Menu ngang

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

MỚI ĐÓ, ĐÃ 10 NĂM ÔNG VỀ CÕI VĨNH HẰNG ( 2006-2016)
--------------------------------------------------------------------------------



ĐẠI TƯỚNG CHU HUY MÂN -

     những kỷ niệm trong đời tôi



                                                                           N M Đ


Ngày 14/3/2013, tại thành phố Vinh - Nghệ An, đã diễn ra cuộc Hội thảo khoa học: “Đại tướng Chu Huy Mân với cách mạng Việt Nam và quê hương Nghệ An” nhân kỉ niệm 100 năm Ngày sinh của ông (17/3/1913 - 17/3/2013). Hội thảo khẳng định: Ông là tấm gương sáng ngời của một chiến sĩ cách mạng kiên trung - một lãnh đạo tiêu biểu của Đảng, Nhà nước - một vị tướng tài ba của Quân đội ta.
Với công trạng to lớn, Đại tướng Chu Huy Mân đã được Đảng, Nhà nước trao tặng phần thưởng cao quí: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quí khác. “Hai Mạnh” là biệt danh của ông. Quê ông ở xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An).
Điều may mắn đối với tôi vừa là đồng hương, vừa được hân hạnh tiếp xúc, được ông bảo ban nhiều điều trong cuộc đời quân ngũ. Tôi xin ghi lại những kỉ niệm trong đời tôi về Đại tướng Chu Huy Mân.
Huyện Hưng Nguyên liền kề với huyện Nghi Lộc quê tôi. Thuở nhỏ, tôi được các cụ nói lại rằng, trước đây trong phần mở đầu văn khấn tế, bao giờ cũng phải đọc là “ Việt Nam quốc, Nghệ An tỉnh, Hưng Nguyên phủ, Nghi Lộc huyện,…”. Như vậy, huyện Nghi Lộc tôi xưa kia là thuộc phủ Hưng Nguyên - ít nhất là về mặt thủ tục hành chính. Từ xã Hưng Hòa quê ông đến xã Nghi Hợp quê tôi theo đường chim bay khoảng 15 cây số. Bởi thế, sinh thời, trong tiếp xúc ông vẫn luôn coi tôi như con cháu đồng hương, dành cho tôi sự đồng cảm.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5. Còn tôi, chiến sĩ rồi trưởng thành trong chiến đấu lên cán bộ cấp phân đội ở chiến trường Trị Thiên Huế. Từ hồi đó, chúng tôi đã nghe nhiều cán bộ chỉ huy kể về ông bằng sự thán phục, ngưỡng mộ. Đến năm 1976, sau khi đất nước thống nhất, tại Đại hội lần thứ IV của Đảng, ông được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị; được Đảng, Nhà nước cử giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tôi là Trợ lý ở Cục Chính sách thuộc Tổng cục Chính trị. Thời đó, giữa ông với lớp lứa hậu sinh chúng tôi là một khoảng cách lớn. Điều đó là đương nhiên. Theo Điều lệnh quân đội và theo qui chế, thông thường thì Chủ nhiệm Tổng cục làm việc với cán bộ cấp cục. Trong một thời gian khá dài, tôi chỉ nhìn thấy hoặc nghe ông phát biểu tại các cuộc hội nghị và các buổi lễ lớn.
Tại gia đình, có mấy lần tôi gặp ông sang thăm ông bố vợ tôi (Thượng tướng Trần Sâm) tại số nhà 30 - Lý Nam Đế - Hà Nội. Hai ông quen thân nhau từ nhiều năm trước, bởi giữa họ có nhiều nét tương đồng: Cùng quê Khu Bốn, cùng là cán bộ hoạt động Cách mạng bị địch bắt tù đày trước Tháng 8/1945. Sau năm 1945, đều được điều động vào quân đội. Mỗi lần sang thăm, ông đều niềm nở thân tình vui vẻ với mọi người.
Cảm nhận của tôi về ông: Một người tầm thước, khỏe mạnh, da trắng hồng, gương mặt đẹp, nụ cười tươi hiền, ánh nhìn sắc sảo nhân từ. Khi tiếp chuyện cấp dưới, ông tỏ thái độ chan hòa, gợi mở, lắng nghe, kiệm lời, giọng nói trầm ấm, với cách diễn đạt mạch lạc, khúc triết, thông minh, có tầm khái quát cao và thi thoảng có xen sự trào lộng, dí dỏm của ông Đồ Nghệ. Tạo cho người tiếp xúc một cảm giác dễ gần, thân tình, thoái mái. Với tôi, cảm nhận ban đầu về ông là không thay đổi trong suốt mấy chục năm sau này.
Vào một ngày cuối tháng 2/1979, khi chiến tranh biên giới diễn ra khoảng gần chục ngày, tôi cùng một số ít cán bộ được Thủ trưởng Tổng cục Chính trị cử đi nắm tình hình tại một số đơn vị đang chiến đấu trên biên giới phía Bắc. Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi bất chợt gặp ông ở dãy hành lang của tòa nhà Văn phòng Tổng cục Chính trị.
Ông dừng lại, hỏi tôi:
- Cháu được cử đi đâu?
- Dạ, cháu được cử lên Mặt trận Cao Bằng, bác ạ!
Ông nói tiếp: Thế là tốt. Chiến tranh biên giới do kẻ địch phát động đã diễn ra trên diện rộng, với qui mô lớn. Sau mấy năm yên bình, nay cả nước lại phải đương đầu một cuộc chiến tranh mới, với kẻ thù mới. Cháu đã qua chiến đấu ở chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ. Nay, cần tiếp tục phấn đấu rèn luyện qua thực tiễn chiến đấu, công tác ở đơn vị cơ sở. Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, bác đã từng chỉ huy chiến đấu ở Cao Bằng. Bây giờ lên đó, cháu phải xuống hẳn một Trung đoàn, trực tiếp nắm tình hình và giúp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị giải quyết những vấn đề đặt ra. Nhớ có báo cáo kịp thời về Tổng cục.
Tôi chia tay ông và vui vẻ lên đường về Trung đoàn 567 của Quân khu 1 lúc đó đang chiến đấu ở Thạch An, Cao Bằng.
Cuối năm 1983, khi đang công tác trong cơ quan Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam tại Phnôm Phênh, tôi được ông Đặng Hữu Lộc (Lộc Bi), Cục phó Cục Chính sách “kéo về” báo cáo tình hình với ông Chu Huy Mân tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi nghe ông Đặng Hữu Lộc trình bày báo cáo tình hình chung và tình hình cụ thể về công tác chính sách, ông Chu Huy Mân nói: Thực hiện chủ trương của trên, Quân đội ta đã thực hành cuộc phản công chiến lược, phối hợp cùng lực lượng cách mạng của Bạn giải phóng nhân dân Cămpuchia khỏi họa diệt chủng. Trước mắt, tình hình Cămpuchia đang còn nhiều khó khăn phức tạp, Quân Tình nguyện Việt Nam vừa tiếp tục chiến đấu tiêu diệt địch vừa không ngừng giúp Bạn ngày một lớn mạnh. Trong thời gian không lâu nữa, khi lực lượng Bạn đủ mạnh, thì Quân Tình nguyện Việt Nam sẽ rút về nước. Công tác chính sách có nhiệm vụ: Kịp thời nghiên cứu đề đạt nội dung chính sách đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu của bộ đội. Đồng thời, tập trung chỉ đạo hướng dẫn thực hiện công tác chính sách trong và sau chiến đấu… Sau cùng, ông tỏ lời khen: Lộc Bi mới sang Cămpuchia một thời gian rất ngắn mà nắm chắc tình hình, có nhận định khái quát mà lại khá cụ thể. Nghe thế, ông Lộc vui vẻ nói, thưa anh, thần thiêng nhờ bộ hạ, bản báo cáo do cậu này tham gia chuẩn bị đấy. Cậu này đã sang chiến trường K gần một năm rồi ( ông Lộc vừa nói vừa chỉ tay sang tôi ). Ông Mân mỉm cười đôn hậu nhìn tôi nói, đúng là có bột mới gột nên hồ, nhưng có chất liệu rồi cũng phải có cách viết tốt mới thể hiện được.
Đầu năm 1986, ngày mồng Sáu Tết âm lịch, tôi được ông Doãn Sửu, Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Chính sách “kéo đi” tháp tùng ông Chu Huy Mân sang Phnôm Phênh. Lúc đó, ông được Bộ Chính trị phân công thay mặt Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương bậc cao của ta cho lãnh đạo Nhà nước Cămpuchia, gồm các ông: Hiêng Xom Rin, Chia Xim, Hun Xen, Tia Banh, Bu Thoong… Buổi lễ được tổ chức trọng thể ở Hội trường trong khuôn viên của Đại sứ Trung Quốc (hồi đó, Đại sứ Trung Quốc đang trong thời kỳ rút khỏi Phnôm Phênh). Khi trở về Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện (đóng tại khu vực vốn là Trường đảng của Khơ me đỏ - gần Cung điện Chăm Ka Mon), ông biểu dương Cục Chính sách đã làm tốt công tác phối hợp với Bộ Quốc phòng, các cơ quan hữu quan của Bạn và các cơ quan của ta trong việc đề nghị xét khen thưởng lãnh đạo Bạn một cách chính xác, kịp thời, đúng nguyên tắc thủ tục; đồng thời đã phối hợp trực tiếp tổ chức buổi lễ trọng thị, chu đáo, có ý nghĩa chính trị tốt, tăng cường tình đoàn kết giữa hai nước.
Năm 1987, khi tôi đang làm Trưởng phòng Nghiên cứu của Cục Chính sách. Có lần ông cho ông Lan thư ký (quê Quảng Bình) gọi tôi ra nhà riêng. Tôi đến nơi vừa ngồi vào bàn, được ông trao cho một cốc bột sắn giây.
Ông nói:
- Cháu uống đi, đây là sản phẩm do tự tay bác và bác Thủy (vợ ông) tăng gia đấy.
Đang lúc trời nắng nóng, được uống cốc bột sắn giây thật mát.
Tiếp đó, ông hỏi tôi:
- Năm nay cháu bao nhiêu tuổi.
- Dạ, cháu 39 tuổi ạ. Tôi trả lời.
Ông nói:
- Đó là độ tuổi đẹp trong đời. Thử tính xem nào, năm 39 tuổi, bác đã làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 316 rồi đấy nhé.
Thấy ông vui, tôi tếu táo đáp:
- Thế hệ của các bác là thế. Nhưng còn bọn cháu bây giờ, ở lứa tuổi này, các cụ còn xem là trẻ quá.
Ông cười: Không trẻ nữa đâu, ngót 40 tuổi rồi. Lãnh đạo đơn vị cần quan tâm tạo điều kiện để các cháu phát triển. Nhưng trước hết và chủ yếu là sự nỗ lực phấn đấu của các cháu. Thôi, bây giờ ta vào việc nhé. Việc là thế này: Có một người thương binh tên là Đ N H đến đây nói với bác rằng, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, anh ta làm Trung đoàn phó của Đại đoàn 316, nay đề nghị bác với tư cách nguyên Chính ủy Đại đoàn 316 xác nhận về chức vụ và thành tích chiến đấu khi bị thương để được hưởng các quyền lợi. Bác thấy ngờ ngợ. Là Chính ủy Đại đoàn thì làm sao quên được các Trung đoàn phó dưới quyền. Nhưng đề phòng do tuổi tác đã cao, trí nhớ giảm sút, ngộ nhỡ mình quên mà để anh em thiệt thòi quyền lợi là thiếu sót lớn. Bác yêu cầu cháu cho người kiểm tra xác minh.
Tôi nhận hồ sơ từ tay ông và hứa sẽ tiến hành ngay.
Sau một thời gian ngắn, chúng tôi xác minh ông Đ N H đúng là thương binh chống Pháp. Nhưng tại hồ sơ gốc và giấy tờ ông ấy cầm đã có sai lệch. Trong hồ sơ gốc thì ghi chức vụ khi bị thương là Tiểu đội phó. Nhưng giấy tờ của ông lại ghi là Trung đoàn phó. Nguyên nhân của việc nay là do khi đơn vị cấp Giấy Chứng nhận bị thương đã cẩu thả viết tắt Tiểu đội phó là T. Đ. PHÓ. Khi xuất ngũ về địa phương, ông H đã tự ý chữa lại giấy tờ là Trung đoàn phó. Bằng các chứng cứ pháp lý và xem xét thực tế, cán bộ Cục Chính sách ( mà trực tiếp là chị Hồ Thủy và anh Hồ Ngọc Vận ) đã khẳng định: Ông Đ N H khai man hồ sơ. Điều đó ông Đ N H không thể chối cãi được, và phải viết bản cam đoan từ nay không khiếu nại nữa.
Khi nghe chúng tôi báo cáo, ông nghiêm mặt nói: May có các cháu xác minh làm rõ. Nếu không dựa vào cơ quan chức năng, mà nhẹ dạ cả tin cứ ký đại đi, vô hình trung bác sẽ tiếp tay cho tiêu cực. Trước khi tôi ra về, ông dặn rằng, trong công tác chính sách cần chu đáo mà chặt chẽ. Để bảo đảm công bằng, thì không được để sót người có công, nhưng cũng phải hết sức thận trọng chủ động ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực. Nếu không, sẽ có người khai man để hưởng chính sách chế độ. Tham nhũng về chính sách là sự tham nhũng cả về danh dự chính trị và quyền lợi kinh tế. Điều đó chắc chắn sẽ gây bất bình trong nhân dân.
Ngày 25/5/1998, trong chuyến công tác tại Lào, Đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN do Trung tướng Đào Trọng Lịch Tổng Tham mưu trưởng dẫn đầu đi trên máy bay YAK 40 cất cánh từ Viên Chăn đến Xiêng Khoảng bị rơi do đâm vào núi. Toàn bộ trên máy bay đều bị tử nạn, với 20 người, gồm 5 cấp Tướng, 5 Đại tá,… trong đó có Trung tá Chu Thế Sơn, con trai một của ông Chu Huy Mân.
Cũng như các gia đình có người thân hy sinh, đây là một đau thương mát mát to lớn ập đến gia đình ông Chu Huy Mân. Chu Thế Sơn là một sĩ quan trẻ, tuấn tú, được đào tạo cơ bản, có năng lực, sống khiêm nhường, được mọi người quí mến và có triển vọng phát triển. Có lần, ông Chu Huy Mân nói với tôi, bác đã đề nghị cơ quan cho Sơn xuống đơn vị. Cụ thể là về Sư đoàn 316 - đơn vị cũ của bác. Nghe đâu, cơ quan cán bộ đã báo Bộ Quốc phòng chuẩn bị ra quyết định. Không ngờ đây là chuyến công tác cuối cùng của Sơn trên cương vị sĩ quan tổng hợp Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu.
Sau khi nhận được thông tin, theo chỉ đạo của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, tôi và mấy anh em Cục Chính sách đến chia buồn và thông báo tình hình với gia đình ông.
Ông ngồi lặng người choáng váng, chăm chú nghe, nghẹn ngào không nói nên lời. Sau cùng, ông kéo mình tôi vào phòng trong hỏi:
- Trải qua mấy chục năm chiến tranh, biết bao lần, bác thương xót khi đồng đội hy sinh. Nhưng lần này, quả thật đau đớn lắm cháu ạ. Cháu có biết, những người hy sinh liệu có còn thi thể không?
Tôi trả lời:
- Thưa bác, cụ thể thế nào thì Đoàn cán bộ của Bộ Quốc phòng do anh Nguyễn Văn Rinh, Phó Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu đang sang làm việc với Bạn. Cháu đã cử anh Đỗ Quang Bích - Cục phó cùng đi. Theo cháu, lâu nay các trường hợp tai nạn máy bay, nói chung là khó lắm.
Giọng ông chùng xuống, rưng rưng:
- Bác cũng nghĩ thế. Nhưng cháu khoan nói điều này với bác gái và mọi người.
Khoảng một tuần sau, vào một buổi chiều hè nắng chói chang, Lễ tang cấp Nhà nước được tổ chức trọng thể tại Sân bay Gia Lâm - Hà Nội. Ông Chu Huy Mân cùng gia đình đến viếng các liệt sĩ. Ông đã dừng lại, đứng lặng người, đưa tay nhẹ nhàng mở lá Quân kỳ phủ ngoài, dang hai tay choàng ôm, rồi cúi hôn lên cái tiểu sành đựng thi thể con trai mình. Sau đó ông lẳng lặng gạt nước mắt. Năm ấy ông tròn 85 tuổi. Chứng kiến thời khắc đó, tôi nghẹn lòng thương ông vô cùng.
Mấy năm sau này tôi đến thăm ông nhiều lần. Có lần đi cùng anh Phạm Văn Long. Có lần đi cùng anh Hồ Sỹ Hậu. Có lần đi cùng anh Trương Quang Khánh. Phần nhiều là tôi đến một mình - do ông gọi đến hoặc tôi chủ động tới. Lâu lâu không đến thì ông nhắc (các anh Nguyễn Văn Vượng, Trương Kim Tiến - thư ký và Nguyễn Hồng Triền - bác sĩ- có nói với tôi như vậy). Với tôi, mỗi lần đến thăm đều được ông chia sẻ tâm sự và bảo ban nhiều điều.
Một lần nhân lúc vui chuyện, tôi tranh thủ hỏi ông, Bác Hồ nói: “Giúp Bạn là tự giúp mình” trong hoàn cảnh nào. Bác Hồ đặt cho bác là “Tướng Hai Mạnh” từ lúc nào.
Ông kể rằng: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đang là Bí thư Đảng ủy, Chỉnh ủy Đại đoàn 316, tháng 8-1954, ông được Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh cử giữ chức Đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Đoàn Chuyên gia quân sự tại Lào. Phiên hiệu là Đoàn 100. Tổng số cán bộ trong Đoàn đúng 100 người. Ông Lê Tiến Phục, sau này là Thiếu tướng, Cục trưởng Chính sách, lúc đó giữ chức Chủ nhiệm chính trị của Đoàn. Trước ngày lên đường, ông được Bác Hồ mời đến ăn cơm và nói chuyện. Bác Hồ đã nói với ông rằng: “ Giúp Bạn là tự giúp mình”.
Ông chậm rãi kể tiếp: Thời kỳ đầu đánh Mỹ, sau đánh thắng lực lượng lục quân Mỹ trong chiến dịch PlâyMe - đặc biệt là trận IaĐrăng tháng 11/ 1965 - với cương vị là Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, ông được cấp trên “triệu” ra Bắc để báo cáo tình hình. Chuyến đó, Bác Hồ đã dành thời gian nghe ông báo cáo và mời cơm thân mật. Bác Hồ chăm chú nghe và hỏi rất kỹ về tình hình đồng bào, bộ đội ở Tây Nguyên. Khi chia tay, Bác Hồ hỏi ông, ở Tây Nguyên chú vừa làm Tư lệnh vừa làm Chính ủy? Ông trả lời, thưa Bác, anh Lê Đức Thọ Trưởng ban Tổ chức Trung ương nói với cháu rằng, trong khi chưa tìm được người, cháu đảm nhiệm cả hai cương vị: Tư lệnh kiêm Chính ủy. Nghe xong, Bác Hồ nói, làm được cả hai cương vị là giỏi, gánh được cả hai vai là khỏe. Từ nay gọi chú là Tướng Hai Mạnh. Mạnh cả về chính trị, mạnh cả về quân sự.
Đầu tháng 12/2000, chúng tôi tổ chức cưới vợ cho con trai đầu. Ông đến tận nhà chúc phúc hai cháu, chung vui với gia đình và vợ chồng tôi.
Tháng 5/2004, sau khi lên Điện Biên Phủ nhân kỉ niệm 50 năm ngày chiến thắng (7/5/1954 – 7/5/2004) về Hà Nội tôi đến thăm và tặng ông bài thơ “Con về Điện Biên” do tôi mới viết. Ông vui vẻ chuyện trò và nghe tôi đọc thơ. Tiếp đó, trong không khí thân tình, tôi hỏi ông:
- Thưa bác, cháu đã 3 lần lên Điện Biên. Mấy lần cháu đã nghe giới thiệu về trận chiến đấu ở Đồi A1. Có một điều làm cháu cứ phân vân mãi.
Nghe tôi nói thế, ông niềm nở:
- Ờ! Thế à, cháu nói đi, thường thì bác cũng thích những ý kiến có tính chất phản biện.
Được ông khuyến khích, tôi tiếp tục:

- Thưa bác! Với những điều đã biết, thì nhận thức của nhiều người trong lớp lứa chúng cháu có suy nghĩ này mà chưa có điều kiện nói ra. Nhân hôm nay đến thăm bác, trong phạm vi có tính chất gia đình, cháu xin mạo muội, mạn phép hỏi bác: Hồi đó, lực lượng ta tham gia đánh Cứ điểm A1 là Trung đoàn 174 / Đại đoàn 316 (do bác là Chính ủy Đại đoàn trực tiếp chỉ huy) và Trung đoàn 102 / Đại đoàn 308 (do bác Vương Thừa Vũ là Đại đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy), liên tục thay nhau chiến đấu ròng rã hơn 1 tháng, thương vong rất lớn. Cuối cùng, phải đào hầm ngầm đưa khối bộc phá 1.000 kg đánh vào trung tâm, kết hợp với tấn công dồn dập mới dứt điểm được.

Cháu thiết nghĩ, có 2 vấn đề đặt ra:
Một là, Về chủ trương: Sở Chi huy quân Pháp đặt ở giữa cánh đồng Mường Thanh. Giả sử ta bỏ qua Cứ điểm A1 hoặc cho một lực lượng bao vây chặt Cứ điểm A1, tập trung phần lớn lực lượng đánh thẳng vào Mường Thanh. Và như thế, khi Sở chỉ huy sở của Đờ - Cát ở Mường Thanh bị tiêu diệt, thì tự khắc quân địch ở Cứ điểm A1 cũng bị vỡ tan theo.
Hai là, về cách đánh: Với lực lượng và cách bố phòng của địch ở Cứ điểm A1 mà chúng cháu nghe giới thiệu và xem xét trên thực địa, nếu như hồi đánh Mỹ, ta chỉ cần sử dụng 1 Tiểu đoàn Đặc công, tổ chức điều nghiên thật tốt, thực hành chiến đấu giỏi thì chỉ mất 1 đêm là có thể dứt điểm được.
Nghe tôi trình bày xong, với ánh nhìn thân thiện, ông nói:
- Ý kiến của cháu là điều đáng suy nghĩ. Lịch sử diễn ra một lần, không ai làm lại được. Nhưng, việc nghiên cứu xem xét đánh giá lịch sử lại diễn ra nhiều lần trên từng góc độ, cấp độ và phương diện khác nhau. Bài học trung thực, chính xác được rút ra từ lịch sử sẽ có giá trị cho tương lai. Có điều là, khi xem xét mọi vấn đề của lịch sử đều phải từ quan điểm lịch sử, cụ thể. Lúc bấy giờ, bác là Chính ủy Đại đoàn 316 - Nghĩa là phạm vi chịu trách nhiệm ở một hướng của Chiến dịch thôi. Xưa nay trong nghệ thuật quân sự đều chọn lợi thế điểm cao - nhất là trong chiếm đóng và phòng ngự. Chắc không ai nghĩ rằng, quân Pháp lại đặt Sở chỉ huy của Đờ - Cát ở cánh đồng Mường Thanh, giữa thung lũng. Vì như thế sẽ có nhiều bất lợi khi bị tấn công. Cả về chủ trương cũng như cách đánh vào Cứ điểm đồi A1 là do cấp có thẩm quyền quyết định trên cơ sở phụ thuộc vào kết quả nắm địch và khả năng lực lượng của ta tại thời điểm đó. Trong một trận chiến đấu (một chiến dịch) nắm được thật đầy đủ, chính xác toàn bộ việc bố trí lực lượng của quân địch là yếu tố đầu tiên đặc biệt quan trọng, góp phần tạo nên thắng lợi - Nhưng trên thực tế đây lại là vấn đề vô cùng khó khăn, phức tạp. Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi mà trận chiến đấu (chiến dịch) đã kết thúc - Nghĩa là, khi mọi việc đã sáng tỏ như ban ngày. Hơn nữa, hồi đó ta chưa có các đơn vị Đặc công như thời đánh Mỹ.
Khi tôi chuyển công tác từ Cục Chính sách TCCT về Trường Sĩ quan Lục quân 1 (cuối năm 2000) và sau đó khi tôi chuyển công tác từ Trường Sĩ quan Lục quân 1 về Tổng cục Kỹ thuật (cuối năm 2004), ông đều cho gọi đến chơi nhà. Cả hai lần ông đều căn dặn tôi: Cháu phải luôn nhớ rằng, làm cán bộ chủ trì cần quán xuyến toàn diện, nhưng trong lãnh đạo, chỉ đạo lại phải trực tiếp nắm phần trọng tâm, trọng điểm. Theo cương vị của mình, khi xử lý cái trước mắt, phải tính chuyện dài hơn, đặt nó trong cái chung.
Theo mạch đó, ông kể rằng: Trong chiến đấu trên chiến trường, với cương vị lúc là Tư lệnh, lúc là Chính ủy, ông vẫn thường theo phương cách: Khi chuẩn bị các trận đánh (các chiến dịch) thì phải rất công phu. Nắm thật chắc tình hình địch, ta, địa hình. Thảo luận Phương án tác chiến thật kỹ lưỡng. Nhưng khi đã hạ Quyết tâm rồi, bước vào triển khai thực hành chiến đấu, ngồi tại Sở Chỉ huy ông yêu cầu cấp phó và cơ quan tác chiến điều hành theo kế hoạch. Những gì diễn ra theo dự kiến thì không cần báo cáo với ông. Chỉ báo cáo những vấn đề đột xuất phát sinh. Tại sao vậy. Vì người chủ trì lúc đó cần dành thời gian để suy nghĩ tính toán các bước phát triển tiếp theo. Nếu trận đánh (chiến dịch) giành thắng lợi, thì bước tiếp theo sẽ như thế nào. Quân số, vũ khí, trang bị và các mặt bảo đảm khác lấy từ đâu. Trường hợp không thành công, thì phải làm sao..v..v..Lúc bấy giờ nếu người chủ trì mải miết sa đà vào xử lý những việc quá cụ thể, thì không còn tâm lực để lo việc khác lớn hơn.
Ông trầm ngâm dặn dò: Làm Bí thư Đảng ủy, người chủ trì Công tác Chính trị phải luôn luôn là trung tâm đoàn kết trong toàn đơn vị. Trước hết là phải đoàn kết chặt chẽ với người chỉ huy, trên tinh thần giữ vững nguyên tắc, hỗ trợ nhau thực hành theo chức trách, cùng vì một mục tiêu chung là hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Kinh nghiệm cho thấy, sự mất đoàn kết giữa người chỉ huy và người chính ủy là một nguyên nhân - thậm chí là nguyên nhân chủ yếu - dẫn đến đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ.
Ở ông Chu Huy Mân do hoàn cảnh lịch sử không có điều kiện học tập nhiều tại trường. Nhưng trải qua thực tiễn hoạt động phong phú, sôi động, với nghị lực tự học, luôn đúc kết kinh nghiệm một cách sáng tạo, cộng với tư chất thông minh và phương pháp làm việc khoa học, ông đã có được khả năng tư duy sắc sảo trong lãnh đạo, chỉ huy ở tầm chiến lược.
Có lần, ông Chu Tự Di, Chánh Văn phòng TCCT kể với tôi, cách làm việc của ông Chu Huy Mân thường là: Qua nắm tình hình, xét thấy cần có chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo một vấn đề gì đó, thì ông gọi cơ quan chức năng lên. Tự ông đặt vấn đề và nêu ý tưởng khá rõ, rồi giao cho các cơ quan nghiên cứu chuẩn bị kỹ theo đúng qui trình. Khi đã hình thành dự thảo văn bản, tổ chức hội nghị thông qua, xin ý kiến tập thể. Sau đó, cơ quan hoàn chỉnh văn bản trình lên, ông trực tiếp duyệt lần cuối trước khi ban hành. Cách làm đó là chặt chẽ và có hiệu quả cao, thể hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trong nhiều lần tiếp chuyện, tôi thấy ông thường xuyên cập nhật thông tin. Những điều ông đưa ra đều mang tính thời sự trên nhiều lĩnh vực: kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, quân sự, chính trị, văn hóa, giáo dục,…Ông thường nêu lên những vấn đề hệ trọng, bức thiết và sát thực. Tôi cho rằng, khi đã đến lớp tuổi như ông, có lẽ hiếm người được như vậy.
Đại tướng Chu Huy Mân mất ngày 1 tháng 7 năm 2006 tại Hà Nội. Trước đó mấy hôm, tôi có vào thăm ông ở Viện Quân y 108. Hồi ấy, tòa nhà Khoa A 11 đang trong thời kỳ xây dựng lại, ông điều trị ở khu vực Khoa A1 bây giờ. Các bác sĩ cho tôi biết, ông bị bệnh hiểm nghèo, không thể cứu chữa. Ông ngồi với tôi ở gian ngoài buồng bệnh là chỗ tiếp khách. Tôi buồn vô cùng vì chắc chắn sẽ phải vĩnh biệt ông trong một ngày không xa nữa. Nhưng lúc đó nhìn sắc thái ông vẫn rất bình tĩnh. Ông nói với tôi rằng, cháu ạ, Điện ảnh Quân đội đã làm một Bộ phim Truyền hình về bác. Bác đã xem và có một đề nghị: Khi nào từ Viện Quân y 108 điện báo về là bác đã ra đi, thì mới được chiếu. Nghe ông nói, tôi nhận ra rằng: Ở đời, những người có nhân cách lớn thường rất khiêm nhường. Tôi chợt nhớ đến câu nói của người xưa: “ Cái quan định luận” (có nghĩa là: sau khi đậy nắp quan tài, bấy giờ xã hội mới đánh giá đúng về một con người đã ra đi).
Tiếp thu truyền thống văn hóa lịch sử của quê hương, được giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm. Trọn cuộc đời phục vụ cách mạng, ông Chu Huy Mân là một tấm gương sáng ngời về đức hy sinh, lòng dũng cảm, tài thao lược và nhân cách của người lãnh đạo.
Tài năng, nhân cách và công lao của Đại tướng Chu Huy Mân là rất to lớn. Những cảm nhận của tôi chỉ là một phác thảo, một góc nhìn rất hạn hẹp về cuộc đời trường tồn và sự nghiệp phong phú ông đã cống hiến cho Tổ quốc, Nhân dân.
Mới đó, đã nhiều năm ông về cõi vĩnh hằng. Chép lại vài mẩu chuyện về ông, tôi xin kính dâng một nén hương lòng lên anh linh một CON NGƯỜI mà tôi suốt đời ngưỡng mộ, kính trọng./.
Mỹ Đình, tháng 3 năm 2013
( Trích “ Những Kỉ niệm đời tôi ” Nhà Xuất bản QĐND, năm 2014 )
NÓI VỚI TRÁI TIM MÌNH


NMĐ

Ta biết em khổ lắm tim ơi
Trải mấy mươi năm gõ nhịp đời
Khi dập dồn đau buồn thảng thốt
Lúc rộn ràng háo hức bến bờ vui

Cám ơn Trời, cám ơn Mẹ Cha
Cho ta trái tim suốt một đời bền bỉ
Để cho ta những điều gì có thể
Trái tim ơi,
             hoà nhịp đập trang đời !


29/8/2016

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016

Hôm nay, 25/8/2016, kỉ niệm Sinh nhật lần thứ 105 của Đại tướng, tôi đăng lại bài này

BA LẦN ĐƯỢC TIẾP KIẾN 
ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP


Có thể nói, thế hệ chúng tôi và cả lớp trước nữa, ai được gặp các lãnh tụ, các vị lãnh đạo cao cấp là một dịp may mắn, phấn khởi. Khoảnh khắc đó được coi là một kỷ niệm đẹp. Đặc biệt, người nào trong cuộc đời được gặp Bác Hồ thì quả thật là một niềm tự hào, vinh hạnh lớn. Và, cũng có thể nói, sau Bác Hồ là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Điều đó dường như là một lẽ tự nhiên xuất phát từ tình cảm tự nguyện của mỗi con người, với một niềm tin lớn lao, ở một thời kỳ lịch sử đặc biệt của đất nước - cái thời mà mỗi suy tư trăn trở của lãnh tụ và các vị lãnh đạo trong sự nghiệp cách mạng đều phù hợp với niềm mong mỏi bình dị và sâu sắc của mỗi người dân.

Trong cuộc đời quân ngũ của mình, trừ những năm tháng chiến đấu trên chiến trường, còn lại thời kỳ công tác ở cơ quan Bộ Quốc phòng, làm anh lính mà tên gọi chung là trợ lý, rồi bền chí phấn đấu trong công tác được bổ nhiệm đến chức Phó phòng, Trưởng phòng, thuộc diện “đầu binh cuối cán” ở cơ quan cấp chiến lược, nhiều lần tôi được gặp, thực ra là chỉ được nhìn thấy (mục sở thị) các bậc lãnh đạo trong các buổi lễ lớn và được nghe các “cụ” giảng giải từ xa với một sự trọng vọng, ngưỡng mộ. Mãi tới sau này, từ năm 1992 trở đi, trên các cương vị, nhiệm vụ và tính chất công tác cao hơn, tôi mới có dịp được gặp gỡ, tiếp kiến, thậm chí là được tiếp chuyện thân mật, cởi mở với một số cán bộ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, Quân đội. Trong đó, một số lần, tôi may mắn được tiếp kiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị tướng huyền thoại của nước ta và được biết, cách đây không lâu, Ông đã được Hội đồng khoa học có tên tuổi của một nước ở phương Tây bình chọn là một trong mười danh tướng kiệt xuất trong mọi thời đại của thế giới. 

Tôi xin kể đôi điều về ba lần ấn tượng nhất trong số lần tôi được tiếp kiến Ông.
Lần thứ nhất :
Để chuẩn bị kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành chính sách quân đội ( 26/2/1947 – 26/2/1997), lãnh đạo Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị đã cử mấy cán bộ đến thăm, báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Đại tướng, đồng thời kính mời ông dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày Truyền thống ngành chính sách quân đội sẽ được long trọng tổ chức vào ngày 26 tháng 2 năm 1997, tại Hội trường Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Theo kế hoạch đã hợp đồng trước với Đại tá Nguyễn Văn Huyên, thư ký của Đại tướng, chiều ngày 13 tháng 2 năm 1997, trong tiết trời nắng ấm, mấy anh em chúng tôi gồm: tôi - Đại tá, Cục trưởng; anh Đỗ Quang Bích - Đại tá, Cục phó; anh Đinh Công Cử - Đại tá, Trưởng phòng và anh Trần Văn Minh - Trung tá, Trợ lý Phòng Nghiên cứu Tổng hợp Cục Chính sách (hiện nay anh Minh là Đại tá, Tiến sĩ, Cục trưởng Cục Chính sách - TCCT), đến nhà Đại tướng tại 30 phố Hoàng Diệu - Hà Nội. Tôi quen biết anh Huyên từ trước. Chúng tôi cùng quê Nghệ An. Anh Huyên ở huyện Diễn Châu, cách quê tôi ở huyện Nghi Lộc chừng 20 cây số. Trước 3 giờ chiều, theo hướng dẫn của anh Huyên, chúng tôi đã ngồi chờ sẵn tại phòng tiếp khách. Đây là một căn phòng ở tầng một, rộng vừa phải, sạch sẽ, bày biện đơn sơ ngăn nắp, xung quanh treo mấy bức tranh. Ở sát tường là một tủ sách lớn, trong đó có rất nhiều sách, tạp chí. Giữa phòng là một bộ sa - lông mây. Tôi được biết, tại nhà riêng của Đại tướng có hai phòng tiếp khách. Phòng lớn hơn ở nhà bên cạnh là để tiếp các đoàn đại biểu trong nước và quốc tế đến thăm với số lượng nhiều người, được bài trí tương đối trang trọng, có phần mang tính lễ nghi, đối ngoại. Còn phòng nhỏ là tiếp các đoàn có số lượng ít, thân tình. Anh Huyên nói với chúng tôi rằng, hôm nay, Đại tướng mới tiếp khách quốc tế ở phòng khách lớn.

Đúng 3 giờ, trong bộ com-lê màu sáng, Đại tướng từ trong nhà đi ra. Ngày đó, mặc dù đã 86 tuổi nhưng nhìn Ông còn khỏe mạnh. Đại tướng có gương mặt đẹp, nhân từ và sắc sảo, ánh mắt tinh anh, tóc bạc trắng như cước, da dẻ hồng hào, bước đi vững chãi. Ông nở nụ cười đôn hậu, thân mật niềm nở bắt tay và hỏi han từng người.

Anh Huyên giới thiệu tôi với Đại tướng. Ông bắt tay và hỏi tôi với chất giọng Quảng Bình trầm ấm:
- Đồng chí Cục trưởng quê Nghệ An à, ở huyện nào?
- Dạ thưa, cháu ở huyện Nghi Lộc ạ .Tôi trả lời.
Ông cười:
- À, Nghi Lộc, “cà có cuống, cà có đuôi”, phải không?
(Sự thể là, tiếng người Nghi Lộc quê tôi phát âm “cà” và “cá” na ná như nhau, cho nên khi nghe có người vờ như không hiểu, phải hỏi lại là loại cà có cuống hay loại cà có đuôi. Câu hỏi đó lâu nay vẫn được lưu truyền trong mọi người chỉ để đùa vui).
Tôi thưa:
- Dạ, phải ạ !
Chúng tôi cùng cười vui vẻ. Một bậc khai quốc công thần, vị tướng bậc nhất trong lịch sử hiện đại của Việt Nam, tiếp chúng tôi một cách thân tình, dung dị. Thật sự, chúng tôi coi đây là một vinh hạnh, mừng và xúc động lắm. Vừa bắt tay ông, tôi vừa giới thiệu từng thành viên trong đoàn đến thăm.
Sau khi đã yên vị, Đại tướng đi thẳng vào việc:
- Ta bắt đầu nhé. Tôi đã nghe anh Huyên báo cáo, hôm nay các đồng chí Cục Chính sách đến thăm, báo cáo tình hình công tác chính sách và cho biết việc chuẩn bị kỷ niệm 50 năm ngành chính sách quân đội. Chính sách là một mặt công tác rất quan trọng. Cả trong và ngoài quân đội đều vậy. Nào, bây giờ đồng chí Cục trưởng trình bày đi.
Tôi cầm quyển sổ đứng dậy báo cáo. Đại tướng vẫy tay:
- Thôi, chỉ mấy người thôi, đồng chí cứ ngồi báo cáo cũng được, rồi chúng ta còn trao đổi nữa.
Nghe Đại tướng nói vậy, tôi xin phép được ngồi.
Vậy là, cùng ngồi với ông trên chiếc đi - văng, tôi mở sổ công tác, theo phần đã chuẩn bị sẵn, lần lượt báo cáo một cách từ tốn, rành rọt về quá trình hình thành, phát triển công tác chính sách và cơ quan chính sách trong quân đội; về tính chất, yêu cầu nhiệm vụ và những kết quả đạt được của công tác chính sách trong chiến tranh, sau chiến tranh và trong tình hình hiện nay. Cuối cùng là tôi báo cáo về việc chuẩn bị tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành chính sách quân đội.
Thời gian tôi báo cáo khoảng 25 phút. Vừa báo cáo, tôi vừa ngước nhìn sang ông. Ông chăm chú nghe, dõi theo từng nội dung. Thỉnh thoảng, tôi thấy ông gật đầu, rồi gõ ngón tay trỏ xuống bàn như thể biểu dương, khích lệ, tán đồng. Điều đó truyền cho tôi cảm hứng phấn chấn, thêm tự tin trong khi báo cáo.
Tôi vừa dứt lời, Đại tướng hỏi:
- Thế nào, các đồng chí khác có thêm ý kiến gì không?
Anh Bích, anh Cử và anh Minh đều nói:
- Dạ thưa, nhất trí với báo cáo của Cục trưởng.
Sau khi nghe xong, Đại tướng biểu dương nội dung báo cáo của Cục Chính sách đầy đủ, ngắn gọn, súc tích, vừa có tính khái quát, lại vừa có số liệu minh chứng cụ thể. Ông cho rằng, với nội dung báo cáo như vậy, chứng tỏ việc chuẩn bị của Cục khá công phu, nghiêm túc, có chất lượng, các đồng chí lãnh đạo Cục đã nắm chắc nội dung, làm chủ tình hình.
Tiếp đó, Đại tướng dành nhiều thời gian nói chuyện với anh em chúng tôi. Ông nói về tính tất yếu khách quan, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Ông cho rằng, ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến - 19/12/1946 và trước đó nữa, kể từ khi Nam Bộ kháng chiến, cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975, rồi tiếp đến cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế, ròng rã hơn 30 năm chiến tranh. Trước họa xâm lăng, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, lớp lớp thanh niên thuộc nhiều thế hệ nối tiếp nhau lên đường chiến đấu. Trong cuộc chiến đấu sinh tử, vô cùng cam go ác liệt, đầy gian khổ, hy sinh, hơn một triệu cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng ngã xuống, hàng chục vạn người đã bỏ lại một phần xương máu trên các chiến trường. Ở hậu phương lớn Miền Bắc, trong điều kiện vừa sản xuất vừa đánh trả quyết liệt cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Đế quốc Mỹ, công tác chính sách chăm sóc gia đình có người đi chiến đấu rất được coi trọng và thu được nhiều kết quả, góp phần cổ vũ tiền tuyến, ổn định hậu phương. Ông khen công tác khen thưởng đã triển khai tích cực, kịp thời, góp phần động viên phong trào thi đua lập công, tri ân những người có thành tích xuất sắc và những gia đình có công với cách mạng,..v.v.. Tất cả những điều đó đặt ra yêu cầu rất cao, chứng tỏ công tác chính sách hết sức lớn, rất quan trọng.
Đại tướng đã nhận xét đánh giá về kết quả công tác chính sách, cả trong chiến tranh và giải quyết hậu quả chính sách sau chiến tranh. Ông khẳng định, công tác chính sách đã hình thành, phát triển cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta. Suốt mấy chục năm qua, trong chiến công chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, công tác chính sách đã góp phần rất xứng đáng. Đặc biệt là, trong năm 1994, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam - Ngày Hội quốc phòng toàn dân, Cục Chính sách đã tham mưu cho Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng trình lên Đảng, Nhà nước ban hành danh hiệu vinh dự Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng kèm theo chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với các mẹ. Đây là một chính sách có ý nghĩa chính trị xã hội to lớn, sâu sắc, được các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội trong cả nước hoan nghênh, hướng ứng.
Kết thúc cuộc trao đổi, Đại tướng nhấn mạnh những yêu cầu, nhiệm vụ của công tác chính sách trong thời kỳ mới và trách nhiệm của Cục Chính sách - cơ quan đầu ngành về công tác chính sách trong quân đội. Ông cho rằng, trong tình hình mới, công tác chính sách cần tập trung nghiên cứu và chỉ đạo tổ chức thực hiện trên hai vấn đề lớn. Một là, cần chỉ đạo tổ chức thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chính sách đã ban hành; tập trung sức giải quyết nhanh gọn, chu đáo những tồn đọng về chính sách sau các cuộc chiến tranh - đây là vấn đề có nhiều khó khăn, phức tạp, rất bức thiết, đồng thời có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. Hai là, cần tiếp tục nghiên cứu đề nghị ban hành nội dung chính sách mới, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, từng bước hiện đại, trong điều kiện cả nước hòa bình, ổn định, phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chúng tôi tâm đắc, coi đó là những lời huấn thị của người anh Cả của Quân đội ta, có ý nghĩa chính trị lớn cả trước mắt và lâu dài đối với nhiệm vụ chính trị của Cục Chính sách nói riêng và ngành chính sách trong quân đội nói chung; đồng thời là những lời chỉ bảo ân tình, sâu sắc của bậc ông cha đối với các thế hệ con cháu.

Lần thứ hai :
Nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam - Ngày Hội quốc phòng toàn dân, ngày 19-12-2002, Đoàn cán bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1 do anh Nguyễn Hữu Hạ, Thiếu tướng, Hiệu trưởng và tôi, Thiếu tướng, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng về Chính trị, dẫn đầu về Hà Nội thăm, chúc mừng Đại tướng. Thành viên của Đoàn gồm có anh Nguyễn Tiến Ngùng, Đại tá, Phó Hiệu trưởng, cùng lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, các khoa giáo viên và các đơn vị quản lý học viên, khoảng hơn 30 người.

Hôm đó là một ngày đẹp, nắng vàng, trời xanh, gió heo may thổi nhẹ, chúng tôi xuất phát từ Sơn Tây lúc một giờ chiều, trên chặng đường gần một tiếng đồng hồ thì đến nhà Đại tướng.

Khi cả Đoàn đã ngồi vào phòng khách lớn, tôi và anh Hạ sang nhà bên đón Đại tướng. Ông mặc bộ lễ phục mùa đông màu trắng. So với 5 năm trước, sức khỏe Ông có phần sút hơn, bước đi đã chậm. Gánh nặng thời gian đè lên mọi cuộc đời. Tôi dứng nghiêm chào Ông theo đúng Điều lệnh Quân đội. Anh Huyên giới thiệu tôi, Ông mỉm cười, gật đầu và khẽ nói, tôi biết rồi.

Sau khi mọi người đã yên vị ở phòng khách, trong không khí xúc động và đầm ấm, thay mặt Đảng ủy - Ban Giám hiệu Nhà trường, tôi đã phát biểu bày tỏ sự vui mừng phấn khởi của cán bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1 được đến thăm, chúc mừng Đại tướng; đồng thời báo cáo tóm tắt với Đại tướng về thành tích của Trường trong những năm qua; bày tỏ lòng biết ơn đối với Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với Đại tướng và các đồng chí lãnh đạo khác đối với quá trình xây dựng và trưởng thành của Trường Sĩ quan Lục quân 1 trong suốt chiều dài truyền thống, cả trong thời kỳ chiến tranh và hiện nay.

Kết thúc phần báo cáo, thay mặt Nhà trường, tôi đã kính tặng Đại tướng bức ảnh Bác Hồ trao lá cờ thêu sáu chữ vàng “ Trung với nước, hiếu với dân” cho học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn nhân ngày khai giảng Khóa 1 và lẵng hoa tươi thắm.

Trước mấy chục con người cùng mặc lễ phục trắng, trong không khí ấm cúng mà trang nghiêm, với nhận thức và tình cảm kính mến sâu nặng, tôi đã trân trọng nói lên những lời chúc mừng chân thành, sâu lắng. Tôi nói với giọng xúc động mà rành rõ về một điều thiêng liêng rằng, năm tháng sẽ qua đi, những tên đất, tên người vĩ đại sẽ mãi mãi trường tồn. Cùng với Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa oanh liệt,… chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử huy hoàng chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trên thế giới, Việt Nam là tấm gương lớn trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc; Hồ Chí Minh - Võ Nguyên Giáp - Điện Biện Phủ đã trở thành biểu tượng của Việt Nam.
Cuối cùng, thay mặt lãnh đạo, chỉ huy và toàn thể cán bộ, giáo viên, học viên, chiến sĩ toàn Trường, tôi kính chúc Đại tướng, bằng tài năng, đức độ, trí tuệ, nhân cách và vị thế của mình, tiếp tục có nhiều cống hiến lớn lao cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Đặc biệt là, xin thành kính chúc mừng Đại tướng đã bước qua tuổi Đại thọ 90, tiếp tục phấn đấu tiến tới và vượt qua mốc Hồng thọ, Tiên thọ tuổi 100. Nghe xong, Đại tướng cười hiền, nói rất cám ơn về lời chúc của đồng chí Bí thư Đảng ủy Nhà trường.
Sau phần chúc mừng, Đại tướng đã nói chuyện thân mật với Đoàn cán bộ Nhà trường. Đại tướng nhắc về lịch sử của Trường: Trường Sĩ quan Lục quân 1 mà tiền thân là Trường Quân chính kháng Nhật, được thành lập từ ngày 15/4/1945 theo Nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ và Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Sau Cách mạng Tháng 8/1945, đổi tên là Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Được mang tên danh tướng kiệt xuất bậc nhất của dân tộc ta là niềm vinh dự, tự hào của mọi thế hệ cán bộ, giáo viên, học viên Trường Sĩ quan Lục quân. Đây là nhà trường đầu tiên của quân đội và cũng là nhà trường đầu tiên của chế độ ta. Sự ra đời của Nhà trường đánh dấu một bước chuyển biến mới của cách mạng, kịp đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ quân sự, chính trị làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang nhân dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trải qua gần 60 năm, Nhà trường đã đào tạo hàng chục vạn cán bộ làm nòng cốt cho đội ngũ sĩ quan chỉ huy - tham mưu của Quân đội, góp phần rất xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc...
Đại tướng biểu dương về thành tích đạt được và sự trưởng thành mọi mặt của Trường Sĩ quan Lục quân 1 trong nhiều năm qua, mong Nhà trường tiếp tục phấn đấu giữ vững và phát huy truyền thống anh hùng trong giai đoạn mới.
Sau khi nhận định, phân tích tình hình thế giới, khu vực và trong nước, nhiệm vụ của Quân đội, Đại tướng đã ân cần căn dặn: Trong tình hình hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác giáo dục đào tạo cán bộ của Trường Sĩ quan Lục quân càng phải được nâng cao. Đặc biệt là, phải kết hợp giữa đào tạo nâng cao trình độ kỹ - chiến thuật quân sự với giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ chính trị, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, để học viên tốt nghiệp ra trường đủ sức lãnh đạo, chỉ huy đơn vị cơ sở và sẵn sàng chiến đấu cao. Trong đào tạo, Nhà trường phải coi trọng huấn luyện thực hành sát với thực tế chiến đấu và xây dựng đơn vị, nhất là phải tiếp cận với sự phát triển của khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới. Sĩ quan ra trường phải biết sử dụng vi tính, có kiến thức khoa học công nghệ, khoa học quân sự, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Đoàn cán bộ chúng tôi vô cùng cảm kích về sự thông tuệ và những lới dạy bảo ân tình của Đại tướng. Cuối buổi tiếp, Đại tướng đã chụp ảnh chung với toàn đoàn. Mọi người lưu luyến chia tay Đại tướng, cầu mong Ông trường thọ.

Lần thứ ba:
Tháng 12-2004, Thủ tướng Chính phủ quyết định điều động bổ nhiệm tôi từ Trường Sĩ quan Lục quân 1 về giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật về Chính trị (sau này là Chính ủy TCKT) thay anh Hoàng Anh Tuấn. Sau đó, tháng 6 - 2005, Thủ tướng Chính phủ quyết định điều động bổ nhiệm anh Trương Quang Khánh từ Quân khu 1 về giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật thay anh Đỗ Đức Pháp. Như vậy, chúng tôi là cặp chủ trì lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục Kỹ thuật trong quãng thời gian ngót 3 năm, 2005 - 2007. Quãng thời gian đó để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Trên cương vị lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục cũng như trong đời sống sinh hoạt, trong tình cảm riêng, giữa tôi và anh Khánh có sự đồng cảm trên nhiều phương diện. Bởi thế, giữa chúng tôi luôn tạo được tiếng nói chung, nhất quán, đồng thuận trong nhận định đánh giá tình hình cũng như trong điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Tổng cục Kỹ thuật.

Đầu tháng 2 năm 2006, anh Trương Quang Khánh và tôi được Nhà nước thăng quân hàm Trung tướng, cũng là thời điểm chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Bính Tuất. Nhân dịp ấy, tôi và anh Khánh bàn với nhau thay mặt lãnh đạo chỉ huy Tổng cục Kỹ thuật đến thăm, chúc tết Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Chu Huy Mân và Đại tướng Lê Đức Anh.

Đã có hẹn trước, Đại tướng tiếp chúng tôi ở phòng khách lớn, dẫu chỉ có ba người. Sau phần chào hỏi trang trọng mà thân mật, anh Trương Quang Khánh báo cáo tóm tắt với Đại tướng về tình hình tổ chức, biên chế và kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ của Tổng cục Kỹ thuật trong thời gian qua. Trong mọi hoàn cảnh, Tổng cục Kỹ thuật đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chỉ đạo bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và các nhiệm vụ khác của quân đội. Đồng thời, anh Khánh đã báo cáo một số chủ trương kế hoạch công tác trong thời gian tới. Thay mặt lãnh đạo chỉ huy Tổng cục Kỹ thuật, đồng thời thay mặt ngành kỹ thuật toàn quân, anh Khánh đã nói lời cám ơn sự quan tâm sâu sắc của Đại tướng đối với quá trình phát triển và những thành quả đạt được trong hơn 30 năm qua, kể từ ngày thành lập Tổng cục Kỹ thuật. Tiếp lời anh Khánh, nhân dịp bước sang năm mới, thay mặt Đảng ủy - Thủ trưởng cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ Tổng cục, tôi kính chúc Đại tướng luôn luôn mạnh khỏe, trường thọ, tiếp tục dành cho Tổng cục Kỹ thuật sự quan tâm, theo dõi.

Được biết, hồi đó Ông mới điều trị ở bệnh viện về, sức khỏe không thật tốt, chúng tôi cố tình nói ngắn nhưng đủ ý.
Sau khi chúng tôi dừng lời, Đại tướng đã dành phần lớn thời gian còn lại nói chuyện với chúng tôi. Với giọng trầm ấm, đầy tâm huyết, Ông nói rằng: Vũ khí, trang bị kỹ thuật là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và tiềm lực quốc phòng của đất nước. Bất cứ ở đâu và thời nào cũng vậy, có quân đội là phải có vũ khí, trang bị kỹ thuật. Có vũ khí, trang bị kỹ thuật thì tất yếu phải có công tác bảo đảm kỹ thuật. Khoa học công nghệ càng phát triển, thì vũ khí và trang bị kỹ thuật của quân đội càng hiện đại. Và vũ khí, trang bị kỹ thuật càng hiện đại, đòi hỏi công tác bảo đảm kỹ thuật càng tinh vi, càng hiện đại.
Dừng lại vài phút, nhấp một ngụm nước, nhìn chúng tôi với nụ cười đôn hậu, Ông tiếp tục trao đổi. Ông khẳng định rằng, sự phát triển của công tác kỹ thuật luôn luôn gắn liền với sự phát triển trưởng thành của quân đội.Trong kháng chiến chống Pháp, vũ khí trang bị của quân đội tuy còn ít và đơn sơ nhưng công tác bảo đảm kỹ thuật cũng đã từng bước hình thành và đi vào hoạt động. Ngành quân giới, ngành quân khí, ngành xe máy quân sự đã ra đời từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, trước yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu, được sự chi viện của các nước anh em, vũ khí, trang bị kỹ thuật của quân đội ta đã có sự phát triển, từng bước hiện đại, cả về số lượng và chất lượng. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào thời kỳ cuối, do yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu của quân đội, vũ khí trang bị kỹ thuật đã phát triển cả về số lượng, chất lượng, qui mô, chủng loại và phức tạp về kỹ thuật; theo đề nghị của Quân ủy Trung ương, ngày 10/9/1974, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Kỹ thuật. Đây là một bước phát triển mới quan trọng trong việc chỉ đạo tập trung thống nhất công tác kỹ thuật. Ngay từ khi mới thành lập, Tổng cục Kỹ thuật đã chủ động bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho chiến trường Miền Nam, góp phần rất xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta - giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước…
Tiếp đó, Đại tướng đã biểu dương thành tích của Tổng cục Kỹ thuật trong mấy năm qua. Đại tướng căn dặn: Trong điều kiện sự phát triển của khoa học - công nghệ nói chung và sự phát triển của vũ khí trang bị, của khoa học kỹ thuật quân sự nói riêng, Tổng cục Kỹ thuật phải không ngừng phấn đấu làm tốt chức năng tham mưu cho Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng cũng như vai trò chỉ đạo toàn quân về công tác bảo đảm kỹ thuật. Ông nhắc, Tổng cục cần chú ý bằng nhiều biện pháp, không để xẩy ra cháy nổ; phải thường xuyên bảo đảm tuyệt đối an toàn đối với con người và vũ khí, trạng bị kỹ thuật. Cần làm cho mọi người trong Tổng cục Kỹ thuật và ngành kỹ thuật toàn quân luôn chú trọng công tác nghiên cứu, học tập để không ngừng tiến bộ.
Cuối cùng, nhân dịp chuẩn bị bước sang năm mới, Đại tướng chúc toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ trong Tổng cục mạnh khỏe, chúc Tổng cục Kỹ thuật hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.
Chúng tôi thật sự ngạc nhiên và khâm phục về trí tuệ và sự sáng suốt của Đại tướng. Không thể tin nổi, ngày đó Ông đã ngót trăm tuổi, so với mấy năm trước, sức khỏe đã yếu nhiều hơn rồi, việc đi lại đã có dấu hiệu khó khăn, tiếng nói đã chậm hơn, vậy mà Ông vẫn còn thông tuệ, mẫn tiệp đến như vậy!

* * *
Ngoài trăm tuổi trong cõi nhân sinh đã là hiếm, trong hàng lãnh tụ, danh nhân, tướng lĩnh, thì xưa nay quả là cực kỳ quí hiếm. Một cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú, sôi động - đặc biệt là trong nhiều năm chiến tranh cách mạng được Trung ương Đảng và Bác Hồ giao đảm nhiệm trọng trách Tổng Tư lệnh Quân đội - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là con người đặc biệt của lịch sử thời hiện đại.

Viết về Đại tướng đã có biết bao sách báo, phim ảnh. Về lâu dài, chắc sẽ còn rất nhiều giấy mực viết về Ông trên từng bình diện và góc độ đề cập. 

Với tôi, tôi chỉ xin ghi chép lại đôi điều tại ba lần vinh hạnh được tiếp kiến Ông - một vị tướng lừng danh thế giới. Tôi coi đây là những kỷ niệm đẹp của đời mình./.

Mỹ Đình, ngày 11 tháng 11 - 2011

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

MỘT GIA ĐÌNH GIA GIÁO, THÀNH ĐẠT

Đó là gia đình Trung tướng, Anh hùng LLVT Khuất Duy Tiến, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3, nguyên Cục trưởng Cục Quân lực / BTTM, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1. 
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông chiến đấu ở Chiến trường Tây Nguyên, còn tôi ở Chiến trường Trị Thiên. Mãi tới khi ông được Bộ Quốc phòng điều động từ Tư lệnh Quân đoàn 3 về giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực, do mối quan hệ công tác giữa Cục Chính sách với Cục Quân lực, tôi mới có nhiều dịp làm việc với ông. Tiếp đó, khi ông làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 rồi nghỉ hưu theo chế độ, thì tôi được điều về Trường. Theo mối quan hệ tân - cựu giữa cán bộ chủ trì của Trường Lục quân qua các thời kỳ, chúng tôi còn tiếp xúc gặp gỡ nhiều hơn. 
Ông Khuất Duy Tiến sinh năm 1931, quê ở xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội - Cách Trường SQLQ 1 không xa. 
Có lần, vào cuối năm 2000, ông mời tôi về thăm nhà ở quê. Vùng này có một đặc điểm ẩm thực là: Trong các bữa ăn thịnh soạn, ngoài những món ăn ngon quen thuộc như nhiều miền quê khác, thì bao giờ trên mâm cũng phải có món củ chuối non nấu xáo với xương lợn. Ăn rất ngon.
Qua nhiều năm, từ những lần gặp đầu tiên ( khoảng năm 1992 ) cho đến tận bây giờ, cảm nhận xuyên suốt của tôi về ông Khuất Duy Tiến: Đó là một cán bộ có năng lực giỏi, đã từng trải qua nhiều cương vị, có bề dày thành tích, vốn sống, kinh nghiệm phong phú, phong cách điềm đạm vui vẻ dễ gần, chân thành, cương trực. Thêm nữa, điều tôi kính quí và học hỏi ông còn ở chỗ ông giàu vốn Nho học . Ông thuộc rất nhiều câu danh ngôn Hán - Việt có tính triết lý nhân sinh sâu sắc. 
Tôi khâm phuc nhà ông - một gia đinh nền nếp, gia giáo, có truyền thống văn hóa. Ông cùng vợ ông - bà Vũ Thị Hồng Vân - sinh thành dưỡng dục nên 4 người con thành đạt : Con trai cả là Trung tướng, Tiến sĩ Khuất Việt Dũng, Chính ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng / Bộ Quốc phòng ; con gái thứ hai là Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hôi.; con gái thứ ba là Thạc sĩ, Bác sĩ Khuất Hải Oanh, Giám đốc Trung tâm phát triển xã hội ; Và con trai út là Tiến sĩ Khuất Việt Hùng, Phó Cục trưởng Cục Vận tải - Bộ Giao thông vận tải, đồng thời là Phó Chủ tịch Ủy ban an toàn giao thông quốc gia. 
Với tôi, do không được học nên không biết chữ Nho. Nhưng vì thích tìm tòi nghiên cứu, học hỏi, nên tôi cũng có biết được nghĩa của nhiều từ Hán Việt. Nhờ thế, tôi liều viết ra vài ba câu đối, vài ba bài thơ Đường bằng âm Hán, để tự vịnh hoặc đề tặng người khác. Viết tiếng Việt xong, tôi nhờ người biết chữ Nho viết ra giấy. Bằng cách đó, tôi làm câu đối, làm thơ tặng một số người mà tôi thân quí - nhất là nhân dịp mừng Sinh nhật, Kỉ niệm ngày cưới, ... Tôi thường đem cái mình viết ra để hỏi các bậc cha chú thành thạo chữ Nho. Đọc xong họ nói rằng, câu đối, bài thơ như vậy là đúng nghĩa và đúng niêm luật chặt chẽ của Đường thi. 
Thật ra, tôi thuộc loại điếc không sợ súng!
Năm trước, khi biết tin chú Khuất Việt Dũng - con trai cả của ông Khuất Duy Tiến - được thăng quân hàm cấp Trung tướng,học hỏi, bắt chước người xưa, tôi kính tặng gia đình ông đôi Câu đối bằng chữ Nho :
“ Phụ tử tướng quân thiên hạ thiểu 
Công danh khanh tước quốc triều đa” 
Nghĩa là: Cha con cùng làm tướng trong thiên hạ là ít . Các chức tước khác của Quốc gia thì nhiều .
Hôm qua, 20/8/2016, nhân có việc tôi đến thăm nhà, ông Khuất Duy Tiến thân tình chỉ cho câu đối đó được viết bằng chữ Nho treo lên tường. Kèm theo dòng đề phía bên phải ( cũng bằng chữ Nho) : Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu đề hạ. 
Chia tay ông, tôi thật mừng !
ĐỌC TIỂU THUYẾT QUỶ VƯƠNG CỦA VŨ NGỌC TIẾN

Tôi quen Nhà văn Vũ Ngọc Tiến và vợ anh - chị Minh Thi - từ năm 2010. Đó là khi chúng tôi cùng tham gia với vai trò tư vấn cho Trung tâm Ma Rin ( tên đây đủ là Trung tâm tư vấn và trợ giúp pháp lý gia đình Liệt sĩ ) . Anh Tiến và chị Thi dã tham gia từ nhiều năm trước. 
Ngần ấy năm, qua nhiều lần tiếp xúc, trong mắt tôi, anh Vũ Ngọc Tiến - một chàng trai tuấn tú chính tông Hà Nội của mấy chục năm trước, mà nay vẫn giữ được phong độ trí thức đa tài, đàng hoàng, khiêm cung, lịch lãm. Với thể hình và gương mặt đẹp. Tóc bạc phơ. Da dẻ căng mịn, hồng hào. Có thể nói, ngày trước anh thuộc loại điển trai và bây giờ là đẹp lão. 
Ngày 20 tháng 7 năm 2016, tại buổi họp báo NGÀY TRỞ VỀ của Trung tâm Ma Rin, tôi được Nhà văn Vũ Ngọc Tiến tặng cuốn tiểu thuyết QUỶ VƯƠNG. Đây là cuốn sách thứ hai tác giả tự tay trao tặng. Trước đó, năm 2013, anh đã tặng tôi cuốn tiểu thuyết SÓNG HẬN SÔNG LÔ - cũng là tiểu thuyết lịch sử. 
Tôi đang chờ đến ngày đi dự buổi giới thiệu tiểu thuyết QUỶ VƯƠNG theo lời mời thân tình của tác giả - kế hoạch là ngày 6 tháng 8 năm 2016) - thì bỗng dưng trước đó vài ngày anh Vũ Ngọc Tiến thông báo rằng, buổi giới thiệu sách phải hoãn lại do cơ quan có chức năng thẩm quyền chưa đồng ý với nội dung một vài câu ở một trang viết. Tôi hỏi ở trang nào. Anh Tiến nói ở trang 213.
Tôi nghiệm ra một hiện tượng nghịch lý : Xưa nay hễ cuốn sách nào “ có vấn đề “, thì lượng độc giả tìm đọc nhiều hơn. Điều đó có phần kích thích tính hiếu kỳ. Nhưng theo tôi, cái chính là, độc giả muốn kiểm chứng đối chiếu giữa nhãn quan, nhận thức của mình với nội dung tư tưởng, nghệ thuật của tác giả và chính kiến của cơ quan kiểm duyệt. 
Tôi có thói quen đọc sách là: Mở sách đọc ngay vào nội dung để tiếp nhận thông tin trực tiếp; chưa đọc bât cứ lời giới thiệu, lời bình nào - Bởi tôi không muốn sự cảm thụ của mình lại thông qua lăng kính của người khác, dễ bị nhiễu loạn thông tin. Đọc xong sách rồi, tôi mới đọc đến lời bình, lời giới thiệu, để có sự so sánh đối chiếu nhận thức của mình với những người khác khi cùng đọc một cuốn sách. 
Tôi đọc khá kỹ cuốn tiểu thuyết QỦY VƯƠNG - Thậm chí tôi còn phát hiện ra vài chỗ in sai. 
Đã có người viết giới thiệu khá hay, khá kỹ về tiểu thuyết này.
Với tôi, tôi nhân thấy rằng: Đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử với nội dung phong phú. Phải chăng, đây là một phương pháp dạy lịch sử dưới hình thức văn chương có hiệu quả. Tác giả dùng phương pháp đồng hiện câu chuyện lịch sử cài đan với câu chuyện của thời nay. Tiểu thuyết dựng lên những câu chuyện lịch sử trong một cung đoạn suy tàn của Vương triều Lê sơ - từ vua Lê Uy Mục ( Quỷ Vương ) đến vua Lê Tương Dực ( Trư Vương ), cho đến khi cha con Mạc Đăng Dung - Mạc Đăng Doanh soán ngôi vua, dựng lên Vương triều nhà Mạc. Đồng thời, tác giả dựng lên câu chuyện của thời nay - một câu chuyện dù là hư cấu nhưng không hiếm, đã và đang diễn ra với đầy tính bi kịch. 
Với lối viết hấp dẫn, đầy ắp thông tin trên nhiều bình diện, góc cạnh; tác giả kể lại, tả lại với nhiều tình tiết sống động, lôi cuốn người đọc; Đồng thời qua đó, tác giả đưa ra những lời bình có tính triết lý khách quan. Đó như là những thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Tôi đọc một mạch tiểu thuyết QUỶ VƯƠNG. Nhưng khi gấp sách lại, một nỗi buồn man mác không tên xâm nhập cõi lòng tôi !