Menu ngang

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Đặc sản quê nhà : 

TIẾNG NGHI LỘC

( Tiếp )

Do tiếng nói của người Nghi Lộc khó nghe, nên khi giao tiếp với người vùng khác dễ bị hiểu lầm.
Thời bao cấp, có ông Nghi Lộc ra Hà Nội chơi. Một hôm, ông ăn mặc rất chỉnh tề đi vào Cửa hàng bách hóa. Trước quầy, ông gặp một người bạn cùng quê, vồ vập hỏi han nhau rõ to: " Mi ra khi mô. Ra mân chi ", " Tau ra bưa qua. Ra nhơi nha o tau". Mọi người xung quanh lắc đầu không hiểu họ nói gì. Tiếp đó, ông hỏi cô mậu dịch viên : " O ban cho tui cây chac điu " ( Cô bán cho tôi cái giây cao su ). Cô mậu dịch viên nghe không hiểu gì, lại tưởng ông là người nước ngoài, bèn lịch sự nói : " Thưa ông, tôi không biết tiếng Nhật ạ".
Hồi đánh Mỹ, có ông người Nghi Lộc làm cán bộ của Nông trường Quyết Thắng ở Vĩnh Linh ( Quảng Trị ) thích ăn trứng vịt lộn. Nhưng rất ngại dùng tiếng Nghi Lộc để hỏi mua, sợ bị hiểu lầm, ông buộc từ tốn nói trệch : " Cô bán cho tôi mấy quả trứng vịt ấp dở".
Tương truyền, ông Hoàng Đan khi làm Sư đoàn trưởng, các Trung đoàn trưởng trong Sư đoàn phải chọn một Trợ lý là người Nghi Lộc để làm phiên dịch. Nếu không, dễ bị hiểu sai khi nhận nhiệm vụ, phát sinh rắc rối.
Nhiều người đặt câu hỏi: Tại sao Nghi Lộc là một huyện nhỏ, nghèo, vậy mà, qua mấy cuộc chiến tranh, lại là huyện có nhiều Tướng vào loại nhất nước Việt. Cách tiếp cận và giải thích nguyên nhân khá phong phú theo từng góc nhìn : do thế đất, do truyền thống, do phong thủy, do văn hóa, v, v... Nghe ra, đều có lý cả. Nhưng, có một cách giải thích nguyên nhân là do tiếng nói. Lập luận khá chặt chẽ, logic. Này nhé, người Nghi Lộc làm chỉ huy ở mọi cấp tính cách thường nóng nảy, quyết liệt. Khi lâm trận, giữa lúc chiến trường mịt mù bom đạn, tình huống xẩy ra bất ngờ chóng vánh, cán bộ cấp dưới ( quê ở vùng khác ) xin ý kiến chỉ huy là người Nghi Lộc. Nghe xong, chỉ huy nói, cấp dưới không hiểu gì, hỏi lại thì sợ bị quát. Thế là, cấp dưới vâng đại cho xong. Còn xử lý tình huống thế nào thì tự giải quyết hợp lý theo điều kiện cụ thể và khả năng của mình. Kết cục, nếu trận đánh giành thắng lợi giòn dã, ông chỉ huy hể hả : " Hăn đanh đung như tau noi". Ngược lại, trận đánh thua, ông quát : " Thua la vì, tau noi một đăng, hăn làm môt neo". Khẩu thiệt vô bằng. Có ai ghi âm lời ông khi lâm trận để phân xử đúng sai. Cứ thế, cứ thế... Trong mọi trường hợp, cấp trên bao giờ cũng đúng! Hic. Việc này, người viết tếu táo cho vui. Đó không phải là sự thật! Hihi
Đặc sản quê nhà :

TIẾNG NGHI LỘC

( Tiếp theo )

Chí sĩ yêu nước Hoàng Phan Thái ( 1829 -1883), quê ở làng Cổ Đan, huyện Nghi Lộc. Ông là người thông minh, khoa bảng - đi thi đỗ đầu xứ, nên người đời vẫn gọi là Đầu xứ Thái - Giỏi văn thơ, yêu nước, bị Triều đình Huế giết hại. Hiện, ở thành phố Vinh có một con đường mang tên ông.
Chuyện xưa kể rằng : Trước lúc bị hành quyết, Đầu xứ Thái ngẩng cao đầu, dõng dạc khẩu chiến một bài thơ đầy khí phách cốt cách hào hiệp:

" Ba hồi trống dục đù cha kiếp 
Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời 
Sống làm tướng mạnh ba phương đất 
Thác xuống thần thiêng bốn phương trời
Thằng nào chém tớ chém cho đứt 
Có lấy tiền công, tớ trả sau ".

Huỳnh Phan Thái có câu đối vui bằng chữ Hán :
" Đình tiền chỉ kiến trường đăng khách ;
Lộ thượng nan phùng tạp nguyệt nhân "
( Nghĩa là :"Trước đình chỉ thấy khách dài đèn / Trên đường khó gặp người lộn trăng ". Cái hay, cái vui của câu đối ở chỗ: Phải dịch sang tiếng Việt và đọc bằng ngữ điệu Nghi Lộc - các từ đều không có dấu: Trươc đinh chi thây khach dai đen ; Trên đương kho găp ngươi lôn trăng ) Hic
Đặc sản quê nhà :

TIẾNG NGHI LỘC

GS - TS Hoàng Hoa và Nhà thơ Phương Hà đã có những lý giải về tiếng Nghi Lộc thật hay, khá thuyết phục. 
Trong đời quân ngũ, tôi đã từng " bị " Đại tướng Võ Nguyên Giáp trêu mấy lần khi tôi được hầu chuyện Cụ. Đến như Bác Hồ cũng đùa trêu tiếng Nghi Lộc. Sự thể là : Làng Đại Xá quê tôi có ông Lê Văn Nhương là cần vụ Bác Hồ từ đầu kháng chiến chống Pháp cho đến tận ngày Bac từ trần. Ông được Bác Hồ đổi tên là Cần - Lê Văn Cần - đứng đầu số người phục vụ Bác : CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH. Nghe nói, Bác Hồ thường nhờ ông khi đo may quần áo. Vì số đo của ông Cần gần khít với số đo của Bác Hồ - chiều cao cũng 1, 67 m. Sinh thời, có lần ông Cần nói rằng, Bác Hồ thích ăn cà pháo Nghi Lộc. Mỗi khi về phép, ông Cần đều mang cà ra làm quà biếu Bác. Có bữa ngồi ăn, Bác Hồ vừa gắp quả cà vừa hỏi: " Này chú Cần, đây là cà có cuống hay cà có đuôi? ". Ông Cần vui vẻ thưa lại bằng nguyên bản tiếng Nghi Lộc: " Da, đây la ca có cuông a !". Hai Bác cháu cùng cười vui.
Tướng Hoàng Đan nổi tiếng về tài năng, chiến công và thêm nữa ... nổi tiếng bằng tiếng Nghi Lộc. Trong tất cả những câu chuyện kể về Tướng Hoàng Đan, theo tôi, sẽ hay hơn nhiều nếu người kể dùng tiếng Nghi Lộc - Một đăc sản không dễ gì có được! Mấy chục năm trước, khi tôi chiến đấu ở chiến trường, đã nghe mấy anh cán bộ cấp Trung đoàn, Sư đoàn nói rằng: Khi các ông ấy học ở Trường Trung cao Quân sự ( Nay là Học viện Quốc phòng), thì ông Hoàng Đan là giáo viên chiến thuật rồi làm Trưởng ban Khoa học quân sự của Trường. Khi trên bục giảng về chiến thuật, chiến dịch của quân đội Mỹ, ông Đan nói: " Cac đông chi a! Thăng Mậy ở miên Nam tô chưc phong ngư không thanh tuyên, ma là phong ngư theo cư điêm và cum cư điêm ". Nhiều người nghe không hiểu gì, phải nhờ mấy ông học viên là người Nghi Lộc phiên dịch sang tiếng phổ thông. 
Sau Giải phóng miền Nam, đang là Phó Tư lệnh Quân đoàn 2, ông Hoàng Đan được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp ( ông Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Giám đốc Học viện). 
Ông Quốc Thước kể, năm 1976, lớp học đầu tiên của Học viện mở cho các cán bộ Trung, Cao cấp ở các chiến trường về học. Ông Thước là người cùng quê Nghi Lộc, hồi nhỏ là bạn học ở Trường huyện. Có lần, ông Hoàng Đan nói với ông Quốc Thước : " Nay, Thươc ơi! Vê đây tau mơi thây ngược đơi : Ai lại, thăng nhat đi day thăng gan, thăng dôt đi day thăng gioi, thăng chưa đanh hoăc đanh it dạy cho thăng đanh nhiêu. Ma cha quân nơ. Biêt cây chi ma noi".
Có lần , ông Đặng Vũ Hiệp nói với tôi: Sau 1975, đang là Chính ủy Quân đoàn 3, tớ được triệu tập về học ở Học viện. Mấy hôm đầu, Hoàng Đan lên giảng bài, quát lung tung. Nhiều học viên là cán bộ cấp Trung đoàn, Sư đoàn ngồi dãy phía trước cảm thấy khó chịu, nói với bọn tớ: " Ông Đan cậy thế giỏi, đánh giặc nhiều, coi bọn đàn em không ra gì. Đề nghị hôm sau các thủ trưởng cấp Quân đoàn, Quân khu ngồi lên phía trên để cho ông ấy bớt kiêu đi ". Hôm sau, bọn tớ là loại cùng trang lứa, ngang ngửa chiến tích với Hoàng Đan - thậm chí có người là cấp trên Hoàng Đan nữa - rủ nhau ngồi lên dãy phía trước. Thế là, giờ lên lớp Hoàng Đan nói "mềm" hơn. Các cậu học viên trẻ mừng lắm". 
Ông Hoàng Đan là thế! Chỉ phục người giỏi hơn hoặc bằng mình. 
Nhiều người là học viên hoặc cấp dưới trực tiếp của ông Đan đã khái quát tổng kết là: " Với ông Hoàng Đan, điều kiện để phát huy khả năng sở trường chỉ huy là: Quân đông, Tăng lắm, Pháo nhiều ! Ông không quen đánh nhỏ ". Chẳng thế mà, năm 1984, khi được Bộ giao chỉ huy đánh quân địch ở Bình độ 400 sát biên giới phía Bắc, lúc phổ biến nhiệm vụ cho cấp dưới ông Đan nói: " Tô cha thăng Tau! Chung ta se dung pháo binh băn thât nhiêu, trut vao đo cho lơ ru ra. Xem bon hăn co chiu đươc không?! "
( Còn tiếp )

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

CẢM XÚC
                          Thu Thi

Phố phường choàng nắng đỏ
Giữa chiều Hè lung linh
Giật mình thoáng bóng quen 
Tự nhủ lòng: im lặng.

Ký ức thời dĩ vãng
Trở về con đường xưa 
Bóng hình ấy điểm tô
Một trang đời xao xuyến...

Dẫu thời gian có trôi
Trải phận đời chìm nổi
Gieo mãi bài trốn tìm
Để lòng thêm bối rối.

Ta muốn hòa nhịp tim
Giữa muôn vàn nhung nhớ
Trong tiếng lòng than thở
Ôm trọn cả nỗi niềm !
Đặc sản quê nhà : Tiếng Nghi Lộc

KINH NGHIỆM PHÒNG 
TRÁNH MÁY BAY MỸ

Có lần, trong một cuộc vui, Đại tá Nguyễn Đường Dần, nguyên Trưởng phòng Chính sách Quân khu 4 kể với chúng tôi : Tương truyền, vào khoảng năm 1966, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ diễn ra ở vùng Khu 4 vô cùng ác liệt. Là huyện ven biển sát thành phố Vinh, nằm trên trục giao thông chi viện Bắc - Nam, huyện Nghi Lộc là một trong những trọng điểm đánh phá của máy bay và tàu chiến Mỹ.
Thực hiện chủ trương phòng không nhân dân, một hôm UBHC huyện Nghi Lộc mời đại diện các bô lão của các xã đến để quán triệt tình hình, phổ biến kinh nghiệm .
Khi các cụ tề tựu đông đủ tại Hội trường, ông V S H cán bộ chủ trì của huyện lên bục phổ biến quán triệt. Ông giữ nguyên chất giọng tiếng Nghi Lộc - nghĩa là tất cả các từ đều không có dấu.
Bằng khẩu khí rõ ràng, chắc nịch, hùng hồn và truyền cảm, ông nói:
“ Kinh thưa cac cu ! Thăng phi công Mậy bay tit tân trên trơi cao. Cac cu ơ dươi đât. Khi đo, nêu cac cu bo chay, hăn tương la con cho chay. Con cho chay, hăn cụng băn. Vi chinh sach cua Đê quôc Mậy la 3 sach : giêt sach, pha sach, đôt sach. Nêu cac cu năm yên tai chô, không đông đây, hăn tương đo la nhưng bai cưt tru. Trôc đen thì hăn tương cưt tru mơi é. Trôc nưa đen nưa trăng là cưt tru mau lôm đôm do mơi phơi mây năng. Trôc bac trăng, hăn tương cưt tru é lâu, khô hăn rôi. Nhưng noi chung, cưt tru thì hăn không băn, vi sơ tôn đạn. Tóm lại, các cụ nhơ cho răng : Khi co may bay Mậy, thi các cụ ơ đâu năm đo thật yên… Hêt ạ!”.
Quán triệt xong, các cụ ra về, hể hả khen ông cán bộ phổ biến kinh nghiệm hay, rất chính xác, cụ thể . Hihi
( Chú thích : Từ sau nghe chuyện này, khi anh Nguyễn Đường Dần còn sống, tôi thường vui vẻ thân tình gọi anh ấy với biệt danh là “ cưt tru “. Thậm chí, có lúc giữa chốn đông người, tôi cũng buột miệng gọi thế. Có lần, anh Phạm Hồng Minh, thắc mắc nói với mấy anh em, không biết tại sao ông Nguyễn Mạnh Đẩu gọi ông Nguyễn Đường Dần như vậy… Đôi khi vui chuyện, cô Nguyễn Thị Tiến - em ruột anh Dần hiện đang định cư ở SG - tự nhận mình là “Embaicưttru”. Nhiều người không hiểu, cứ tưởng là Cô ấy đặt tên bằng tiếng Tây cho oai. Hic ! ).
LỜI CON TRẺ





Nguyễn Phúc Hưng ( tức Nghé ) sinh ngày 30-10-2006. Trên là ảnh Cố ( Cụ ) nội. Tiếp đến phía dưới: ảnh chụp với ông nội lúc sinh nhật Nghé tròn 1 tuổi và ảnh đại diện trên facebook của Nghé - Chẳng biết chụp và lập facebook từ bao giờ. 
Trong nhà, ai cũng nói, Nghé có nhiều nét rất giống Cố ( Cụ ) nội - cả ngoại hình lẫn tính cách. Sinh thời, Cố nội yêu quí Nghé lắm.
Hiện, Nghé là "sinh viên" năm thứ 4 Trường Tiểu học Nghĩa Tân - Hà Nội.
Nghé thuộc loại ăn tốt, ngủ tốt nên chóng lớn. Đến nỗi, mẹ Kim Thoa phải "phanh" khẩu phần ăn của Nghé. Mỗi lần Nghé ăn cơm bên ông bà nội, đều bị mẹ Nghé phê bình: Ông chiều cháu cho ăn nhiều quá, dễ béo phì. Bởi thế, lực học của Nghé không bằng anh Quang Minh ( Bim ) của Nghé.
Nhớ lần, Nghé mới vào học năm thứ nhất, một hôm, Nghé về nhà ông bà nội chơi. Giữa buổi trưa, hai ông cháu gác chân lên nhau nằm trò chuyện trên giường...
Bỗng Nghé trầm trọng nghiêm giọng :
- Ông ơi! Bây giờ con mới biết. Hóa ra, ông nội cùng quê Nghệ An với con, nhỉ!
Tiếp đó, Nghé tủm tỉm, nói:
- Này ông, con tính rồi, ông hơn con nhiều thứ. Nhưng ông thua con một thứ đấy!
Ông nội đang nghệt ra chưa hiểu gì, Nghé giải thích luôn:
- Này nhé, Ông nội sinh năm 1948. Con sinh năm 2006. Vậy, số năm sinh của con lớn hơn số năm sinh của ông là 58. Đúng không nào?
Ông nội phì cười, cha bố mày!
Cuối cùng, Nghé hỏi, ông ơi, thừa kế là gì?
Nghe ông nội giải thích, mặt Nghé đượm buồn, phụng phịu:
- Thế thì con chẳng thích thừa kế đâu. Vì đến khi con được hưởng thừa kế, tức là khi ông bà nội không còn nữa!
Ông nội !!!

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

CHƠI CÙNG BẠN TRẺ 

N M Đ

Thuở nhỏ, ở quê, tôi có nhiều bạn. Lũ chúng tôi cùng trang lứa, chơi với nhau hồn nhiên, vô tư, thỏa thích. Hồi đó, có nhiều trò chơi nhưng tựu trung lại thích hơn cả là: đá bóng, đánh khăng và đánh trận giả.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

36 giai thoại về Nguyễn Công Trứ

  •   HUYỀN LI  ( BIÊN SOẠn )
  • theo : VHNA giảm kích thước chữ 
Lời người biên soạn: Về Nguyễn Công Trứ có rất nhiều giai thoại. Trong số 81 câu chuyện vừa kịp sưu tầm trong dịp này, chúng tôi xin chọn lọc biên soạn lại để đưa vào tập sách 36 giai thoại tiêu biểu, với mong muốn dựng lên một chân dung Nguyễn Công Trứ qua cái nhìn “dân gian” - từ góc độ khác với những lí giải, nghiên cứu hàn lâm - của hậu thế về con người của cụ Thượng Uy Viễn.


1. NGÔNG NGAY TỪ LÚC CHÀO ĐỜI…
              CHO ĐẾN TẬN KHI CHẾT!
Ngày mồng Một tháng Mười một năm Mậu Tuất (1778), tại tư gia của viên quan Tri huyện Quỳnh Côi, Thái Bình, bà huyện họ Nguyễn, sau cuộc vượt cạn kinh hoàng đã sinh hạ được một cậu con trai thân dài, trán rộng, mũi cao.