Menu ngang

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Việt Nam nên ứng xử ra sao với Trung Quốc và Mỹ?

(GDVN) - Trong ứng xử với nước lớn, cha ông ta dạy con cháu bài học rất hay: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” và “nói phải, củ cải cũng nghe”.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước
LTS: Trong bối cảnh Biển Đông đang ngày một căng thẳng vì những hành động bất chấp luật pháp quốc tế, thay đổi hiện trạng mà Trung Quốc đang làm tại Biển Đông đe dọa trực tiếp đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, yếu tố cạnh tranh  Trung - Mỹ và sự can thiệp của Hoa Kỳ trở thành tâm điểm chú ý của dư luận.
Đặc biệt sắp tới đây có thể Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ sang thăm chính thức Việt Nam, đây là cơ hội để Việt Nam đối thoại, tìm cách giải quyết vấn đề Biển Đông một cách hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VIII, IX, X đã gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài phân tích của ông về cách Việt Nam nên ứng xử ra sao với hai siêu cường Trung Quốc và Hoa Kỳ, để giữ vững được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trên Biển Đông cũng như môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, luật pháp và công lý trong khu vực. Xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bài viết của tướng Nguyễn Quốc Thước.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, ảnh: Báo Tuổi trẻ.
Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cùng với hòa bình, ổn định là lợi ích sống còn, động đến tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam, trong đó Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa chính là một phần máu thịt, là không gian sinh tồn của Tổ quốc hình chữ S.
Bởi lẽ đó nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi dư luận luôn đặc biệt quan tâm về các diễn biến gần đây trên Biển Đông, rất nhiều người Việt Nam trăn trở phải làm sao để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà vẫn giữ vững được hòa bình, ổn định để tránh cho nhân dân khỏi lâm cảnh lầm than, chiến tranh loạn lạc.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, cục diện ở Biển Đông hiện nay vô cùng phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, đối đầu, trong đó sự cạnh tranh của 2 siêu cường là Hoa Kỳ và Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn. Được biết sắp tới nguyên thủ hai nước này có thể sẽ sang thăm Việt Nam, cá nhân tôi cho rằng đây là cơ hội rất tốt mà chúng ta phải trân quý để tìm kiếm giải pháp, mở đường đối thoại.
Với tư cách là một người dân đất Việt trăn trở trước vận mệnh nước nhà, tôi xin nêu ra một vài ý kiến của mình nhằm làm sao chung sức cùng dân tộc giữ vững được cơ đồ của cha ông và tránh được chiến tranh, xung đột.
Việt Nam cần thể hiện rõ thiện chí: Luôn yêu chuộng hòa bình, không muốn đối đầu, không bao giờ hiếu chiến 
Cá nhân tôi cho rằng Chủ tịch Trung Quốc và Tổng thống Hoa Kỳ dự kiến thăm Việt Nam là một sự kiện rất đáng hoan nghênh, chào đón, đặc biệt là ông Tập Cận Bình, vì quan hệ càng khó khăn căng thẳng thì càng cần thiện chí đối thoại. Bởi lẽ Biển Đông vừa là mối quan tâm chung của cả 3 bên và nhiều nước trên thế giới, vừa là trọng tâm của sự khác biệt, mâu thuẫn giữa Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ với Trung Quốc.
Khi ngồi lại được với nhau, chí ít cũng giảm được nguy cơ đối đầu. Vấn đề là chúng ta nên nói chuyện với các vị khách quý này như thế nào về sự thật ở Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa, làm thế nào để bảo vệ hòa bình, công lý và lẽ phải.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm với rất nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, nhưng chưa bao giờ người Việt Nam mang tư tưởng thù địch, hiếu chiến, xâm lược. Người Việt chỉ bảo vệ những gì thuộc về chủ quyền lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia dân tộc mình mà thôi.
Những cuộc chiến chống ngoại xâm phương Bắc thời phong kiến, xung đột quân sự Trung - Việt thời cận hiện đại và ngay cả cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đều không nằm ngoài quy luật ấy.
Có người lập luận với tôi rằng, trong lịch sử, đức Lý Thường Kiệt đã từng đem quân đánh Trung Quốc. Đó là một quan điểm phiến diện và lệch lạc. Tổ tiên chúng tôi đã phải chống chọi không ngừng với các cuộc chiến tranh xâm lược liên miên từ các thế lực thống trị phương Bắc, trong đó có nhà Tống.
Chiến tranh Tống - Việt 1075-1076 không phải do người Việt cất quân xâm lược Tống, mà từ năm 1073 Tống Thần Tông đã cho chiêu tập binh mã, lương thảo áp sát biên giới Tống - Việt và chuẩn bị chiến tranh xâm lược Đại Việt. Không thể để nước nhà bị tàn phá, đức Lý Thường Kiệt vâng lệnh triều đình, cất quân đánh đòn phủ đầu, phá hủy lương thảo để chặn bước tấn công của giặc.
Đi đến đâu đạo quân Đại Việt do đức Lý Thường Kiệt chỉ huy đều có phủ dụ dân chúng rõ ràng đến đó, xong việc lập tức rút về nước. Người Việt không hề xâm lược, cũng không chiếm đất chiếm dân của Trung Quốc mà chỉ buộc phải ngăn chặn phủ đầu nguy cơ một cuộc tấn công xâm lược ngày càng hiện hữu rõ rệt đang uy hiếp biên thùy. Chúng tôi tự hào về điều đó, đó chính là quyết tâm dựng nước và giữ nước của cha ông chúng tôi.
Thời cận hiện đại, cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có lúc từng là kẻ thù của Việt Nam, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đó là sự thật lịch sử không thể nào thay đổi được. Nhưng cả hai phía đều đã nỗ lực rất nhiều, vượt qua các rào cản và mặc cảm quá khứ để bình thường hóa quan hệ.
Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa và tầm quan trọng chiến lược. Ảnh: Đại sứ quán Hoa Kỳ.
Nhờ thế, biên giới phía Bắc Việt Nam sau hàng chục năm ròng ùng oàng tiếng súng, nay đã bình yên, máu của người dân cả hai bên không còn phải đổ xuống. Kinh tế, thương mại của Việt Nam phát triển nhanh chóng kể từ khi Hoa Kỳ xóa bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam.
Trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc, hơn ai hết người Việt thấu hiểu giá trị của hòa bình, ổn định, phát triển phồn vinh. Đã để xảy ra chiến tranh xung đột thì không ai được, chỉ có mất ít hay mất nhiều mà thôi. Tôi nhắc lại bài học lịch sử với hy vọng tránh được sai lầm, tránh được chiến tranh. Dù quan điểm khác nhau đến đâu, ngồi được với nhau, lắng nghe nhau một cách có thiện chí và tôn trọng thì sẽ có cách tháo gỡ.
Nếu bên nào cũng cứ ôm hận trong lòng, thì chắc chắn biên giới Việt - Trung ngày nay sẽ còn chưa yên tiếng súng, nỗi đau chiến tranh sẽ ngăn cản hai dân tộc Mỹ - Việt xích lại gần nhau. Đi sau chiến tranh, thù địch là đói nghèo, lạc hậu, bất ổn xã hội, tương lai tối tăm mù mịt.
Hai bên phải giữ cho được phương châm 16 chữ và 4 tốt trong quan hệ Việt - Trung
Nhiều người Việt Nam chỉ cần thoáng nghe nói điều này có thể sẽ rất bức xúc và phản đối gay gắt. Bởi lẽ tâm lý “ghét Trung Quốc” là có thật khi người dân Việt Nam thỉnh thoảng lại phải chứng kiến cảnh ngư dân nước mình bị các lực lượng chức năng Trung Quốc đâm chìm tàu, bắt bớ đánh đập khi họ đánh bắt, kiếm kế sinh nhai trên vùng biển chủ quyền của nước mình ở Hoàng Sa, mặc dù thực tế quần đảo này đã bị Trung Quốc cất quân xâm lược, chiếm đóng bất hợp pháp từ 1956, 1974 đến nay.
Ngay trước khi có tin ông Tập Cận Bình sắp sang thăm Việt Nam, tàu cá và ngư dân Việt Nam vẫn bị cướp bóc, đánh đập ở Hoàng Sa. Sự kiện Trung Quốc bất chấp công lý và đạo lý hạ đặt giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam năm 2014 hay việc bồi lấp, xây dựng, quân sự hóa đảo nhân tạo trên 7 thực thể họ chiếm của Việt Nam năm 1988, 1995 không thể không khiến người dân Việt Nam bức xúc, phẫn nộ, vì lợi ích quốc gia cốt lõi của mình bị xâm phạm.
Vậy tại sao trong bối cảnh đó tôi lại kêu gọi chúng ta phải buộc Trung Quốc giữ cho được tinh thần 16 chữ, 4 tốt mà lãnh đạo cao nhất của họ cam kết, ký kết với Việt Nam? Đó là vì chúng ta hãy cố gắng giữ lấy hòa bình khi còn có thể, đấu tranh bằng lẽ phải, bằng công lý, tự vệ là con đường cuối cùng bất đắc dĩ nếu “cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”.
Chỉ có như vậy chúng ta mới thể hiện rõ thiện chí, lập trường bảo vệ hòa bình, chính nghĩa và công lý chứ không phải hiếu chiến, đối đầu. Và cũng chỉ có như vậy, khi chúng ta đã nỗ lực hết cách hết lẽ mà đối phương vẫn bất chấp tất cả, thì có chuyện gì xảy ra chúng ta cũng sẽ nhận được sự ủng hộ của bạn bè và chứng minh cho thế giới thấy, Trung Quốc thường nói một đằng, làm một nẻo và không giữ chữ tín.
Tất nhiên tôi không hề mong muốn nhìn thấy điều này, và tôi nghĩ đại đa số người dân Trung Quốc lương thiện cũng vậy. Trong ứng xử với nước lớn, cha ông ta dạy con cháu bài học rất hay: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” và “nói phải, củ cải cũng nghe”.
Trong khi những cái đầu đang nóng hừng hực vì nghĩ rằng Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc “chủ quyền Trung Quốc” từ thời cổ đại, chúng ta cần phải tìm cách “hạ hỏa” cho những cái đầu nóng ấy bằng lời lẽ ôn hòa, thuyết phục, với bằng chứng, căn cứ pháp lý rõ ràng, thuyết phục, để họ nghe được, chúng ta nghe được chứ không phải đổ thêm dầu vào lửa.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Trung Quốc trong tháng Tư vừa qua. 
Như thế, việc đầu tiên là phải ngồi lại được với nhau. Do đó, cá nhân tôi cho rằng việc ông Tập Cận Bình sẽ thăm Việt Nam là một cơ hội quý mà chúng ta cần nắm lấy.
Chúng ta cần chuẩn bị những bằng chứng, lập luận chắc chắn và thuyết phục, hợp lý hợp tình của mình để nói với các nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng, người Việt rất mong muốn chung sống hòa bình, hợp tác, hữu nghị, cùng phồn vinh thịnh vượng với người Trung Quốc. Người Việt không bao giờ mong muốn hay có ý định làm hại láng giềng, bao gồm Trung Quốc.
Nhưng với Việt Nam chúng tôi, Hoàng Sa, Trường Sa là một phần máu thịt không thể tách rời, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ven biển hợp pháp theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 không thể đánh đổi.
Chứng nào ngư dân chúng tôi còn bị phía Trung Quốc cướp bóc, đánh đập ở Hoàng Sa, thì chừng đó chưa thể nói là quan hệ hòa bình hữu nghị láng giềng, chứ đừng nói đến đồng chí anh em. Bởi láng giềng thân thiện đã không ai ứng xử với nhau bằng luật rừng, huống hồ là giữa những người gọi nhau là anh em, là đồng chí.
Hai bên hãy ngồi lại để đối thoại với nhau, Việt Nam sẵn sàng lắng nghe căn cứ, lập luận về yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông nói chung và với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng. Chúng tôi cũng mong muốn và đòi hỏi các bạn phải lắng nghe chúng tôi, có như vậy mới tìm ra được tiếng nói chung.
Đúng sai đã có các nguyên tắc pháp lý quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, về luật biển quốc tế để xem xét đối chứng. Đó thực sự mới là cách hành sử của bậc trượng phu chứ không phải của kẻ thất phu. Đó mới thực sự là chính trị.
Việt Nam cũng sẵn sàng lắng nghe và giải đáp những thắc mắc của Trung Quốc về chiến lược đối ngoại, quan hệ hợp tác quốc tế của mình trên tinh thần khách quan, cầu thị, đảm bảo độc lập tự chủ và bảo vệ hòa bình, công lý. Chúng tôi không bao giờ theo nước này chống nước kia, không liên minh nước này chống lại nước khác.
Nhưng khi ai đó vẫn cứ cố tình đe dọa độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và không gian sinh tồn của quốc gia dân tộc chúng tôi, tình thế sẽ buộc chúng tôi phải tự nhiên liên minh với những nước có chung lợi ích để bảo vệ mình, quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như hòa bình, ổn định cho khu vực ở Biển Đông. Nhưng dù sao tôi vẫn muốn nhấn mạnh rằng, đối thoại vẫn hơn đối đầu, nói chuyện với nhau một cách ôn hòa lịch sự vẫn là lựa chọn ưu tiên chứ không phải súng ống, vũ lực.
Cá nhân tôi rất mong muốn Đảng và Nhà nước tập hợp được đội ngũ trí thức, học giả có kiến thức vững vàng, kinh nghiệm dày dạn trong đàm phán về biên giới lãnh thổ chuẩn bị các phương án và sẽ giao thiệp với phía Trung Quốc trong mọi cấp độ, mọi tình huống. Đầu tiên chúng ta luôn lắng nghe ý kiến của họ, sau đó chúng ta bảo vệ lợi ích của mình bằng các bằng chứng giá trị, xác đáng, thuyết phục.
Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dự kiến sẽ sang thăm Việt Nam là cơ hội tốt cho đối thoại. Ảnh: AP.
Tôi nhận thấy những ý kiến đóng góp đầy tâm huyết của Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam về biên giới lãnh thổ, về quan hệ Việt - Trung, Việt - Mỹ rất có giá trị, thuyết phục, ý nghĩa và cần được tập hợp, nghiên cứu để tìm đối sách.
Tôi cũng mong mỏi mỗi người con đất Việt trong tình huống càng khó khăn bao nhiêu, chúng ta càng phải tỉnh táo bấy nhiêu. Đừng để cảm xúc nhất thời chi phối, đừng quên mục đích tối thượng chỉ vì tranh cãi những con đường đi đến mục đích tối thượng ấy.
Và cũng chỉ có tỉnh táo, chúng ta mới không để bị bất ngờ bị động về chiến lược hay bỏ lỡ các cơ hội cho đối thoại hòa bình.
Trung Quốc họ chiếm Hoàng Sa của chúng ta đã 41 năm, chưa đầy 10 năm nữa thôi, nếu chúng ta không công khai kiên quyết đấu tranh, thì hệ quả thế nào có lẽ không cần nói chúng ta cũng biết. Nhưng lao đầu vào một cuộc chiến tranh chắc chắn không phải lựa chọn hay. Lúc này là lúc chúng ta phải vắt óc tìm kiếm cho được giải pháp cơ bản, lâu dài và hiệu quả. Hãy chuẩn bị sẵn sàng để đón ông Tập Cận Bình sang thăm.
Phải khéo léo cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, nhất là Trung Quốc và Hoa Kỳ
Có quan điểm cho rằng Việt Nam nên theo nước này, nước khác để nhận được sự bảo vệ từ họ trong tình huống xảy ra bất trắc. Cá nhân tôi cho rằng tư duy này chỉ đẩy dân tộc Việt Nam vào ngõ cụt không lối thoát, vào xung đột, máu chảy đầu rơi. Chỉ có độc lập tự chủ, tự lực tự cường kết hợp với việc tận dụng tối đa các quan hệ, xu thế khu vực và quốc tế có lợi cho mình mới bảo vệ được mình. Theo nước này chống nước kia là tự sát.
Trong quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, mặc dù đối tác luôn nhấn mạnh đến sự tương đồng về ý thức hệ, về chế độ xã hội chủ nghĩa, nói chung là quan hệ gần gũi thân mật về chính trị, nhưng chúng ta cần phải ý thức rõ rằng, quan hệ chính trị gần gũi, có nhiều điểm chung, nhiều kênh liên lạc là lợi thế tạo ra môi trường để đối thoại, ngồi lại với nhau hợp tác khi hòa bình, tìm cách tháo gỡ căng thẳng và tránh xung đột đối đầu khi bất đồng, mâu thuẫn chứ không phải căn cứ để giải quyết mâu thuẫn.
Tất cả bất đồng, tranh chấp, mâu thuẫn cần phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế mà quan hệ chính trị đóng vai trò tạo môi trường cho đàm phán, đối thoại.
Trung Quốc không thể lo thay cho Việt Nam, không thể sống hộ Việt Nam và tất nhiên họ cũng không thể gây ảnh hưởng gì đến sự tồn tại, phát triển của Đảng, Nhà nước và dân tộc, đất nước Việt Nam.
Còn với quan hệ Việt - Mỹ, rõ ràng từ khi bình thường hóa quan hệ, hợp tác kinh tế - thương mại song phương phát triển nhanh chóng, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. Đó là hợp tác hai bên cùng có lợi. Trong câu chuyện Biển Đông, Mỹ đang bảo vệ lợi ích sát sườn thiết thực của họ chứ không phải họ lo thay hay giúp Việt Nam theo kiểu “trượng phu hảo hán”.
Chỉ có điều, lợi ích của Hoa Kỳ và Việt Nam ở Biển Đông đang có nhiều điểm trùng nhau mà chúng ta có thể khai thác, tận dụng để bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực cũng như luật pháp và công lý quốc tế.
Thế thời thay đổi, nước lớn bắt tay, không cẩn thận chúng ta lại trở thành con bài trong tay nước lớn. Tuyên bố Thượng Hải 1972 hay trước đó là Hiệp định Geneva 1954 là những bài học chúng ta không bao giờ được quên.
Cái bắt tay giữa Mao Trạch Đông và Richard Nixon năm 1972 đã để lại nhiều hệ lụy cho các nước, vùng lãnh thổ thứ 3. Ảnh: Vượng Báo.
Chúng ta không ai muốn phải đi trên dây, nhưng hoàn cảnh, thời cuộc đã xô đẩy Việt Nam đến chỗ phải trở thành một nghệ nhân xiếc tài ba, cân bằng cho được trong quan hệ với các nước lớn mới có thể an toàn tới đích: Giữ vững đường lối đối ngoại độc lập tự chủ để phát triển kinh tế, nâng cao năng lực quốc phòng, xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Hãy nhìn rộng ra khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Triều Tiên dù còn nhiều khó khăn và lệ thuộc vào Trung Quốc về mặt kinh tế, nhưng chưa bao giờ họ để mất tính độc lập tự chủ trong các quan hệ quốc tế. Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan phát triển vượt bậc về kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục nhưng là dựa vào nội lực và biết vận dụng ngoại lực cũng như xu thế thời đại để vươn lên chứ không phải nhờ theo nước này, theo nước kia mà được như thế.
Họ là tấm gương cho chúng ta về những mặt này, nhưng cũng là bài học cho chúng ta về quốc phòng an ninh, bởi lẽ phụ thuộc vào một cái ô, cái dù an ninh của ai đó thì làm gì cũng phải nhìn sắc mặt người ta.
Đồng minh hay đối thủ trong quan hệ chính trị quốc tế ngày nay thay đổi liên tục, tất cả đều do quan hệ lợi ích chi phối. Hòa bình, ổn định, phát triển của nhân loại vẫn bị đe dọa bởi chiến tranh, bởi những cái đầu nóng của một nhóm các nhà chính trị cường quyền.
Việt Nam ta còn yếu về kinh tế, còn yếu về thực lực nhưng lại nằm giữa trung tâm mặt trận cạnh tranh địa chiến lược, địa chính trị gay gắt giữa hai siêu cường ở Thái Bình Dương là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Ứng xử không khéo, chúng ta sẽ tự đẩy mình vào bi kịch.

Ts Trần Công Trục: Nguyện được làm người trải thảm đỏ chào đón khách quý!

(GDVN) - Khi vẫn còn cơ hội để đối thoại, ngồi được với nhau một cách thiện chí để chia sẻ trách nhiệm trước nhân loại đang đứng bên miệng hố chiến tranh tàn khốc,...
Nếu chúng ta để người Trung Quốc tin rằng Việt Nam “theo Mỹ, theo Nhật để bao vây, kiềm chế Trung Quốc” như một số học giả của họ vẫn tuyên truyền, thì đừng nói Trường Sa của ta khó giữ, mà nguy cơ những ngón đòn tấn công có thể đổ ngay lên đầu chúng ta bất cứ lúc nào từ biên giới phía Bắc. Một khi để rơi vào thế đối đầu, Trung Quốc có nhiều con bài để chơi, dù bên nào thắng thì cả hai cũng sứt đầu mẻ trán.
Với Hoa Kỳ, nếu chúng ta không cho họ thấy rõ thiện chí hợp tác bảo vệ hòa bình và luật pháp, công lý quốc tế mà một số quan điểm trong giới chính trị Hoa Kỳ vẫn nghĩ Việt Nam “lệ thuộc” Trung Quốc thì khó có thể tận dụng được vị thế, quan điểm, lập trường và sự ủng hộ của Hoa Kỳ ở Biển Đông.
Bởi vậy, muốn không rơi vào thảm cảnh của Lybia, Iraq, Afghanistan hay Syria hiện nay, mỗi người dân Việt Nam nên nhớ nằm lòng: Tự lực tự cường, độc lập tự chủ, sẵn sàng làm bạn với các nước yêu chuộng hòa bình và công lý, nỗ lực hết sức mình với thiện chí cao nhất để bảo vệ hòa bình và công lý mới là lựa chọn cho hiện tại và tương lai.







THẾ NÀO LÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY


                                                   Giáo sư  NGUYỄN ĐÌNH CHÚ


 1. Trên đất nước ta, từ khi có đường lối đổi mới, giường như đã có trào lưu đổi mới tư duy. Từ các nhà lãnh đạo đất nước, các bộ ngành, các cơ quan, đều nói đổi mới tư duy. Một số bậc thức giả cùng bàn đến thế nào là đổi mới tư duy. Đó là điều đáng mứng cho đất nước. Bởi chính sự đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất, tư duy, hơn gì hết, mới là động lực phát triển đất nước.
2. Tuy nhiên, hiểu thế nào là đổi mới tư duy sao cho thật đúng, thật tường minh, hẳn là chuyện hoàn toàn không đơn giản mà không tường minh về sự đổi mới tư duy thì chắc chắn ý nghĩa thực tiễn, tác dụng thực tiễn sẽ bị hạn chế, nếu không muốn nói là vô tác dụng.
3. Để tường minh thế nào là đổi mới tư duy trên phạm vi đất nước hôm nay, không thể không thông qua công việc nghiên cứu, hội thảo khoa học. Và ở đây, vai trò của trí thức phải được đặt lên hàng đầu. Hàng đầu trong việc khai mở nâng cao phẩm chất tư duy cho xã hội. Hàng đầu trong việc tự nâng cao phẩm chất tư duy của chính mính là tri thức. Trong việc nâng cao phẩm chất tư duy của xã hội, trước hết lại phải đặt ra với ngành giáo dục và đào tạo. Mà với ngành Giáo dục-Đào tạo thì trước hết lại phải đặt ra với nền giáo dục đại học.
1. Nhận diện tư duy
 1.1. Tư duy là đối tượng nghiên cứu của cả hai ngành khoa học lớn: tự nhiên (sciences natureles) và xã hội (sciences sociales). Với khoa học tự nhiên mà cụ thể là sinh học đã nghiên cứu đại não thần kinh vốn là rất vi diệu. Thành tựu nghiên cứu này ngày một lớn nhưng vẫn chưa phải đã hết vấn đề: Nhờ những thành tựu đó mà y học hiện đại, kết hợp với vật lý học hiện đại, đưa lại những bước tiến phi thường trong việc chữa bệnh cho loài người. Với khoa học xã hội, tư duy là đối tượng nghiên cứu trước hết của tâm lý học, kế đến là triết học, ngôn ngữ học, rồi nữa là giáo dục học, nghệ thuật học, xã hội học, kinh tế học, quân sự học… Các tôn giáo, ví như Phật giáo, cũng đã có những kiến giải rất phong phú về tư duy Phật giáo. Trên thế giới, kể cả ở Việt Nam ta, đã có khoa học về tư duy. Theo chỗ tôi biết, ở Việt Nam ta, công trình nghiên cứu tư duy đáng được quan tâm, trước hết là công trình “Tìm nguồn gốc ngôn ngữ và tư duy” (Recherches sur l’origine du langague et de la conscience) của triết gia Trần Đức Thảo, viết bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pháp, được dịch ở một số nước, và cũng đã được dịch ra tiếng Việt. Công trình này chính là dựa vào thành tựu của sinh vật học mà tổng kết trên phương diện triết học sự phát triển của ý thức và ngôn ngữ. Trước đó, giáo trình “Biện chứng pháp thần kinh” (1956-1957) cũng đã nghiên cứu từ trạng thái vô sinh đến hữu sinh và phát triển qua các loài từ giun đến bò sát, đến cá, đến chim, đến động vật có vú, đến vượn người, đến người có đại não. Với loài người, sự xuất hiện của ngôn ngữ sẽ khẳng định sự tồn tại của tư duy. Phan Đình Diệu trong một tiểu luận về lịch sử phát triển tư duy cũng cho người đọc thấy sự phát triển là từ tư duy huyền thoại đến suy luận lôgic, đến trí tuệ khoa học (xen vào là tư duy lôgic hình thức), đến tư duy hệ thống… từ trực giác thị giác đến trực giác trí tuệ.
1.2. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, phát hiện, định danh về thế giới tư duy của nhiền ngành, nhiều phương tiện, rất mực phong phú, chứng tỏ sự phong phú, huyền diệu, kể cả sự bí ẩn của tư duy loài người thì có: cảm giác, tri giác, lý tính, trực giác, ý thức, vô thức, tiềm thức, tiền ý thức, cảm xúc, cảm tưởng, cảm tình, cảm thức, tâm thức, tâm tưởng, tâm linh, tâm thế, tâm trạng, tâm khảm, tâm giao, tâm địa, tâm lý, tâm thần, tâm tính, tâm hồn, hoàn hồn, thần kinh, thần sắc, thần thái, thần tình, thần diệu, thần giao, thần giao cách cảm, tinh thần, tư tưởng, ý tưởng, tưởng tượng, liên tưởng, ảo tưởng, mộng tưởng, tương tư, suy tưởng, viễn tưởng, hồi tưởng, hồi ức, hồi vọng, trí tuệ, trí năng, tuệ năng, ngộ, đốn ngộ, giác ngộ, diệu ngộ, nhập diệu, thiền định, nhập thiền, mặc cảm, mặc định, tư duy huyền thoại, tư duy lôgic, tư duy khái niệm, tư duy trừu tượng, tư duy cụ thể, v.v… tư duy văn học, tư duy toán học, tư duy triết học.v.v.. Đúng tư duy là một sản phẩm kỳ diệu tuyệt vời được Thượng đế ban cho loài người và phát triển cùng sự phát triển sự sống của loài người để ngày một xứng đáng là chúa tể của muôn loài.
1.3. Tính chất cá thể và sự phái sinh của tư duy: Nhân loại có 6 tỷ người là có 6 tỷ tư duy cá thể. Hai anh em sinh đôi thì mỗi người vẫn là một tư duy. Nhưng tư duy lại đã phái sinh một cách thiên hình vạn trạng theo sự sống thiên hình vạn trạng của loài người. Từ đó mà có tư duy dân tộc, sắc tộc, tư duy giới tính, tư duy lứa tuổi, tư duy theo trình độ học vấn, theo trình độ thể chất, theo cái ngành nghề, theo cái hình thái thiết chế xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp, quân sự.v.v.. Theo sự phân ngành phân nhánh trong khoa học tự nhiên và xã hội, vừa ở cấp độ khái quát vĩ mô vừa ở cấp độ vi mô cụ thể. Chỉ nói riêng ở bộ môn văn trong ngành nghệ thuật, đã có tư duy sáng tạo, tư duy lý luận, tư duy phê bình, tư duy nghiên cứu. Riêng trong sáng tác, cũng đã có bao nhiêu là kiểu tư duy liên quan đến từng thể loại. Tư duy văn khác tư duy thơ. Trong văn, tư duy tiểu thuyết khác tư duy truyện ngắn, khác tư duy phóng sự, ký sự, tuỳ bút… Trong thơ cũng vậy, mỗi thể thơ có một kiểu tư duy riêng. Tư duy Đường luật khác tư duy thơ tự do, khác tư duy thơ lục bát. Tư duy trường ca khác tư duy thơ thông thường… Tư duy văn học thời trung đại khác thời hiện đại. Tư duy được phát sinh không phải là bất biến mà có vận động. Không phải tự biệt lập mà còn có sự đan xen, liên kết. Rõ ràng ta lại thấy thế giới của tư duy là vô cùng phong phú đa dạng, đa diện, vô cùng huyền diệu, kể cả ví ẩn.
1.4. Nói qua về sự khác nhau giữa kiểu tư duy phương Đông (trong đó có Việt Nam) với kiểu tư duy phương Tây. Nói đến vấn đề này, vô hình trung, ít nhiều đã đặt mình vào cái thế chơi vơi bởi lẽ đã gặp phải tính xác định không đơn giản về hai khái niệm Đông Tây mà trong nhận thức lịch sử từng có sự biến đổi này nọ. Tuy vậy, trong giới hạn đó, thực tế đã có người từng nêu lên vấn đề mà không phải là không có điều khả thủ. Với tôi đã thu nhận được hai điều như sau: a. Sự khác nhau về kiểu tư duy: Nếu tôi không lầm thì người Việt Nam đầu tiên nói đến sự khác biệt giữa tư duy phương Đông và phương Tây là chủ bút Nam Phong – Phạm Quỳnh khi đã viết: “…. đúng là sự khác biệt cơ bản chia cách phương Đông và phương Tây, châu Á và châu Âu. Một phía là niềm say mê cái tuyệt đối và cái toàn thể, phái kia, chủ ý vào cái ngẫu nhiên và cái riêng biệt”. Người tiếp sau là học giả Cao Xuân Huy trong sách “Tư tưởng phương Đông – gợi những điềm nhìn tham chiếu” NXB Văn học 1994. ở Thiên II “Phương thức chủ toàn” và phương thức “chủ biệt” của tư tưởng và từ đó mà có hai ngả rẽ Đông Tây khác nhau. Từ quan điểm của hai học giả này, đặc biệt là từ hai khái niệm “chủ toàn” và “chủ biệt”, người ta đã nói tiếp về hai kiểu tư duy: cầu tính” (esprit sphèrique, globale) của phương Đông, tuyến tính (esprit linéaire) của phương Tây. Đặc điểm của tư duy cầu tính là tính hỗn hợp trong tư duy. Do đó kém tinh thần duy lý và khả năng phân tách (analytique). Ngược lại, với kiểu tư duy tuyến tính thì lại rất giàu khả năng phân tách, do đó mà thuận lợi cho việc phát triển khoa học thực nghiệm, khoa học kỹ thuật để tạo ra một nền văn minh vật chất khổng lồ. Học giả Phạm Quỳnh cũng đã viết tiếp: “chỉ cần rút ra từ đó tất cả các hệ quả để khắc hoạ nên những nét của cái nền văn mình phương Tây và phương Đông. Đắm mình trong chiêm ngưỡng cái lý tưởng chăm chăm vào cuộc tìm kiếm và đuổi theo cái tuyệt đối phương Đông đã đông cứng lại trong sự phát triển của mình, dửng dưng với tất cả những tiến bộ của thế giới bên ngoài, không đủ sức chống lại các bộ lạc du mục man dã xâm chiếm đất nước mình… và mỗi lần như vậy lại rơi vào cảnh phụ thuộc nhục nhã, một nỗi kinh hoàng tinh thần” mà cái dân tộc của họ không bao giờ cuộc sống có thể hoàn toàn bình phục được”. Các nhà duy tân đầu thế kỷ XX cũng đã đưa ra hai khái niệm: văn minh tĩnh và văn minh động để nói về sự khác nhau giữa văn minh phươg Đông và văn minh phương Tây xuất phát từ sự khác nhau về hai kiểu tư duy như trên đã nói.
 Từ sự khác nhau về tư duy giữa phương Đông và phương Tây cũng đã dẫn đến thực tế: một bên coi trọng chủ nghĩa duy linh, một bên coi trọng chủ nghĩa duy lý. Chủ nghĩa duy linh thiên về hướng nội, chủ nghĩa duy lý thiên về hướng ngoại. Hướng nội nên có đời sống tâm linh phong phú nổi trội. Hướng ngoại nên phát triển khoa học kỹ thuật từ đó tạo ra một nền văn minh vật chất bậc cao so với phương Đông. Với phương Đông, chữ Tâm có nội dung bao la đầy đặn, khác chữ Tâm của phương Tây. Năm 1937, giáo sư Đặng Thai Mai viết thư hỏi vị nhạc phục là cụ cử nhân Hán học Hồ Phi Thống về tình hình triết học thế giới. Trong bức thư trả lời con rể, vị nhạc phụ vốn say mê triết học này đã nói về cuộc đấu tranh sôi động ở phương Tây giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Nhưng lưu ý ông con rể cần phân biệt chữ Tâm của phương Đông và của phương Tây. Một sự lưu ý quá đỗi đích đáng. Với chữ tâm phương Đông, Nguyễn Du chẳng đã viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Xem Từ Hải của Trung Quốc sẽ thấy khối lượng từ tố đứng đầu là chữ tâm rất lớn. Điều đó cũng chứng tỏ ở phương Đông (cụ thể ở Trung Hoa) với văn hoá Hán, chữ Tâm có một vị trí lớn lao biết chừng nào. Tư duy phương Đông đã tạo ra cho phương Đông một đời sống vật chất rõ ràng là kém phương Tây. Tuy nhiên, việc đánh giá hơn thua ở đây lại không đơn giản. Bởi đã đến lúc cần nhìn thêm vào mặt trái của cái huân chương phương Tây. Phát triển, giàu có phi thường nhưng cũng phá hoại môi sinh một cách phi thường. Chẳng phải đã có người của phương Tây kêu gọi phương Tây hãy tìm về phương Đông, dĩ nhiên là phương Đông cổ trung đại vốn coi trọng đời sống tinh thần, có đời sống tâm linh siêu hình nhưng lại có ý nghĩa thực tiễn không nhỏ chút nào. Muốn hiểu đúng phương Đông cổ trung đại thì phải hiểu đúng đời sống tâm linh trong đó có thuyết “thiên mệnh”, thuyết tai dị” và những hình thức thiết chế hoá đời sống tâm linh như đã có. Những gì được nói trên đây chủ yếu là nói về phương Đông và phương Tây cổ trung đại. Chứ trên tiến trình giao lưu Đông Tây ngày một mở rộng thì sự khác biệt đó đã nhường chỗ dần cho sự thống nhất trong đó, dĩ nhiên, ảnh hưởng của phương Tây đối với phương Đông là chính.
2. Thử bàn về yêu cầu đổi mới tư duy để phát triển đất nước hôm nay và mai sau Đúng là đang có trào lưu đổi mới tư duy mà tôi không thể theo dõi hết những gì đã có. Tuy nhiên, sơ bộ cũng thấy sự đổi mới tư duy đang được diễn ra chủ yếu ở hai bình diện sau: a. Trước hết và phổ biến là ở cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến các bộ, các ngành, các cơ quan cụ thể. Ví như với bộ Giáo dục và đào tạo của tôi thì đó là “đổi mới tư duy quản lý”. Ví như với ga Hàng Cỏ mà tôi biết được qua đài báo là “đổi mới tư duy bán vé”.v.v.. b. Bàn đến sự đổi mới tư duy ở cấp độ vĩ mô, thuộc phạm vi toàn bộ sự sống của đất nước mà có vị đã chủ trương: hãy từ bỏ chủ nghĩa duy tình duy cảm để chuyển sang chủ nghĩa duy lí. Chúng ta nghĩ gì trước hiện tình đổi mới tư duy ở hai trạng thái đó? Đúng là không thể phủ nhận ý nghĩa và tác dụng của việc đổi mới tư duy đã có đó. Nhưng cũng xin phép được nói thực lòng: quan niệm đổi rmới tư duy như trên chưa thật sự trúng vấn đề, chưa đủ sự chắc chắn của vấn đề. Bởi với trạng thái thứ nhất thì nói là đổi mới tư duy cũng được vì làm việc gì mà chẳng liên quan đến tư duy. Hôm qua, quản lý bằng các việc làm, cách làm này thì có tư duy của việc làm, cách làm này. Hôm nay, quản lý bằng các việc làm khác, cách làm khác thì cũng có tư duy của việc làm khác, cách làm khác. Không ai có thể bác được điều đó. Nhưng ở đây, trong thực tế, lại có hiện tượng vẫn là tư duy cũ, dù hôm qua làm thế này, hôm nay làm thế khác. Rõ là thay đổi cách làm, chưa hẳn đã thay đổi tư duy. Đổi mới tư duy với yêu cầu đích thực, còn có vấn đề khác cơ bản hơn, nền tảng hơn. Còn chủ trương rằng đổi mưói tư duy là từ bỏ chủ nghĩa duy tình duy cảm để chuyển sang chủ nghĩa duy lí thì quả có chút “hạt nhân hợp lý” bởi lẽ đất nước đang cần phát triển chủ nghĩa duy lý. Nhưng xét ở cấp độ vĩ mô, trước hiện tượng thiên hình vạn trung rất mực biến huyễn, huyền diệu, thậm chí còn là bí ẩn như đã nói thì cách đặt vấn đề như thế là phiến diện, bất ổn. Điều cần từ bỏ là chủ nghĩa duy tình duy cảm cực đoan phiến diện, một chiều chứ không phải là chủ nghĩa duy cảm duy tình. Thứ này mà bỏ đi thì con người sẽ là thế nào? Riêng với văn chương, đặc biệt là với thơ ca vốn là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, thì còn đâu mảnh đất để tồn tại nếu đã khai tử chủ nghĩa duy tình, duy cảm. Vậy thì đổi mới tư duy là thế nào? Theo ý chúng tôi, nội dung đổi mới tư duy vẫn phải được đặt ra ở hai bình diện như đã có. Bình diện thuộc phạm vi cụ thể của cái hình thái hoạt động cụ thể vốn là thiên hình vạn trạng trong sự sống của đất nước. Bình diện thuộc phạm vi vĩ mô, bao trùm lên toàn bộ sự sống của đất nước. Mỗi bình diện có nội dung riêng cần đổi mới, nhưng vẫn có quan hệ hỗ trương. Ở bình diện cụ thể, sẽ là chuyện người người đổi mới, ngành ngành đổi mới, việc việc đổi mới… Mà muốn đổi mới thực sự để có kết quả thì phải hiểu đúng thế nào là đổi mới chứ không phải là chuyện “sáng bốn chiều ba” “sáng ba chiều bốn” (triêu tam mộ tứ) của Thư Công nuôi khỉ thuở xưa. Cuốn sách “Bản đồ tư duy trong công việc” (Mind maps at work) của Bộ Giáo dục và Đào tạo đang được hơn 250 triệu người trên thế giới sử dụng và được Nhóm tư duy mới (New Thinking Group) dịch. Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Việt Nam - năm 2007, hẳn sẽ hỗ trợ đắc lực cho chúng ta ở bình diện cụ thể này. Mặc dù chủ yếu là trên phương diện kỹ thuật, thao tác. Qua “Lời giới thiệu” sách (cho bản tiếng Việt), được biết các bạn sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội đã ứng dụng thành công “Bản đồ tư duy” mà đạt kết quả học tập rất cao. Phải chăng, có thể và mở rộng phong trào ứng dụng “Bản đồ tư duy” này, nếu đúng đã có kết quả thực. Trở lên là nói về sự đổi mới tư duy ở bình diện việc làm cụ thể trong cuộc sống. Đến đây, xin nói về sự đổi mới tư duy ở cấp độ vĩ mô bao trùm toàn bộ sự sống của đất nước, cho hôm nay và mai sau. Nội dung tư duy cần đổi mới ở cấp độ bao trùm này lại phải dựa theo quy luật phát triển tư duy để phát triển cuộc sống của lịch sử nhân loại nói chung. Trong thực tế, những nội dung tư duy cần được đổi mới này cũng chính là những điều mà đất nước chưa có, hoặc có nhưng chưa tới độ cần thiết cho sự phát triển đất nước hôm nay và mai sau. Và từ chỗ chưa có, hoặc có nhưng còn thấp đến chỗ có cho ra có hoàn toàn không đơn giản. Vấn đề là phải nhận chân được điều cần có để tìm mọi cách phát động dân tộc, trước hết là ở tầng lớp lãnh đạo quốc gia, đặc biệt tầng lớp trí thức phải đi đầu trong công cuộc khai mở, xây dựng cho đất nước có được những phẩm chất tư duy cần có đó.
3. Đề xuất Với quan niệm như trên, tôi xin đề xuất mấy vấn đề sau đây:
3.1. Phát triển tư duy trừu tượng khoa học Trong tư duy của loài người, có hai kiểu, hai phương thức tư duy tiêu biểu: tư duy trừu tượng và tư duy cụ thể. Năng lực tư duy trừu tượng khoa học là năng lực nhận thức sự vật không chỉ ở cấp độ hiện tượng mà quan trọng hơn với nó là nhận thức về mối quan hệ vốn dĩ là trừu tượng và cũng rất phức tạp, chằng chịt của các hiện tượng. Trong khi năng lực tư duy cụ thể thì kết quả nhận thức sự vật chủ yếu ngừng ở hiện tượng cụ thể nếu có nhận thức được quan hệ giữa các hiện tượng thì cũng chỉ ở mức đơn giản, thô sơ. Trong năng lực tư duy trừu tượng lại có hai trạng thái: Một thứ trừu tượng từng được mệnh danh là trừu tượng khoa học bởi lẽ nó xuất phát từ hiện thực khách quan của sự sống. Một thứ trừu tượng được mệnh danh là tư biện (spéculatif) là thứ trừu tượng đơn thuần không dựa trên thực tế khách quan. Dĩ nhiên, điều cần phát triển là tư duy trừu tượng khoa học. Ngược lại, với trừu tượng tư biện thì cần loại bỏ. Có thể nói được rằng: Người Việt Nam ta giàu về tư duy cụ thể mà nghèo về tư duy trừu tượng. Cứ nhìn vào kho từ vựng tiếng Việt thì thấy rõ điều đó. Từ cụ thể thì phong phú vô cùng. Còn từ trừu tượng thì nghèo và chủ yếu là ngoại nhập. Với ta, cùng một động tác di chuyển một vật thể đến một chỗ khác thě có không biết bao nhięu lŕ từ: mang, xách, ẵm, gồng, gánh, bę, bưng… trong khi với ngôn ngữ Pháp chẳng hạn một từ “porter” là đủ.
Ở ta, không có truyền thống tư duy trừu tượng là do kinh tế Việt Nam xưa là kinh tế nông nghiệp. Tuy dã có kinh tế hàng hoá nhưng không phát triển như ở các nước đã phát triển tư bản chủ nghĩa. Chính kinh tế hàng hoá là cơ sở phát triển tư duy trừu tượng. “Hàng hoá” là biểu tượng có khả năng trừu tượng hoá mọi vật thể, kể cả lương tâm. Điều đáng nói là ở ta do không có truyền thống tư duy trừu tượng nên về cơ bản cũng không có truyền thống khoa học, và cũng có thể nói là không có triết học. Vì không có truyền thống tư duy trừu tượng, nên hễ có ai nói giọng trừu tượng thì thường bị coi là tư biện cả. Ngày nay, trên đã phát triển, đặc biệt là trong tình hình giao lưu quốc tế được tăng lên gấp bội, thì khả năng tư duy trừu tượng của người Việt ta có được nâng cao, tăng trưởng nhưng so với yêu cầu vẫn bất cập, so với thế giới đó đây vẫn thua kém. Với người Việt Nam giỏi toán thì trong lao động toán học đã tỏ ra có năng lực tư duy trừu tượng rất cao. Nhưng rời toán học, về lại đời thường, vẫn là thuộc tình trạng chung của đất nước. Sự yếu kém về tư duy trừu tượng khoa học đã kéo theo một loạt sự yếu kém đối với các hình thái thao tác tư duy khác như: tư duy hệ thống, tư duy tích hợp, tư duy so sánh, tư duy lựa chọn, tư duy quy luật, tư duy sáng tạo nói chung. Cứ nhìn vào tình trạng chung quanh vấn đề an toàn thực phẩm mà việc qui trách nhiệm không biết thuộc về bộ nào: Nông nghiệp? Y tế? Thương mại…? Cứ nhìn vào chuyện phát triển xây dựng nhà cửa, đường sá lộn xộn ở Hà Nội để gây ra tình trạng ngập lụt, ách tắc giao thông. Cứ nhìn vào tình trạng ngành giáo dục trong công cuộc cải cách giáo dục, chăm lo cải tiến sách giáo khoa mà thiếu sự quan tâm xây dựng phòng thực hành để rồi sách mới ra nhưng không có điều kiện thí nghiệm. Cứ nhìn vào việc tha hồ cho xây dựng xưởng máy này nọ mà quên mất khâu bảo vệ môi trường để rồi xảy ra các sự cố như công ty Vêđan xả nước bẩn làm hại môi trường sống của nhân dân trên sông Đông Nai. Đúng là cứ nhìn… cứ nhìn… đâu cũng thấy có chuyện khập khễnh, gây bất lợi cho cuộc sống đất nước nhãn tiền đủ biết là sự thiếu tư duy hệ thống, tư duy tích hợp… đã gây tác hại biết chừng nào. Ngay trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học. cứ chăm chăm vào việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cảm thụ mà quên chăm lo năng lực tư duy trừu tượng thì có chuyện gặp đâu nói đấy, có chuyện thầy bói sờ voi cũng không phải là hiếm. 3.2. Phát triển tư duy triết học Tạm hiểu tư duy triết học là tư duy có khả năng nhận thức, phát hiện những quy luật của cuộc sống và cũng là năng lực nhận thức sự sống con người ở độ sâu sắc nhất, tinh diện nhất, kể cả sự bí ẩn. Quả là Việt Nam ta, chưa có truyền thống tư duy trừu tượng khoa học do đó cũng chưa có truyền thống tư duy triết học. Thông thường, trước những vấn đề của cuộc sống vốn dĩ là thiên hình vạn trạng, là vô cùng phức tạp, khả năng nhận thức của chúng ta vẫn chủ yếu ngừng ở trình độ nhận thức xã hội học thường là chỉ ở phạm vi bề ngoài của sự sống. Cũng do thiếu năng lực tư duy triết học nên đã có sự ngự trị của tư duy chính trị một cách không bình thường và không lợi cho sự phát triển đất nước. Hẳn là ở ta, hiện đã có viện triết học, có một số giáo sư, phó giáo sư triết học. Nhưng liệu như thế đã có thể nói là có triết học được chưa. Xin mượn lời của giáo sư Trần Văn Giàu vốn được dư luận coi là vị giáo sư triết học sáng giá nhất dưới chính thể cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nói trong bài viết về Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trường Đại học Duy Tân 18 giáo sư Trần Đức Thảo rằng: Trên đất nước ta, nếu có một người xứng đáng là triết gia thì không ai khác là Trần Đức Thảo. Giàu này chỉ là một giáo sự dạy triết học. Quả là một sự tỉnh táo, trung thực. Bởi lẽ triết gia thì phải tạo ra triết thuyết riêng. Chứ đâu như giáo sư triết học chỉ là người đọc sách triết của người khác rồi truyền đạt lại cho học trò. Đất nước chẳng phải ngày nay không có triết gia mà trong quá khứ cũng đâu đã có. Hạn chế của văn hoá Việt Nam là thế. Vì thiếu một năng lực tư duy triết học, nên ngay ở việc tiếp nhận triết học của thế giới vào nước mình cũng thiếu bản lĩnh. Đáng nói nhất là vì không có tư duy triết học, nến có bao nhiêu quy luật của cuộc sống đang diễn ra một cách rõ mồn một, mà không thấy giới khoa học xã hội Việt Nam, các vị tự nhận là nhà nghiên cứu triết học nói đến. Ví như các quy luật: về sự đối trọng, về cạnh tranh sinh tồn, về sự trỗi dậy của cái tôi cá thể, vệ sự trỗi dạy của đời sống tâm linh, về quy luật “Sự văn minh tiến hoá bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hoá bấy nhiêu”, quy luật về sự khập khễnh, không tương đồng giữa giàu có và đạo lý… Nói riêng trong lãnh vực nghiên cứu văn học của chúng tôi, mà chủ yếu là thuộc khả năng nhận thức về thế giới con người, sự sống con người vốn dĩ rất phức tạp, rất kỳ diệu, kể cả sự bí ẩn, bí hiểm thì cũng dễ thấy sự hạn chế không nhỏ do thiếu tư duy triết học. Một ví dụ “Chuyện người con gái Nam Xương” trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ mà từ trước tới nay, sách giáo khoa vẫn theo lối nhìn xã hội học giản đơn để cho rằng cuộc đời Vũ Nương tan nát đến phải tự vẫn là do chế độ nam nữ bất bình đẳng và chiến tranh. Trong khi, nếu nhìn theo triết học thì chẳng phải thế. Bởi lẽ, nam nữ có bình đẳng đến đâu, Trương sinh không đi trận mà đi xa với bất cứ trạng thái nào, về nhà, con không nhận cha, lại bảo cha là người khác thì chuyện Trương Sinh đánh ghen vẫn xảy ra và chuyện Vũ Nương uất quá đến tự vẫn, là chuyện dễ có, dể hiểu. Với cách nhìn triết học, sẽ thấy ở chuyện “Người con gái Nam Xương” chính là chuyền về cái mong manh vô cùng mong manh của hạnh phúc đàn bà, trước sự trớ trêu, sự bất trắc không ai có thể lường trước được mà cuộc đời phải tan nát. Con hỏi mẹ bố đâu? Mẹ chỉ vào bóng mình trên vách bảo là cha đó. Đó không phải là sự đồng nhất tuyệt đối trong tình vợ chồng sao? Nhưng trời ôi, sự tan vỡ đời Vũ Nương oái ăm thay bắt đầu lại chính từ gắn bó đồng nhất đó với chồng. Giả sử, khi con hỏi bố đâu? Vũ Nương nói cha đi trận. Thì đâu đến phải tan nát cuộc đời. Rồi nữa, tham gia vào phá nát cuộc đời Vũ Nương, không ai khác lại chính bé Đản do nàng đứt ruột đẻ ra, mà nó thì trong trắng, ngây thơ nhưng trong trường hợp này lại trở thành tác nhân trực tiếp phá nát đời mẹ nó. Trớ trêu, oái ăm trong sự sống con người mà liên quan đến hạnh phúc Vũ Nương là ma quái thế đó. Rồi nữa, còn là cái máu ghen mà tạo hoá cũng đã trớ trêu một lúc ban cho các cặp vợ chồng, các cặp trai gái tình yêu nồng thắm ngây ngất mãnh liệt thế kia nhưng cũng ban nốt cho họ cái máu ghen để rồi như một quả mìn đặt sẵn dưới giường hạnh phúc gái trai và nổ lúc nào không biết. Đúng là đất nước trên đường đi lên phải làm sao có được năng lực nhận thức sự sống bằng triết học để từ đó có cách xử sự trong cuộc sống vững chắc hơn. Lấy thêm một ví dụ cho điều đang muốn nói ở đây. Đó là nếu có được nhận thức triết học về quy luật đối trọng mà học thuyết âm dương trong Kinh Dịch đã gợi mở để áp dụng vào việc xây dựng cuộc sống, điều hành đất nước, chắc chắn sẽ hay hơn nhiều so với những gì đang là hiện thực trước mắt. Vào những ngày đầu đổi mới, trên báo chí đã thấy xuất hiện ý tưởng đó mà tiếc rằng người đưa ra cũng chưa hiểu chắc vấn đề, rồi người phản đối lại cũng không hiểu vấn đề. Dĩ nhiên đây là chuyện không giản đơn chút nào. Mong có dịp khác sẽ nói rõ hơn.
 3.3. Vấn đề tư duy cá thể Chính đây là vấn đề cơ bản nhất, trọng tâm nhất mà công cuộc đổi mới tư duy của đất nước phải đặt ra để giải quyết và quyết tâm thực hiện theo yêu cầu phát triển vững chắc, bề thế, đích thực của đất nước, không chỉ là trước mắt mà còn lâu dài. Để có được điều này, trước hết phải có sự nhận thức trường minh và vấn đề con người – cá thể trong sự sống của loài người là gì? Một vấn đề của triết học mà tiếc rằng giới nghiên cứu triết nói riêng, giới khoa học xã hội nhân văn nói chung ở nước ta còn bỏ quên hoặc lảng tránh. Chúng ta đều biết sở dĩ có loài người là do có những con người – cá thể (l’individu). Con người – cá thể là tế bào tạo nên cơ thể là các hình thái cộng đồng xã hội. Nó vừa là thực thể xã hội có quy luật sinh học tự thân, vừa là thực thể xã hội với hai thuộc tính: cá thể và cộng đồng. Trong thực tiễn cuộc sống, nó là một nhưng thành hai. Một thuộc bản chất nhân văn chân chính có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, nên cầu nguyện cho nó sớm trỗi dậy càng mãnh liệt bao nhiêu càng tốt, càng có lợi cho đất nước, cho nhân quần bấy nhiêu. Một nữa thì ngược lại, phản nhân văn, nhân bản, huỷ hoại lợi ích của cộng đồng, nên tiêu diệt được nó sớm phút nào là xã hội, nhân dân được nhờ phút ấy. Ở đây quả là có hai thuật ngữ: con người – cá thể (l’individu) và chủ nghĩa cá nhân (l’ individualisme). Tiếc rằng, ở ta, do thiếu tư duy triết học và cũng là thiếu óc duy lý, thiếu khả năng tư duy phân tách nên đã không tách bạch được hai phạm trù cá thể đó tuy xuất phát từ một nhưng đã thành hai ngả đối lập nhau như nước với lửa. Mà thực tế, tình hình nhận thức lại giường như chỉ ngừng ở ngả sau. Cho nên hễ nói đến con người – cá thể thì chỉ thấy đó là chủ nghĩa cá nhân mà thôi. Điều này, dĩ nhiên cũng liên quan đến một thực tế ở nước ta là nặng về tâm lý cộng đồng vốn là một nét đẹp, trong chủ nghĩa nhân văn Việt Nam nhưng ngay ở đó lại là có mặt trái của vấn đề là coi nhẹ, là không nhận thức đầy đủ và cần thiết về con người cá thể. Chính đây là điều có sự khác nhau giữa phương Đông và phương Tây, bởi phương Tây, nhờ có sự phát triển sớm nền kinh tế tiền tư bản và tư bản chủ nghĩa nên cũng đã sớm phát hiện được con người cá thể và biết tận dụng nó để phát triển cuộc sống, đưa xứ sở lên cõi văn minh phi thường. Còn phương Đông chậm phát hiện cái tôi, cá thể xét đến cùng cũng là do trong quá khứ sống chủ yếu với nền kinh tế nông nghiệp dù ít nhiều cũng có kinh tế hàng hoá. Và điều đó, dĩ nhiên đã gây bất lợi cho phương Đông không ít. Những gì nói về con người – cá thể như trên quả là còn sơ sài nhưng thiết tưởng cũng đã đủ để nói về vấn đề tư duy – cá thể. Không ai khác, chính Đề các (Descartes) triết gia của Pháp ở thế kỷ XVII là người đầu tiên phát hiện ra vấn đề này với mệnh đề “ Tôi tư duy ấy là tôi tồn tại” (Je pense donc je suis). Đúng thế, con người hơn muôn loài là nhờ ở tư duy như đã nói. Có tư duy mà không tư duy thì khác gì muôn loài. Tư duy cá thể là để tự tìm lấy chân lý, chứ không phải là để nghĩ lung tung bừa bãi. Hiện tình ở nước ta, không ít người vì không tường minh vấn đề nên hễ nói đến tư duy – cá thể là sợ có tình trạng bừa bãi, nghĩ và nói lung tung vô chính phủ. Tình trạng bao cấp về tư tưởng khá nặng nề một thời mà đến nay dù đã có sự phê phán nhưng trong thực tế không dễ gì thanh toán được tệ hại đó, kể cả tệ nạn độc tài tư tưởng không phải không có. Chính đó là những cản trở lớn trước yêu cầu đổi mới tư duy để có tư duy cá thể. Trong nhà trường, cũng đã có khẩu hiệu: phát huy độc lập suy nghĩ của học sinh, dĩ nhiên cũng đã có tác dụng nhất định nhưng về cơ bản vẫn chưa ăn thua gì cả. Bởi nói chung, cả xã hội, chủ yếu vẫn sống theo tình trạng trên bảo sao, dưới nghe vậy điều mà tư duy chính trị với công tác tuyên huấn rất muốn như vậy. Ở ta, chủ yếu vẫn sống trong tình trạng rót chân lý vào đầu các cá thể mà chưa phải là để các cá thể tự tìm lấy chân lí. Trẻ con nằm trên nôi, thì được mẹ qua lời ru, rót cho “chân lý”: “Việt Nam đất nước ta ơi. Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”. Tiếp đến, cô giáo mẫu giáo rót tiếp, rồi nhà trường cấp I, cấp II, cấp III… cứ thế mà rót. Phải nói rằng những gì được rót đó không phải không là chân lý nhưng về mặt khoa học, sự rót vẫn là bất lợi về cơ bản. Có thể nói, nếu cứ sống mãi với tình trạng này thì chẳng bao giờ đất nước này có giải thưởng Nobel dù rằng người Việt Nam ta khả năng trí tuệ không hề thua kém, một số nước đã có giải thưởng Nobel. Giải quyết được vấn đề tư duy – cá thể một cách thực sự đúng hướng như đã nói thì cũng là điều kiện tất yếu để giải quyết tốt vấn đề dân chủ, dân quyền một điều mà chính đất nước đang muốn giải quyết. Để đảm bảo cho việc giải quyết vấn đề tư duy – cá thể đi đúng hướng, không sợ gây ra mặt trái của vấn đề thì phải áp dụng quy luật đối trọng. Cụ thể là cùng một lúc khuyến khích và tạo điều kiện cho tư duy. – cá thể được thực thi thì phải phát triển mạnh mẽ tư duy pháp luật, ý thức pháp luật. Để cuối cùng là trên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước mà tha hồ tự do tư duy, kế đó là tự do phát ngôn chân lý tự mình đã trải qua quá trình tư duy nghiêm túc và công phu để tìm được, mà không ai có thể cấm đoán, gây khó dễ. Như đã nói vấn đề tư duy – cá thể là vấn đề cơ bản nhất, trọng đại nhất của công cuộc đổi mới tư duy phải được đặt ra với toàn bộ đất nước, với mọi người dân. Nhưng thiết thực hơn thì trước hết là phải đặt ra với đội ngũ trí thức, nhất là trí thức khoa học xã hội và nhân văn. Bởi đặc trưng bản chất của trí thức là hơn người về trí tuệ, có năng lực tư duy hơn ai hết. Do đó, trí thức phải được giải phóng khỏi tình trạng thụ động về tư duy để có được độc lập về tư duy, đặng có thể làm đầu tầu cho công cuộc đổi mới tư duy. Ở đây, rất cần được thiết chế hoá, chế tài hoá một cách chân chính cần cho sự đổi mới tư duy để có tư duy – cá thể. Tiếp sau vấn đề với tri thức, là vấn đề đối với tuổi trẻ học đường mà hiện thời đã có mầm mống nhất định. Khẩu hiệu chống lại tình trạng nặng về thuyết giảng, thầy giảng, trò ghi, trò nhớ, trò nói lại như vẹt là điều đáng khuyến khích và phải có cách làm sao cơ bản hơn những gì đang có, cũng là chuyện vô cùng khó khăn. Các nhà lãnh đạo đất nước, lãnh đạo ngành giáo dục phải nhận thức được rằng: Nếu muốn có một cuộc cải cách giáo dục thực sự đích thực thì không thể không đặt lên hàng đầu vấn đề tư duy – cá thể. Có thể nói không sợ sai rằng: chừng nào vấn đề tư duy – cá thể chưa được giải quyết thì chừng đó nền giáo dục nước nhà vẫn là nền giáo dục lạc hậu. Rộng ra, cũng có thể nói, chừng nào vấn đề tư duy – cá thể với đất nước, chưa được giải quyết thấu đáo và thành hiện thực thì chừng ấy khả năng phát triển đất nước vẫn ỳ ạch, chậm chạp so với khu vực, với thế giới văn minh.
4. Kết luận

Những gì được trình bày trên đây dù là đã được suy nghĩ từ nhiều năm tháng, và không kém phần tâm huyết, nhưng bản thân vẫn thấy chưa dễ gì dã được quí bạn chấp nhận. Và những gì được viết trên đây cũng chưa thể hiện hết những gì đã nghĩ mà chưa thể nói ra hết. Chỉ mong được qúi vị chỉ bảo thêm, trao đổi thêm, kể các đối thoại để mong rằng có sự hợp lực trong việc nâng cao chất lượng vấn đề. Và điều quan trọng hơn nữa là làm sao có thể đưa vấn đề vào cuộc sống của đất nước mà trước hết là cuộc sống trí thức, cuộc sống học đường

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Dịch vụ nhạy cảm

Mại dâm không thể là hành vi đơn lẻ, thực hiện một mình, nó luôn gắn với chuỗi tội phạm như dắt mối, bảo kê, cho vay nặng lãi, hợp pháp hóa nhân thân, rửa tiền…
Bạn có thể dễ dàng nhìn thấy ở góc phố nào đó, cô gái đứng đợi khách bên một gốc cây. Sau thỏa thuận, khách có thể chở cô ấy đi đâu đó, một chốc hoặc qua đêm. Những cô gái “người cây” nói với tôi cô ta phải nộp tiền “chiếu” cho chỗ đứng tối hôm đó - nộp ngay, tiền bảo kê nộp hàng tuần cho loạt dịch vụ thuê quần áo, thuê xe, xe ôm, khách sạn - nhà nghỉ, cảnh giới và giải cứu…
Tôi cũng cược với bạn số tiền hàng đêm của các cô gái cùng với các loại tiền “bẩn” khác sẽ chạy qua hệ thống nhà hàng, karaoke, spa… và biến thành tiền sạch chui vào túi ai đó được gọi là trùm.
Tương tự nếu cô gái là người nổi tiếng qua các cuộc thi nhan sắc cũng sẽ phải trả các loại tiền “dịch vụ” tương tự nếu dấn thân vào con đường tăm tối.
Tôi biết mô thức này lần đầu tiên vào những năm 1990 khi cảnh sát hình sự phá vụ sex tour Ánh Dung và “phi đội mại dâm bay Tân Cảng”. Tôi đã nói chuyện với nhiều người trong số họ. Ánh Dung là bí danh của bà trùm có dưới tay vài chục cô gái trẻ đẹp, phục vụ mại dâm từ bình dân đến cao cấp từ TP HCM đến các tỉnh và nước ngoài theo yêu cầu của khách. Một cô trong số đó nói hài lòng với công việc vì vừa sống sung sướng, vừa có tiền gửi về quê nuôi chồng con. Điều cô không nói là mỗi ngày cô phải tiếp ít nhất 5 lượt khách và nhiều nhất là 20 lượt, cô chỉ được 40% số tiền khách trả, còn lại cho các dịch vụ như trên nêu. Một cô gái khác kể bán “trinh” trên 15 lần, bán xong có bác sĩ “tân trang” thay cái mới vào, chắc theo công thức dân gian từ thời cụ Nguyễn Du.
“Phi đội mại dâm bay” Tân Cảng là hàng trăm chiếc xe gắn máy chở mấy cô “mua chiếu” đứng ở khu Tân Cảng, các cô làm tại các điểm “nhạy cảm” như gội đầu, cạo gió giác hơi, nhà hàng quán nhậu, karaoke… về các nhà trọ để bán dâm. Tiếng động cơ gầm rú kéo dài mấy tháng làm “nhũn não” cả con đường Điện Biên Phủ, Ung Văn Khiêm, Xô Viết Nghệ Tĩnh…, nhà tôi ở ngay đây nên tôi làm bổn phận công dân báo cho Bí thư phường.
Cảnh sát hình sự cùng với công an quận với nhiều chuyên án mới căn bản xóa được “phi đội” kỳ quái này. Lời khai của những người liên quan cho thấy mô thức như trên.
Tôi cũng liên hệ được với đường dây mại dâm cao cấp của bà trùm Sa. Tại cà phê sang trọng góc Đồng Khởi – Lý Tự Trọng, tôi chứng kiến cảnh đường dây đem cô gái tuyệt sắc và cực kỳ nổi tiếng đến để cùng đi đến khách sạn ở cuối đường Nguyễn Văn Thủ. Một tay môi giới nói với tôi, thích cô nào thì nói, có người sẽ đưa đến điểm hẹn.
Những điều vừa nêu xem ra đã lạc hậu so với tình hình hiện nay khi mà các tổ chức mại dâm còn in card visit phát ở khu vực trung tâm như phát tờ rơi. Còn các điểm mà ta gọi là dịch vụ “nhạy cảm” đều tiềm ẩn mại dâm và tội phạm khác, cơ quan chức năng kiểm tra điểm nào thì điểm đó “dính chấu”.
Đôi lúc lang thang trên mạng xã hội tôi nhận được lời mời tham gia các nhóm “kín” thực ra là các hình thức mại dâm member, tức là khi được chấp nhận là thành viên bạn mới được “mua”, “bán” “cái trời cho”, nơi tụ tập là quán bar và spa…. Slogan của những nhóm kín này: “Không cần biết em là ai - Cho dù gái hay là trai”. Tiếc là sau đó khi dò ra trang Facebook có lý lịch của tôi họ ngưng kết bạn và chặn thông tin.
Mại dâm phát triển đến mức khó lường, đa hình thức và luôn gắn với dịch vụ “nhạy cảm” nào đó như vũ trường, quán bar, nhà hàng bia ôm, săn sóc sắc đẹp, massage… Ngược lại các dịch vụ “nhạy cảm” luôn gắn với mại dâm và chuỗi tội phạm như cho vay nặng lãi, đánh bạc, bảo kê, đâm thuê chém mướn, rửa tiền… theo kiểu cộng sinh, không thể tách rời. Những cô làm nghề dịch vụ “nhạy cảm” cho dù là phân tán như hiện nay hay “thu gom” thành khu như đề xuất của Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội không thể sống như công nhân, đến giờ là vào, hết giờ là về mà chắc chắn sẽ bị khống chế bởi các băng nhóm chuỗi tội phạm.
Ông Lê Văn Quý, Chi cục phó chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội, nói với truyền thông rằng, lập khu “nhạy cảm” chứ không cho phép mại dâm. Khi được hỏi không cho phép mại dâm thì lập khu “dịch vụ nhạy cảm” để làm gì? Ông Quý cho rằng, luật pháp chỉ cấm mại dâm, kích dục chứ không cấm những hình thức như ngồi gần khách hàng phục vụ đồ ăn, nước uống, nói chuyện, ca hát, đụng chạm tay chân. Cũng theo ông này, thành lập khu dịch vụ “nhạy cảm” tập trung như ở Bình Quới hoặc Cần Giờ, có nghĩa tách biệt với cộng đồng dân cư.
Rõ là những người chuẩn bị cho đề án này vẫn nặng về tư duy thu gom, muốn quản lý nhưng chưa rõ sẽ quản lý cái gì và quản lý như thế nào? Đề án cũng xem các cá nhân hành nghề “nhạy cảm” cũng giống như những người làm công ăn lương bình thường mà chưa đánh giá đầy đủ tính “cộng sinh”, “chuỗi tội phạm” của nó.
Nếu bạn chưa tường tận chuỗi cung ứng các dịch vụ nhạy cảm và tính chất quy mô của nó thì theo tôi, đừng bao giờ nghĩ đến chuyện thu gom như một cách tư duy duy ý chí.
Hoàng Linh