồn ào / Bến cũ thuyền xưa dây đã buộc sào / Xin hãy để thuyền neo cùng với biển…”.
(THUYỀN VÀ BẾN)
“ Nghe em hát mênh mang điệu ví / Để lòng anh cứ thế xốn xang / Đục con nước dòng Lam / Đục trong câu dặm nặng lòng người ơi”.
( NGỌT TRONG DIỆU VÍ DẶM QUÊ MÌNH )
“ Đừng lỡ hẹn, người ơi đừng lỡ hẹn / Để bến sông cứ đợi mãi con đò / Và đêm dài cứ sống mãi trong mơ / Về đi em, con sông quê vẫn nhớ”
( XIN ĐỪNG LỠ HẸN )

Bên cạnh những bài thơ trữ tình, Vũ Đăng Hiến còn có những bài thơ nói lên sự day dứt trăn trở trước nhân tình thế thái.
“ Đất nước mình có phức tạp lắm không / Từ bộ, ngành xuống đến địa phương / Chưa hết chuyện này đã sang sang chuyện khác / Mời gọi đầu tư mang về bao thứ rác / Rác tư duy, rác công nghệ, rác hiện hữu, vô hình … Chuyện tày đình là “ kế sách dụng binh” / Ba mươi tuổi, cha xếp con làm ông này bà nọ / Thua lỗ kinh doanh bao nhiêu ngàn tỷ / Vẫn nghiễm nhiên làm chưc nọ, quan kia / Phép nước coi khinh tham nhũng lọc lừa / Lợi ích nhóm tầm cao, tầm thấp …”.
( BUỒN VUI THẾ THÁI NHÂN TÌNH )
“ Lũ bành trướng muốn gì trên biển / Mà hung hăng hiếu chiến lắm thay / Giàn khoan, tàu chiến, máy bay / Vòi rồng, va húc, bủa vây bốn bề …/ Bất nhân đạo đức chó dê / Bá quyền bàn trướng vồn nghề xưa nay … Ngàn năm vẫn một lời thề / Biển Đông máu thịt muôn người Việt Nam”.
( TIẾNG GỌI BIỂN ĐÔNG )

Thơ Vũ Đăng Hiến có nhiều cung bậc cảm xúc hòa quyện tự nhiên với nhau mà trong cung bậc nào cũng thăng hoa đến tận cùng. Là âm điệu trữ tình khi viết về quê hương, gia đình và tình yêu đối lứa. Hoặc là những âm điệu tráng ca, hảo sáng khi viết về cuộc sống đời quân ngũ, về tình đồng đội. Và có khi là những cảm xúc suy tư đượm màu sắc triết lý nhân sinh.
“ Đau nhói vết thương xưa / Ký ức chiến tranh một thời máu lửa / Tuổi thanh xuân ra đi từ đó / Để lại cho đời một khúc tráng ca / Mười ba cô gái tuổi mười tám, đôi mươi / Thành bất tử hóa thân vào đất mẹ … Trận địa xưa, nay thành khu tưởng niệm / Tiếng chuông ngân trong gió thu về”.
( VỀ TRUÔNG BỒN )

“ Mưa tháng năm cho nỗi nhớ bâng khuâng / Xua chút lạnh Nàng Bân còn đọng lại / Ngày gặp lại trong cơn mưa mùa Hạ / Tay trong tay đội chung nón đi về . Giờ em đã qua bao cơn mưa trong đời / Từng khát cháy lời yêu trên môi ướt nhẹ / Em đã đi qua bao mùa không mưa lạnh/ Kỷ niệm tuổi học trò đẹp lắm anh ơi”.
( KỶ NIỆM THÁNG NĂM )

“ Lũ con trai yêu bừng đôi mắt / Cái dáng bề ngoài làm ngây ngất con tim / Tụi con gái yêu bằng cái tai / Lời nói ngọt ngào xiêu lòng phái đẹp … Nghịch lý tình yêu như đôi dòng sông mát / Bao cuộc tình đắng cay cũng vì tai - mắt / Triết lý cuộc đời như ngõ nhỏ ta qua”.
( NGHỊCH LÝ TÌNH YÊU )

“ Người khôn tìm chỗ để ngồi / Tìm sông để tắm, tìm người gửi trao / Trăm năm làm phận má đào / Khôn ngoan chi lắm cho đào phôi phai … Chi bằng nhóm lửa tối - mai / Cơm ngon canh ngọt cho ai quý mình …”.
( LỜI KHUYÊN )

“ Một thuyền một bến một dòng sông / Mà sao nghiêng ngả đôi dòng thuyền ơi / Sướng vui một kiếp làm người / Đục trong, nông cạn ai người đếm đong / Mong sao thuyền cứ xuôi dòng / Bên ni, bên nớ nhớ mong tháng ngày”.
( SÔNG VÀ THUYỀN )

“ Cuối đông cái rét về tê tái / Mấy giọt mưa dăng níu chân người / Thương ai thao thức đêm không ngủ / Để lòng vương vấn mãi không thôi”
( CUỐI ĐÔNG )

“ Lời yêu em gửi tặng anh / Bởi yêu nên mới ngọt lành lời ru / Lời ru tiếng mẹ trong mưa / Tiếng cha trong gió bốn mùa thoáng qua / Dịu dàng như điệu dân ca / Trong như giọt nước mưa sa quê mình / Dịu dàng em gửi trao anh / Dịu dàng muôn thuở ngọt lành lời ru”.
( DỊU DÀNG LỜI YÊU )


Với tính đa dạng của đề tài, súc tích về ngôn từ, trong sáng về tư duy và phương pháp diễn đạt, có tính khái quát hình tượng văn học tinh tế mà dung dị, sống động, giàu tình cảm, tập thơ của Vũ Đăng Hiến chắc chắn được người thân, bạn bè và bạn đọc quý mến.
Theo cảm nhận của tôi, tập thơ MÀU CÁT TUỔI THƠ là cả tấm lòng sâu lắng nặng tình, nặng nghĩa của Đại tá PGS TS Vũ Đăng Hiến đối với cuộc đời trên từng bình diện.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc xa gần.

Mỹ Đình, Tháng Chạp năm Đinh Dậu
                       N M Đ