Menu ngang

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

    VÀI GIAI THOẠI TƯỚNG HOÀNG ĐAN

Ngày 11/9/2015, trong một bữa tiệc vui giữa nhiều người bạn đồng hương, GS - TS Hoàng Hoa ( con trai ông Hoàng Khuê, anh ruột ông Hoàng Đan), Nhà thơ Phương Hà và mấy anh em CCB có đề nghị tôi kể về Thiếu tướng, Anh hùng Hoàng Đan - một con người nổi tiếng về chiến công, tài năng và cũng khá nhiều giai thoại.


Ông Hoàng Đan quê Nghi Thuận ( Nghi Lộc - Nghệ An), hậu duệ của Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn - một danh tướng thời Trần.
Là người cùng huyện, nhưng suốt cả đời binh nghiệp, tôi không may mắn được làm cấp dưới trực tiếp của ông. Tuy nhiên, là đồng hương tôi rất kính phục chiến công và ngưỡng mộ tài năng của ông. Những giai thoại về ông, có cái tôi chứng kiến, còn lại phần nhiều nghe qua sự lưu truyền không thành văn trong làng quân ngũ. Nhiều lớp cán bộ Quân đội coi ông là mẫu chỉ huy quân sự trí dũng song toàn.

Ông là vị tướng chiến trận, kinh qua nhiều cương vị chỉ huy, lập nhiều chiến công. Đồng thời, ông là một nhà lý luận quân sự xuất sắc của Việt Nam đương đại, với những công trình nghiên cứu có tính học thuật cao.

Ông được tặng thưởng nhiều Huân chương. Đặc biệt, năm 2014 ông được Nhà nước truy tặng Danh hiệu Anh hùng LLVTND. Trước đó, năm 2013, tên ông được đặt cho một con đường ở Thị xã Cửa Lò - đúng vào ngày giỗ ông lần thứ 10.

Giai thoại về ông thì nhiều và được nhiều người biết đến.

Chuyện kể rằng, vào năm 1950, khi mới 22 tuổi, ông làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 418 chủ công của Trung đoàn 57 Đại đoàn 304. Lúc đó anh trai ông là ông Hoàng Khuê làm Đại đội trưởng thuộc quyền. Trong một trận đánh phục kích, ông phân công đại đội ông Khuê làm nhiệm vụ khóa đuôi đội hình quân địch. Trận đánh giành thắng lợi không trọn vẹn, vì đơn vị khóa đuôi xuất kích chậm, để một bộ phận quân địch chạy thoát. Khi ra quyết chiến điểm, trước hàng quân, giữa bãi chiến trường còn mịt mù khói đạn, ông Đan đứng dẫm chân tức tối quát ông Khuê: " Anh đánh giặc như con c... , như cái ẻ. Ông quát thật to, chất giọng gay gắt chình chịch nguyên bản Nghi Lộc, làm mọi người phì cười. Ông Khuê lặng ngắt không dám thanh minh.

Năm 1970, khi ông làm Sư trưởng Sư đoàn 304, chiến đấu ở Trị Thiên. Có lần, ông dẫn đoàn cán bộ đi địa hình để bố trí lực lượng, thế trận. Khi qua một cánh rừng, ông bảo dừng lại để tau đi đái cái. Tiếp đến, vượt qua dãy núi, ông bảo dừng lại, chờ tau đi ẻ cái. Rồi cả đoàn tiếp tục đi. Khi đến một con suối, ông bảo, tau xuống tắm cái đã. Mấy ngày sau về vị trí tập kết họp giao nhiệm vụ cho các đơn vị, ông tuyên bố: Tôi yêu cầu bố trí E 24 xung quanh chỗ tôi đi đái. E 66 chỗ tôi đi ỉa. Còn E 9 là chỗ tôi tắm. Mọi người nhận nhiệm vụ hiểu ngay và khi đưa bộ đội vào bố trí lực lượng chính xác theo ý đồ chiến thuật của Sư đoàn. Theo ông, ngày đó trình độ đọc bản đồ và xác định trên thực địa của cán bộ chưa thạo. Nếu giao nhiệm vụ trên tọa độ bản đồ có khi sai lêch.

Năm 1974, ông là Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 304 và Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 vây đánh Thượng Đức ( Quảng Nam ). Phi pháo địch rất ác liệt. Để tránh phi pháo, ông yêu cầu các đơn vị cho bộ đội làm hầm chữ A. Có người chưa tin về độ chắc chắn của hầm chữ A. Thấy vậy, ông cho Công binh làm một cái hầm mẫu. Xong rồi ông chui xuống, yêu cầu cối, pháo của ta bắn thử vào đó xem sao. Cối pháo bắn có quả trúng nắp hầm. Mọi người lo lắng. Khói tan, ông chui từ dưới hầm lên vừa cười vừa nói, thấy chưa, có hề hấn gì đâu.

Ngoài đời, ông hay bị " kết tội "về quan hệ trai gái. Thật cũng oan cho ông! Thuở đó, xã hội và quân đội đều khắt khe quá mức. Thực ra, biết đâu, số lượng quan hệ của ông đã hơn người khác. Chẳng qua ông là người công khai đàng hoàng, rõ ràng thành thật. Ông không dấu mình như những " đồng chí chưa bị lộ". Xưa nay vẫn vậy. Thông minh, tài giỏi và khỏe mạnh như ông, thì khả năng sinh lý dồi dào là sự đồng bộ trong cơ thể một con người. Và có thể có người vì lòng đố kỵ, mà thêu dệt, thổi phồng, tăng thêm khuyết điểm của ông, Thêm nữa, là người có tài, chắc chắn trong nhiều trường hợp, ông bị phụ nữ chủ động tấn công. Tướng quân Nguyễn Công Trứ xưa có câu thơ thật hay, thật đúng : " Gái thuyên quyên ứ hự, khách anh hùng biết mần răng ". 
Nghe kể, có lần giao ban BTTM, ông Hoàng Đan là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1 về dự. Hôm đó, sau khi kết thúc, ông Lê Trọng Tấn nói, anh Đan ơi! tôi thông cảm với anh nên đã dặn anh Đàm Quang Trung ít nhất một tuần một lần bố trí cho anh về Hà Nội gặp chị ấy. Nghe xong, ông Đan đứng dậy nói, báo cáo Đại tướng, thật khó quá, khi cần không có, khi có lại không cần, biết mần răng. Ông Đan nói đậm đặc tiếng Nghi Lộc. Mọi người dự giao ban được một mẻ cười.
 Sinh thời, ông Chu Huy Mân kể với tôi: Ông Hoàng Đan là một tướng tài, dũng cảm, lập nhiều chiến công. Hiềm một nỗi... Nghe nhiều người phản ảnh việc này, bác cho gọi lên nhắc nhở. Sau khi góp ý thẳng thắn, bác chân thành nói: Ông Đan ơi! Tôi góp ý với ông trên ba phương diện: người anh lớn tuổi, là đồng hương, lại là cấp trên. Từ nay ông đừng thế nữa nhé. Nghe xong, ông Đan nói, xin hứa với anh, từ nay tôi thôi không thế nữa! Độ một tháng sau, ông Đặng Vũ Hiệp nói với ông Mân: Anh ạ, hôm nọ Hoàng Đan gặp tôi, hắn nói: Này Hiệp, tao nói mi chuyện này, hôm nọ cụ Mân gọi tao lên cảnh báo. Tao có hứa, nhưng hứa cho hay. Với tao, tao không nhịn được đâu. Hihi. Ông Mân bắt chước tiếng Nghi Lộc khi kể chuyện này với tôi. Và ông phì cười, cháu tính, ai cũng vậy thôi, cái gì thuộc về bản năng là khó sửa lắm! Các cụ xưa đã dạy : Giang sơn dị đảo, bản tính nan di.

Năm 1984, cán bộ trung, cao cấp các cơ quan Bộ Quốc phòng nghiên cứu quán triệt NQ 04 / TW 5 về xác định kẻ thù mới. Trên bục, Báo cáo viên đang say sưa trình bày âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù là bành trướng, nước lớn, bá quyền,...Đang ngồi giữa Hội trường, ông Hoàng Đan đứng phắt dậy nói: Những điều đồng chí giảng giải là đúng, nhưng chưa đủ. Tôi đề nghị bổ sung thêm: Chúng nó là chủ nghĩa xỏ lá. Cả Hội trường nghe xong, cười vang tán thưởng.

Cuối năm 1994, khi tôi đang ở Cục Chính sách TCCT, ông Đan là Cục trưởng Cục Khoa học quân sự BTTM. Có lần ông sang phòng làm việc của tôi. Hai anh em bù khú nói chuyện từ lúc 2 giờ chiều đến 6 giờ tối. Mãi tới khi công vụ và lái xe lên nhắc, nhìn ra ngoài trời đã tối, phố xá đã lên đèn, mới chia tay. Chuyện thì nhiều, đông tây, kim cổ, trên trời dưới bể. Có một chuyện làm tôi nhớ mãi: Ông hỏi, Đẩu này ! Khi tau chết có được vào Mai Dịch không? Tôi trả lời, theo quy định hiện hành, vào Mai Dịch phải là Trung tướng trở lên. Còn Thiếu tướng phải là Lão thành CM và có Huân chương Độc lập hạng Nhất. Như anh là chưa đủ tiêu chuẩn. Nghe xong, ông trừng mắt, xẵng giọng, chính sách bọn bay như cứt. Tau đi đánh giặc từ khi dái bằng hạt kê - như mi là chưa đẻ - suốt một đời chinh chiến, đến cái Huân chương Độc lập hạng Nhất cũng không cho. Tau mà xuống được Mai Dịch, tau sẽ chất vấn mấy lão ấy xem trả lời thế nào. Thôi, quẹt vào. Tau sẽ dặn con cái, khi tau chết đưa tau về quê cho mát mẻ, không phải cãi nhau thằng nào !
Năm 2013, nhân được mời về dự Lễ gắn tên ông vào một con đường ở Thị xã Cửa Lò, đồng thời Giỗ ông lần thứ 10, tôi đã đến viếng mộ ông. Giữa buổi trưa mùa Đông, trời se lạnh, trước lăng mộ ông, tôi đã thầm niệm:" Anh Đan ơi! Vậy là anh đã làm như anh đã nói. Kính lạy anh - một con người em kính trọng! "
Giai thoại về Tướng Hoàng Đan chắc còn nhiều hơn. Mong rằng, ai biết xin góp thêm.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

LẠC ĐƯỜNG, 
ĐẾN CỬA WC CÔNG CỘNG ĐỢI

Hôm rồi, tôi cùng ông Quốc Thước và ông Lê Doãn Hợp về quê. Dọc đường xa, chúng tôi chuyện trò sôi nổi. Với tôi, chuyến đi này, thu nhận được nhiều điều hay, nhiều thông tin bổ ích ...
Nhân tôi nói lại đôi điều về chuyến du ngoạn 4 nước Tây Âu vừa mới về, ông Quốc Thước kể: Đầu những năm 1980, ông cùng các tướng Đoàn Khuê, Nguyễn Chơn, ... được cử đi học lớp cao cấp chiến lược quân sự ( VAC ) tại Liên Xô. Ông Đoàn Khuê làm Lớp trưởng. 
Hồi mới sang, ngày nghỉ mấy ông rủ nhau đi tham quan thành phố Mạc Tư Khoa. Cảnh đẹp, lạ, vui chân, các ông dạo quanh phố phường. Đến khi điểm quân, nhìn lại không thấy ông Nguyễn Chơn đâu. Quay lại tìm chẳng thấy, nghĩ là ông ấy bỏ về trước. 
Về nơi ở, cũng không thấy ông Nguyễn Chơn. Nghe kể lại, ông Đoàn Khuê lo lắng, bắt các ông cùng đi chơi phải quay lại tìm bằng được.
Thế rồi, các ông đi tìm khắp mấy khu phố. Điều ái ngại nhất là: Ông Quốc Thước và vài ông nữa, tuy không biết tiếng Nga, nhưng có thể giao tiếp thông thường bằng tiếng Pháp. Vốn tiếng Pháp có được từ khi là hoc trò ngồi trên ghế nhà trường hồi Pháp thuôc, trước năm 1945. Riêng ông Nguyễn Chơn không hề biết tiếng Pháp. Bởi, thuở nhỏ nhà nghèo, ông không được đi học, lớn lên đi đánh giặc mút mùa lệ thủy, mấy chục năm trời - hết kháng Pháp rồi sang đánh Mỹ. Với ông, muộn mằn cả chuyện lấy vợ, huống chi là học hành. 

Các ông lo lắng tỏa ra các ngõ ngách đi tìm rất lâu...
May quá, khi đến WC công cộng, thì thấy ông Nguyễn Chơn ngồi trước cửa.
Mừng quá hỏi, sao ngồi đây? Ông Nguyễn Chơn thủng thẳng trả lời: Khi mất hút các ông, lạc giữa phố phường xa lạ, không biết tiếng để hỏi thăm đường, mình nghĩ tìm đến nhà vệ sinh công cộng ngồi đợi có người Việt đến đó để nhờ chỉ đường. Bởi vì, mình nghiệm ra: Người Tây ít đi tiểu. Chỉ có nười Việt ta là hay đái vặt. Thế nào cũng gặp. Và thấy không, các ông cũng phải vào đây để giải quyết nhu cầu.
Mọi người cười vui, khen ông Nguyễn Chơn thông minh xử lý tình huống sáng suốt, chính xác, kịp thời!
Câu chuyện trên có thể giúp cho những người khi đi ra nước ngoài mà không biết ngoại ngữ. Kinh nghiệm chỉ ra rằng: Người cao tuổi, khó học ngoại ngữ. Trong nhiều trường hợp, " nói bằng tay " là chưa đủ diễn tả các nhu cầu. Hic!
Tối 13/9/2015, anh Nguyễn Đăng Hiền đưa bài này. Thấy bổ ích, tôi đăng lên để mọi người cùng ngẫm suy, chia sẻ.

40 CÂU THÀNH NGỮ THỜI HIỆN ĐẠI, 
DO MỘT CỤ GIÀ Ở THÁI NGUYÊN ĐÚC KẾT

1 – Dạy con trẻ vạn lời hay, không bằng nửa ngày làm gương, làm mẫu.
2 – Cha mẹ chỉ biết cho, chẳng biết đòi. Con cái biết vòi mà không biết trả.
3 – Dâu rể tốt cha mẹ được đề cao. Con cái hỗn hào đứt mười khúc ruột.
4 – Cha mẹ dạy điều hay kêu lắm lời, bước chân vào đời ngớ nga ngớ ngẩn.
5 – Cha nỡ coi khinh, mẹ dám coi thường. Bước chân ra đường không trộm, thì cướp.
6 – Cha mẹ ngồi đấy không hỏi không han. Bước vào cơ quan cúi chào thủ trưởng.
7 – Con trai chào trăm câu, không bằng nàng dâu một lời thăm hỏi.
8 – Khôn không cãi người già, dại chửi nhau với trẻ.
9 – Gọi cha: ông khốt; gọi mẹ: bà bô. Ăn nói hồ đồ là người vô học.
10 – Mỗi cây mỗi hoa, đừng trách mẹ cha già nghèo tiền, ít của.
11 -  Cái gì cũng cho con tất cả, coi chừng ra mả mà cười.
12 – Đồng tiền trên nghĩa, trên tình. Mái ấm gia đình trở thành mái lạnh.
13 – Gian nhà, vạt đất, mất cả anh em. Mái ấm bỗng nhiên trở thành mái nóng.
14 – Bố mẹ không có của ăn, của để, con rể khinh luôn.
15 – Coi khinh bên ngoại, chớ mong có rể hiền.
16 – Ăn ở mất cả họ, chớ mong có nàng dâu thảo.
17 – Rể quí bố vợ vì có nhà mặt phố. Con trai thương bố vì có có chức quyền.
18 – Đi với Bụt mặc áo cà sa, quen sống bê tha thân tàn ma dại.
19 – Ngồi bên bia rượu hàng giờ, dễ hơn đợi chờ một giây đèn đỏ.
20 – Củi mục khó đun, chồng cùn sống bậy, con cái mất dạy - phí cả một đời.
21 – Hay thì ở, dở ra tòa, chia của, chia nhà, con vào xóm “ bụi “.
22 – Ngồi với thiên hạ muôn việc khoe hay, cha mẹ ốm bảy ngày không lời thăm hỏi.
23 – Đi với bạn đường, chân không biết mỏi. Còn có mẹ cha sao không thăm hỏi.
24 – Nói gần nói xa, đùng biến mẹ già thành người ở.
25 – Bài hát Tây Tàu hát hay mọi nhẽ. Lời ru của mẹ chẳng thuộc câu nào.
26- Con trai, con rể bỉ tỉ say mềm. Nàng dâu ngồi yên. Mẹ già rửa bát.
27 – Khỏe mạnh cha mẹ ở với con. Đau ốm gầy còm, tùy nghi di tản.
28 – Thắt lưng buộc bụng nhịn đói nuôi con. Dâu rể vuông tròn. Cuối đời khốn khó.
29 – Cha mẹ chết mồ mả chưa yên, anh em xô nhau chia tiền phúng viếng.
30 – Khấn Phật, cầu Trời lễ bái khắp nơi, nhưng quên ngày giỗ Tổ.
31 – Vào quán thịt cầy, trăm ngàn coi nhẹ. Góp Giỗ cha mẹ suy tính từng đồng.
32 – Chăm cha, nuôi mẹ thì không. Cả vợ lẫn chồng, thi làm từ thiện.
33 -  Một miếng ngọt bùi biếu mẹ cha khi còn sống, còn hơn 10 mâm cao cỗ đầy báo hiếu khi đã qua đời.
34 – Cha mẹ sống thơm bát canh rau, còn hơn mai sau xây mồ to, mả đẹp.
35 - Ở đời bất thiện, bởi tại nhàn cư. Con cháu mới hư, đừng cho là hỏng.
36 – Bạn bè tri kỷ nói thẳng, nói ngay. Con cháu chưa hay đừng chê đồ bỏ.
37 – Bảy mươi còn học bảy mốt. Mới nhảy vài bước, chớ vội khoe tài.
38 – Phong bì trao trước, bia bọt uống sau. Dâu rể ngồi đâu, đố ai mà biết.
39 – Tiếp thị vào nhà bẻm mép. Cẩn thận cảnh giác, đôi dép không còn.
40 – Cầu thủ thế giới tên chi chi, thoáng nhìn TV đọc như cháo chảy. Ông bà ngồi đấy, thử hỏi tên gì ?
  BẠN HỌC, BẠN LÍNH, … 
    VÀ BẠN CHĂN BÒ
                                                              N M Đ

            Chiều 10/9/2015, tại khách sạn Mường Thanh ( Vinh - Nghệ An ), anh em cựu chiến binh chúng tôi gồm các ông: Nguyễn Quốc Thước, Lê Doãn Hợp, Lê Minh Khuê, Trần Văn Thân, … hàn huyên đàm đạo chung vui chúc mừng Đại tá, Nhà báo Đặng Thọ Truật ( quê ở xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ) vừa được Chủ tịch nước trao tặng Danh hiệu Anh hùng LLVTND, vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ.
          Trong cảm xúc chân tình, cô Nguyễn Thị Châu, vợ anh Truật, cựu giáo viên Trường cấp 3 Nghi Lộc ( từ năm 1975 đến năm 1988 ) nói: “ Các anh ạ, là vợ lính lại là giáo viên, em nghiệm ra rằng, ở trên đời có 2 tình bạn thật gắn bó: bạn học và bạn lính”. Nghe xong, tôi chia sẻ : “ Tôi nhất trí với cô. Nhưng theo tôi là chưa thật đủ. Tôi xin bổ sung: “ Trong cuộc đời, có 3 tình bạn chung thủy, keo sơn : bạn học, bạn lính,… và bạn chăn bò”.
             Sáng hôm sau, câu nói đó được cô Châu nhắc lại trên bục khi nói lời cám ơn trước đông đủ quan khách, bạn hữu và hàng ngàn học sinh Trường THPT Nguyễn Duy Trinh trong Buổi gặp mặt chúc mừng anh Đặng Thọ Truật. 
             Ở đời, trong quan hệ xã hội, con người ta gắn bó với nhau bằng tình bạn. Có câu danh ngôn : “ Chỉ cần biết bạn của anh ( chị ) là ai, tự khắc biết anh ( chị ) là người thế nào” . Theo lứa tuổi, nghề nghiệp, vị thế, tính cách và cả “ gu” văn hóa nữa, hình thành nhiều loại tình bạn trên nhiều phương diện, lĩnh vực: bạn xóm giềng, bạn làm ăn, bạn chơi,… Nhưng có thể nói, bạn học, bạn lính và bạn chăn bò là ba loại tình bạn vô tư, hồn nhiên, trong sáng và thủy chung nhất.
            Bạn học cùng sẻ chia ngọt bùi đắng chát, giúp đỡ nhau trong học tập. Không chỉ là học, mà trong chơi cũng vậy. Bạn học cũng nhiều trò chơi thông minh mà ngộ nghĩnh. Ông cha ta từ xưa đã có câu : “ Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” . 
              Bạn lính thì cùng chung ác liệt hy sinh, đồng cam cộng khổ, cùng chia lửa một thời trận mạc. Sẵn sàng cưu mang, che chở, cứu nhau trong nhiều trường hợp hiểm nguy - Còn thiêng liêng hơn anh em ruột thịt. Khó diễn tả hết sự lớn lao, cao đẹp của tình bạn lính - nhất là trong chiến tranh.
             Còn bạn chăn bò…? Điều này, nếu hỏi con cháu chúng ta sinh ra ở thành phố, chắc chắn chúng chỉ lắc đầu, đâu có biết. Con người ta, bất cứ ai, có trải nghiệm mới có chất liệu cuộc sống. Thiếu niên sinh ra trên mọi miền quê nước Việt, nói chung, đều trải qua một đoạn đời là trẻ chăn bò ( trâu ). Buổi sáng cắp sách tới trường. Chăn bò thường vào buổi chiều. Vui lắm. Hứng thú lắm. Giữa mênh mông những cánh đồng sau mùa thu hoạch hay giữa bãi cỏ xanh, trên mênh mang các triền sông, hồ, kênh rạch, bờ đập,…dưới nắng hanh vàng, đám trẻ chăn bò quần tụ với bao trò chơi không biết chán : đá bóng, đánh khăng, đánh đáo, kéo co, vật hoặc đánh trận giả… Đám trẻ chơi quên hết thời gian, mãi đến khi mặt trời gác núi, mới lũ lượt dắt bò ra về. Có nhiều lần leo lên núi hái sim. Giữa trưa hè được thường thức những chum quả sim chín mọng, căng tròn, ngọt lịm.
            Tình nghĩa bạn chăn bò mộc mạc đơn sơ mà ấm áp. Mấy củ khoai, vài bắp ngô, một túi lạc luộc,… xin cha mẹ mang ra đồng đãi bạn bè. Rồi cùng nhau bắt cá, mò cua nướng lên, chấm muối, ăn tại chỗ. Bạn chăn bò có thể nhường nhau cái khăn quàng khi trời trở lạnh. Và cái áo tơi đa năng : che nắng, che mưa, trải nằm và chống rét. Nếu nhỡ có con bò sà vào ruộng ăn cây khoai, ngọn lúa, không may bị người lớn bắt dắt đi, đòi chuộc phạt, thì cùng nhau chụm đầu bàn mưu, lập kế giải thoát bò tựa như giải thoát con tin trong phim hành động. Xem phim, thấy người ta phi ngựa giữa thảo nguyên, thì về cùng nhau tổ chức thi “ phi bò “, “ phi trâu “, trên cánh đồng giữa tiếng reo hò vang dội. Thú thực, dẫu là phi bò, phi trâu, nhưng vẫn lâng lâng cảm giác mạnh. Mỗi cuộc chơi đều phân định thắng thua rõ ràng, sòng phẳng. Sau  cuộc thi có giải thưởng đàng hoàng. Nhỏ thôi, vài bắp ngô luộc, dăm quả ổi, ... chưa chín hẳn. Không có gì thì một chầu “ tầm quất “ cũng xong. Đứa nào đọc được tiểu thuyết hay - nhất là các bộ Tam quốc chí , Tây du ký, Thủy Hử, Đông Chu liệt quốc hoặc các chuyện kiếm hiệp, võ lâm truyền kỳ, thì kể lại cho cả nhóm cùng nghe. Đứa chưa biết thì há hốc mồm như nuốt lấy từng lời. Đứa kể thì say sưa như người dẫn chuyện. Nhờ cách kể chuyện này mà luyện trí nhớ, tập cách diễn đạt trước đám đông. Biết đâu, tài hùng biện của các thuyết khách, các nhà tuyên huấn, được nhen nhóm hình thành từ đây - từ những lần kể chuyện giữa đám chăn bò.
            Có điều, trong mắt người đời đừng bao giờ coi thường trẻ chăn bò. Điều đặc biệt là, trong lịch sử của ta và Tàu có hai vị Hoàng đế mở đầu triều đại lại xuất thân là trẻ chăn bò. Ở Tàu có Chu Nguyên Chương ( tức Minh Thái Tổ, trị vì từ năm 1368 đến năm 1398 - là vị Hoàng đế khai quốc của Vương triều nhà Minh ) thuở nhỏ nhà nghèo, xuất thân từng là trẻ giữ dê, chăn bò. Ở ta có Đinh Bộ Lĩnh ( vị Hoàng đế sáng lập nhà Đinh - người đã dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, lập nên nhà nước Đại Cồ Việt, chấp dứt 1000 năm Bắc thuộc), thuở nhỏ từng chỉ huy các bạn chăn trâu lấy bông lau làm cờ bày trận đánh nhau. Và trong đám bạn chăn trâu đó, có Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ và Trịnh Tú sau này là những tướng quân tài giỏi của Đinh Bộ Lĩnh. Và, cổ kim đông tây, có biết bao danh nhân thuở hàn vi niên thiếu là trẻ chăn bò.
             Mỗi lần về quê, bên bàn nước, trong câu chuyện với bạn bè cùng trang lứa, thường kể chuyện chăn bò thuở thiếu thời. Với tôi, thuở đó, còn được đám mục đồng tôn làm “thủ lĩnh” trong các cuộc chơi. Mãi đến bây giờ nhiều người còn nhắc. Chúng tôi luôn coi đó là những kỷ niệm đẹp. Bạn chăn bò thuở xưa bây giờ mỗi người một cảnh. Theo thời gian và số phận đời người, có ông là kỹ sư, bác sĩ, sĩ quan, nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nhân, niều ông là cựu chiến binh một thời trận mạc, một số ông nghỉ hưu làm thêm nghề thợ rèn, thợ nề, thợ mộc, lái xe ôm để kiếm thêm đồng tiền đi chợ. Còn lại, phần đông là lão nông tri điền, đầu bạc, răng long, mắt mờ, gối mỏi. Và đều đã U 70, thời gian cuộc đời đã in nếp hằn sâu ngang dọc trên từng gương mặt.
            Mỗi người một phận, nhưng mỗi khi gặp nhau đều chan hòa, chân tình, trong sáng vô tư, hồn nhiên, thủy chung trong vòng tay ấm áp tình cảm: Bạn chăn bò !

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

DÂN CÁ … GỖ

Chẳng dấu chi em
Anh là dân cá gỗ
Củ khoai hà cho chó, chó không ăn
Nhút Thanh Chương và tương Nam Đàn
Quả cà Nghệ, ba đời con khát nước
Ngọn gió Lào áo quần rách mướp
Mẹ lẩy Kiều ru anh ngủ thâu trưa
Dân “quê choa” không phải dân vừa
Đói thì đói, chưa bao giờ thiếu chữ
Không quỳ gối trước cường quyền đao phủ
Có chém đầu cũng đứng thẳng đọc thơ
Cái tính gàn Đồ Nghệ ngày xưa
Em thông cảm. Từ từ anh sẽ sửa.
Nếu ông Trời xe duyên hai đứa
Em có về tắm nước sông Lam?
Con sông xanh một thuở anh kéo thuyền
Toạc vai áo theo vầng trăng lội ngược
Anh đưa em về đình Võ Liệt
Mở trang vàng bia đá danh nhân
Quả trám chua mẹ kho cá lá gừng
Ăn một bận suốt đời không quên được
Lớp trẻ quê anh bây giờ hơn trước
Toan tính làm giàu chẳng chịu thua ai
Sang tận Đông Âu mua đất bán trời
Thống lĩnh thương trường .
Làm Vương làm Soái
Mánh buôn lậu vô cùng hiện đại
Biết cách đánh hàng quá cảnh như chơi
Xứ quạt mo lắm tật nhiều tài
Em yên chí. Họ thương người đáo để
Bao kẻ sĩ lừng danh Xứ Nghệ
Gái Hà Thành chịu cắp nón đi theo
Anh sinh ra trên mảnh đất nghèo
Không sợ khổ. Sống đời giản dị
Nếu mai này em làm dâu Xứ Nghệ
Sẽ quen dần tiếng “ trọ trẹ " quê anh
Có giận ai quyết không để bụng mình
Tính bộc trực. Nhiều người ưa nói thẳng.
Nói xong rồi cõi lòng thanh thản
Gặp lại cười, gần gũi thân hơn
Bố mẹ anh chân chất nhu hiền
Quí con dâu hơn là con đẻ.
Gái Bắc Kỳ nói năng nhỏ nhẹ
Khéo chiều lòng…
Ai mà chẳng thương em.

                                   VĂN THANH


THỜI GIAN - CUỘC ĐỜI
                                            N M Đ
Tự bao giờ đến bao giờ
Thời gian không khởi đầu và đâu kết thúc
Chỉ có loài người đặt ra từng cột mốc
Để tính vắn dài
so sánh chuyện trước sau.
Dẫu ai đi đâu về đâu
Thời gian là thước đo chung tất cả
Sống ở trên đời biết bao điều trả giá
Mà thời gian – chỉ có thời gian!
Thời gian là thước đo của mọi công trình
Phán xử đúng sai nghiệt ngã
Là kẻ thù của sự già nua
Níu kéo cùng lịch sử.
Thời gian ngừng trôi trước phút đợi chờ
Là tốc hành trong những giờ yên ả
Thời gian tô hồng đôi má
Nhuộm bạc mái đầu
Có sao đâu!
Tạo hóa vốn công minh là thế
Ai trẻ cũng sẽ già - Mà ai già chưa qua trẻ!
Thời gian giúp mọi lỗi lầm hối cải
Giúp cái dại khờ từng nếm trải đi lên
Giúp con người nhận rõ nhau thêm
Thao thức - đêm dài
Ngày miệt mài - trôi nhanh quá
Mọi sự hững hờ phải trả
Thời gian chẳng đợi chờ ai…
Thời gian là ngọc, là vàng
Không! Nó là cuộc đời ta đó
Một gạch nối thôi
biết bao điều ẩn chứa…
Chẳng có sự đối đầu muôn thuở
Không có cái xấu vĩnh hằng
Chỉ có TÌNH NGƯỜI sống mãi với thời gian
Ngoảnh mặt với thời gian
Là ngoảnh mặt với chính cuộc đời ta đó!

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

CHÈ CHÁT HƯƠNG QUÊ…

( Thơ tiếng Nghệ – cho người Nghệ)
Ả Huệ ,cu Đường, hoe Bảy ơi…
Chè xanh trên rú, bứt rành tươi,
Đem ỏm vô bình , nóng bỏng lại .
Bàn ghế rinh ra để trửa cươi!
Mời ả mời anh qua uống nác
Điếu đóm bên ni đạ sặn sàng...
Bật lả của tui ga hấn hết…
Thuốc lào bác cụng nhớ đưa sang….!
Rọng bừa chưa nạ ,khi mô cấy?
Vưng,lạc, độ xanh…được mấy lô?
Mùa ni nhà mự mần năng nấy?
Nắng ri, phơi ló chắc mau khô ….!
Tru của thằng tê ăn dưới hói,
Trụt chạc chạy vô, chận troạng nương !
Hấn mà nỏ sửa….cho ăn mói…
Cà cưởng với tui…., cức muốn dơng …
Gấy con nhà bác ra răng hậy… ?
Nhà nớ du ngoa chưởi…mụ gia
Thằng nhôông chộ rứa…cho hai vả…
Cha tổ cha cha….hấn ả nà !
Ôông mụ tê tề…vưa đập chắc
Chắt nớ vô Nam ,để gấy rồi…
Con dượng chi chi …rành lớp tớp…
A rứa bỏ truông …khái hấn lôi!
Nắng nôi ra rứa ngài rành nhọoc !
Cơm ceenh mà hại, nót cò vô…
Bổ cấy toạc chưn khi gánh ló…
Trốc cúi, ắc lè…sót lộ mô !
Con nớ vơ trời, ngong rành sọi ?
Nỏ biết nhà ai đạ bỏ trù… ?
Thằng cháu ả hoe rành hợp chắc
Nậy rồi, cứ hỏi hấn mần du… !
Con o chắt ở khu công nghiệp
Côông lắm tóm ngài, lưa nạm xương !
Lại thêm cấy bệnh hay đau trôốc …
Nhủ nghỉ …va còn tiếc trự lương !
Về quê một chắc,khi mô đó… ?
Túi xuông mà nhởi ở nhà choa
Ga ,vịt trong truồng lưa bảy ổ…
Sặn nhút ,lộc thơm,rượu của nhà !
Chú ở ngoài tê, gưn có chộ
Các bác trung ương họp nói chi… ?
Bàn răng vận cứ bầy tui khổ…
Nhật , Hàn…Mỵ , Úc …sướng ra …ri !
Ngong cảnh ti vi… thương đứt rọt…
Đánh bom, khủng bố nỏ trừa ai,
Ác chi ác lạ quân…IS
Tắn độc ,quỷ ma khác giống ngài… !
Ngay mốt mự đi cho bác gưởi
Có lượng hành tăm, chục trớng ga…
Kèm thêm mấy cổ gầng, chanh lá…
Trong nớ mần chi sặn như ta… !
Bên đọi nác chè xanh sóng sánh
Nửa đúa khoai lang, địa mói vừng
Lạc loọc một tô , dăm mánh bánh…
Ta, Tây, làng, xóm…chuyện vòng quanh !
                                            NGƯỜI NĂM CŨ
****************************

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

                   THU
                                                K V

Ngọn gió nào đi qua mùa Thu cũng thành gió biếc
Một cơn mưa tháng Bảy về bất chợt
Đi qua mùa Thu thành tâm sự muôn đời
Chức Nữ Ngưu Lang xưa có mùa Thu để ước nguyện trao lời
Và mỗi người có mùa Thu để tìm về lối nhớ…
Mùa Thu sinh anh từ nắng vàng rực rỡ
Mùa Thu sinh em từ gió mát dịu êm
Mùa Thu dệt nên bản tình khúc êm đềm
Ru hồn ta bằng lời yêu tha thiết…

Thu say đắm, Thu nồng nàn da diết
Trời xanh trong như thể đến không cùng!