Menu ngang

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

Phiếm đàm

Chết thật, sao giống nhau đến vậy?

Dân trí Chết thật, sao lại có thể giống nhau đến vậy nhỉ? Vĩnh Phúc bỏ nhiều tỉ đồng xây Văn miếu sắp xong mà không biết thờ ai? Nay Hà Tĩnh lại cũng bỏ nhiều tỉ đồng xây Văn miếu sắp xong mà không biết thờ ai? thật không thể tin nổi!


Minh họa: Ngọc Diệp
Minh họa: Ngọc Diệp
Thế là cuộc họp ở cơ quan bị muộn, chỉ vì sắp đến giờ họp thì bạn tôi đang ngồi ôm smartphone lướt mạng, bỗng kêu lên:
- Mới đây, tin mới đây! có một công trình Văn Miếu tiền nhiều tỉ xây sắp xong rồi mà địa phương vẫn chưa biết là xây là để thờ ai.
Mọi người cười ồ:
- Mới gì đâu, ôm smartphone lướt mạng mà chuyện cũ rích, ồn ào từ nhiều tháng trước rồi, ai chả biết là Vĩnh Phúc bỏ ra 300 tỷ xây một cái văn miếu với quy mô vô cùng hoành tráng. Nghi môn bằng gỗ có hoa văn rồng phượng, nhà bia tổng 3 tầng mái bằng gỗ cùng bia đá đặt trên lưng rùa. Hồ Thiên Quang lan can bằng đá khối chạm trổ văn hoa sen cách điệu, cùng với 2 nhà bia tả - hữu gồm 9 gian, mái gỗ đặt bia đá trên lưng rùa bằng đá. Đại thành ôn gồm 3 gian bằng gỗ trang trí theo lối “cá chép vượt vũ môn”, gác chuông, gác trống; sân hành lễ rộng gần 3.000m và đền thờ chính (bao gồm đại bái, hậu cung)... thế mà xây sắp xong rồi còn vẫn chưa biết nên đưa vị nào vào thờ, quả thật buồn cười. Một công lớn như vậy,  thời phong kiến, vua muốn xây dựng phải đưa ra bàn bạc với các quan đại thần, rồi từ đó mới tính đến chuyện tiền bạc thế nào, chứ không phải cứ hứng lên là xây cái đã,  rồi sau thích đưa một vị nào đó vào thờ thì đưa đâu.
Bạn tôi lườm:
- Ai đâu mất thì giờ nói chuyện cũ làm gì, mà là đang nói về chuyện mới tinh khôi đây: Tỉnh Hà Tĩnh xây dựng một Văn miếu trên khu đất cánh đồng Đông Lỗ, phường Thạch Linh của thành phố, với diện tích 1,67 hecta. Tổng mức đầu tư khoảng 80 tỷ đồng. Và cũng giống hệt như ở Vĩnh Phúc, ông Trưởng ban quản lý công trình xây dựng cơ bản TP Hà Tĩnh cho biết: “ Công trình xây dựng này thờ ai thì chưa biết. Thờ Khổng Tử thì không phải, thờ ai, thờ cái gì, thờ như thế nào? Đề tài này đang chờ rất nhiều cuộc hội thảo dài dài…”.
Mọi người mắt chữ A mồm chữ O:
- Chết thật, sao lại có thể giống nhau đến vậy nhỉ? Vĩnh Phúc bỏ nhiều tỉ đồng xây Văn miếu sắp xong mà không biết thờ ai? Nay Hà Tĩnh lại cũng bỏ nhiều tỉ đồng xây Văn miếu sắp xong mà không biết thờ ai? thật không thể tin nổi!
Một vị bảo:
- Đã gọi là miếu thì không thể không thờ ai, hay là thờ luôn mấy ông cán bộ tỉnh đã đề xuất xây
Lập tức mọi người nhao nhao để xuất:
- Thờ cái ông ký quyết định cho xây ấy!
- Thờ thần Rose, thần hoa hồng phần trăm ấy!
- Cái này chắc để thờ ...tiền
Nghe vậy, một vị thắc mắc:
- Tiền ở đâu mà Hà Tĩnh dù là một tỉnh nghèo, họ vẫn bạo tay xây dựng kiểu như vậy nhỉ?
Và được ông chủ trì hội nghị cơ quan giải thích:
- Không biết à, Hà Tĩnh mấy năm gần đây tận thu ngân sách vào hạng “bậc nhất” cả nước, hơn Nghệ An, Thanh hóa, Hải Phòng và nghe đâu còn ngấp nghé Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.... Theo điều tra của báo Nông nghiệp Việt Nam, riêng năm 2014 cả 23 xã trong huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh đã thu của nông dân các loại phí ngoài "quy định" Nhà nước lên tới 23.867.622.000 đồng. Vì vậy 80 tỷ xây Văn miếu đã nhằm nhò gì mà phải 'lăn tăn". Chỉ cần 4 huyện trong tỉnh thu các loại phí ngoài "quy định" như vậy đã thừa tiền để xây một cái Văn miếu.
Rồi ông ta kết luận:
- Thờ ai trong Văn miếu không quan trọng, thờ cái gì cũng không quan trọng, quan trọng là có cái để xây, để tiêu vài chục đến vài trăm tỉ là mấy ông hai tỉnh trên đã hoàn thành nhiệm vụ một cách vẻ vang rồi. Sẽ lại sắp có một cơn mưa giấy khen, bằng khen về thành tích này cho mà xem, he.he...
Nguyễn Đoàn
            ÔNG THANH THẢN VỀ CÕI VĨNH HẰNG
              ( Viết nhân Giỗ 100 ngày ông Nguyễn Đăng Cẩn, 2 - 8 - 2015)

                                                                                           N M Đ



         Vẫn biết rằng, sẽ đến một ngày, gia đình, bà con họ hàng, thân hữu gần xa phải đón nhận một cái tin đau buồn đến thắt lòng là ông đã ra đi -  đi về cõi vĩnh hằng.
         Vẫn biết “sinh - lão - bệnh - tử” là quy luật muôn đời không thể khác được, nhưng mọi người vẫn muốn từ “bệnh” đến “tử” đối với ông được kéo dài thêm hơn nữa.
         Cuối cùng thì điều lo lắng nhất của gia đình, người thân, họ hàng về ông đã xẩy ra.  6 giờ 30 sáng ngày 25/4/ 2015, Đại tá Nguyễn Đăng Giáp trong tiếng nghẹn ngào đứt quãng, điện báo hung tin cho tôi :“ Anh ơi! Bố em vừa mất lúc 6 giờ 15 sáng nay…”. Dẫu biết rằng, hơn một năm nay, ông bị lâm trọng bệnh khó qua khỏi, nhưng khi nghe tin, tôi vẫn bàng hoàng xúc động!
Mấy tháng trước, khi còn điều trị ở Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, một hôm sức khỏe ông suy sụp cạn kiệt, Đại tá Nguyễn Đăng Giáp gọi cho tôi trong tiếng nấc nghẹn thảng thốt : “ Anh ơi! Bố em nguy kịch lắm rồi, chắc khó qua khỏi… Với tình cảm, sự hiểu biết về ông của anh, gia đình tin tưởng đề nghị anh soạn thảo Điếu văn… Và, khi ông qua đời, Lễ tang sẽ tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia, đề nghị anh với tư cách là Trưởng ban Liên lạc đồng hương huyện Nghi Lộc đọc Lời điếu”. Tôi xúc động trả lời : “ Tôi chia sẻ và nhất trí với chú. Đề nghị chú chuyển sớm cho tôi bản lý lịch của ông”. Tiếp đó, tôi vào bệnh viện thăm ông. Nhìn ông nằm trên giường thân hình gầy xọp, mắt trũng sâu nhắm nghiền, đang thở dốc, chúng tôi lo lắng vô cùng.
Tôi quan niệm: Điếu văn là bản tuyên dương công trạng, đạo đức, tài năng trong toàn bộ cuộc đời của người đã khuất. Đồng thời, qua đó, bày tỏ tình cảm của gia đình và mọi người thân đối với họ. Đọc kỹ bản lý lịch của ông Nguyễn Đăng Cẩn, cầm bút soạn thảo Điếu văn, tôi rưng rưng nghĩ về ông. Tâm trí tôi hiện  lên chân dung sự nghiệp, nhân cách, công đức, tư đức của một con người rất đáng tôn kính.  
Ông hơn tôi mười bốn tuổi, hơn hẳn một thế hệ, là bậc chú. Cùng quê huyện Nghi Lộc, từ xã tôi lên xã ông chừng bốn cây số. Tôi gặp ông lần đầu tiên cách đây tròn 15 năm. Đó là một trưa Hè trời chang chang nắng, gió Lào hầm hập thổi. Những hàng cây phi lao, những lũy tre làng Đông Chử chao mình xào xạc trong cái khô khốc bỏng rát của nắng, của gió. Ông tiếp tôi trên chiếc chõng tre bóng láng kê trước hiên nhà với ấm nước chè xanh đậm chát, ngát hương. Ngày đó, ông còn khỏe, dáng người cao rắn rỏi, da dẻ hồng hào, hai vành tai to, cặp mắt đen luôn nhìn thẳng, tiếng nói khúc chiết, đĩnh đạc, vang ấm, đậm chất giọng miền Trung và âm sắc ngôn từ Nghi Lộc. Những năm sau này, tôi còn gặp ông nhiều lần trên các công trình do Tổng công ty 36 thi công: Khi thì khởi công đập thủy điện Khe Bố ở miền tây Nghệ An; khi thì khánh thành Tượng đài Liệt sĩ ở Gio Linh ( Quảng Trị ) và nhiều nơi khác nữa. Ở các buổi Lễ khởi công hay khánh thành các công trình xây dựng rất hoành tráng của Tổng công ty 36, sự hiện diện của ông chan hòa trong sự đón chào trân trọng của mọi người từ các vị quan khách, tướng lĩnh, đến bộ đội, công nhân, nhân dân địa phương. Ngày 29 tháng 10 năm Quý Tỵ (2013), tôi gặp ông trong Lễ khánh thành Tháp chuông và Lầu bia tại nhà thờ Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí - đó là hai công trình do các con trai ông cung tiến. Hôm đó, Hội đồng gia tộc đại tôn và đông đảo bà con các chi phái dòng họ Nguyễn Đình chúng tôi về dự Lễ đều dành cho ông tình cảm kính quí, thân tình.
Còn nhớ lần ông ốm nặng điều trị tại Trung tâm công nghệ cao Viện Quân y 108, tôi cùng các ông: Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, Giáo sư Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Kế Bằng  vào thăm. Dẫu đang mệt lắm, ông vẫn gắng gượng nói lời cám ơn bà con đồng hương đến thăm. Khi mọi người ân cần hỏi thăm, trong hơi thở nông, ông nở nụ cười hiền hậu với tiếng nói đứt đoạn: “ Không sao đâu các ông ạ… Con người ta khi đã qua 70 tuổi là có thể “đi” được rồi… Chưa đi chẳng qua là do nấn ná, lừng khừng hoặc đùn đẩy nhau mà thôi.. Tôi năm nay vừa chẵn 80, nếu có ra đi, không có gì là lạ…”. Vậy đấy! Đến cả lúc lâm trọng bệnh, thập tử nhất sinh, ông vẫn trong tâm thế tỉnh táo, chủ động, lạc quan nhìn nhận mọi sự việc một cách bình thản mà đượm chất trào lộng. Nhớ lần Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến thăm ông tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội - hôm đó có ông Nguyễn Quốc Thước, ông Nguyễn Đức Hinh, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội và tôi cùng dự - dẫu bệnh tình nặng, sức rất yếu, vậy mà ông vẫn tỉnh táo, minh mẫn nói lời cám ơn Chủ tịch nước đã bớt chút thời gian đến thăm mình.
Sinh ra trong một gia đình nông dân gia giáo, căn cơ, nền nếp; lớn lên ở một miền quê nghèo khó, có truyền thống hiếu học, cương cường và yêu nước; đến tuổi trưởng thành, người thanh niên tràn đầy nhiệt huyết Nguyễn Đăng Cẩn được đắm mình trong không khí sục sôi của Cách mạng Tháng Tám 1945. Như bao học sinh nông thôn cùng trang lứa, anh đã ngày đêm hăm hở tham gia mọi phong trào rầm rộ của quê hương.
Đầu năm 1952, đang học ở trường huyện Nghi Lộc, nhận thấy gia cảnh quá khó khăn vất vả, anh Nguyễn Đăng Cẩn đã tự nguyện thôi học về nhà tham gia việc đồng áng, đỡ đần cha mẹ. Là người có học, lại hăng hái nhiệt tình, nhiều năm liền anh Nguyễn Đăng Cẩn được lãnh đạo và nhân dân địa phương tin tưởng giao cho đảm trách cương vị: Trưởng thôn kiêm Bí thư xã đoàn. Chính trên cương vị đó, trong Cải cách ruộng đất, chứng kiến cảnh tượng nhiều gia đình bị qui sai vong gia bại sản; bằng nhãn quan chính trị, trách nhiệm và tấm lòng nhân nghĩa của mình, người Trưởng thôn 21 tuổi Nguyễn Đăng Cẩn đã kiên trì thuyết phục, kiên quyết đấu tranh, dũng cảm sẵn sàng đối phó với sự qui chụp cực đoan tả khuynh của mấy “ông đội” (nhất đội, nhì trời), nên đã cứu giúp được nhiều gia đình thoát nạn hiểm nguy. Xưa có câu: “ Dù xây chín bậc phù đồ / Không bằng làm phúc cứu cho một người” (Nói nôm na là cứu một mạng người hơn xây một tòa tháp chín tầng). Cứu một mạng người đã là quí, mà ông còn cứu được nhiều người thoát nạn. Việc làm của ông là một nghĩa cử cao đẹp, hữu ích, rất đáng trân trọng. Theo tôi, sự kiện đó, đến nay sau nửa thế kỷ nhìn lại, càng khâm phục việc làm cao quí của ông Nguyễn Đăng Cẩn - người thanh niên đã có tầm nhìn vượt thời gian. Thử hỏi, thuở đó, trước bối cảnh như vậy, mấy người làm được như ông! Trưởng thôn trẻ tuổi Nguyễn Đăng Cẩn làm được điều đó đâu phải do học được ở một trường lớp, sách vở  nào - Đó chính là hành động bắt nguồn từ sự rung động của trái tim nhân hậu, sự mách bảo của lòng nhân ái.
Tôi được biết, vào năm 1970 có một trường hợp: Kế toán trưởng Hợp tác xã nông nghiệp Nghi Công có dấu hiệu tham ô lớn. Lãnh đạo huyện đã cử 20 đoàn với đủ thành phần lần lượt đến kiểm tra và đã kết luận, chuẩn bị khởi tố. Nghi can đã chấp nhận tội. Thế nhưng đến đoàn thứ 21 với sự tham gia ông Nguyễn Đăng Cẩn thay mặt Phòng Nông nghiệp huyện. Khi trực tiếp tiếp xúc với nghi can, ông Cẩn cặn kẽ hỏi, thì được trả lời: “ Ông tính, trong năm 1968, cùng lúc tôi nhận giấy báo tử hai người con trai hy sinh ở chiến trường Miền Nam. Nỗi đau đột ngột dữ dội đến cùng cực, tâm trí quay cuồng hoảng loạn, không thể nhớ nổi điều gì. Vì vậy, mọi kết luận của các đoàn kiểm tra, tôi đành chấp nhận cho xong chuyện”. Nghe xong, ông Cẩn đề nghị kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ sổ sách. Thấy vậy, có anh cán bộ công an cùng tham gia Đoàn nói với ông Cẩn: “Thật lạ cho bác. Các đoàn trước đã kết luận và đương sự cũng đã nhận tội. Vậy bác đòi làm lại để làm gì ?”. Ông Cẩn nói: “ Dâm có tang, gian có tích. Không thể dựa vào mấy lời khai trong lúc người ta đang đau khổ để luận tội được. Mọi người thử đặt mình vào hoàn cảnh đó xem sao?”. May có ông Đờn quê ở Nghi Xuân đại diện Ngân hàng trong Đoàn kiểm tra nhận lời đối chiếu lại sổ sách của Ngân hàng. Cuối cùng kết quả kiểm tra kết luận: Ông kế toán trưởng không có dấu hiệu tham ô.
Ông là người thông minh, hiểu biết sâu sắc. Dù không danh hiệu, bằng cấp, chức tước to tát trong xã hội; cũng không có những sự tích phi thường, những điều kỳ diệu trong cuộc đời, ông là một cán bộ bình dị như hàng triệu người Việt Nam cùng thế hệ. Nhưng, bằng sự tiếp thụ văn hóa từ truyền thống quê hương, nền nếp  gia phong, gia giáo của gia đình và sự trải nghiệm, tôi luyện, hun đúc trong trường đời qua các thời kỳ lịch sử, đã hình thành nên ở ông một nếp nghĩ, một lẽ sống thật cao quí. Trong đời sống, ông là người không cả tin mù quáng trước mọi vấn đề. Sự nhận thức của ông bắt nguồn từ việc tìm hiểu kỹ càng, chắc chắn của chính mình. Ông đại nghi trước khi đại ngộ - Nghĩa là, ông đặt ra hàng loạt câu hỏi trước các sự kiện hiện tượng, phải có sự lý giải đầy sức thuyết phục, thì mới đi đến sự khẳng định trong nhận thức. Ở ông Nguyễn Đăng Cẩn do hoàn cảnh lịch sử không có điều kiện học tập nhiều tại trường. Nhưng trải qua thực tiễn hoạt động phong phú, sôi động trong trường đời, đã đào luyện cho ông một nhân cách đẹp và một sự hiểu biết phong phú, sâu sắc. Trên cơ sở đó, ông đã có nhiều cống hiến trên các cương vị:  giáo viên phổ thông, rồi Chánh văn phòng Ủy ban huyện và nhiều năm là cán bộ nông nghiệp huyện Nghi Lộc.
Ông là người khảng khái, cương nghị. Đó là đặc trưng căn bản, nổi trội trong tính cách thường trực hiện hữu ở ông. Bất kỳ ai tiếp xúc với ông, dù chỉ một  lần, đều có thể nhận ra điều đó. Trong mọi cuộc tranh luận, ông không bao giờ phân biệt đẳng cấp, mà chỉ xoay quanh trục vấn đề: thật - giả, đúng - sai, tốt - xấu. Trong cuộc sống, trước các mâu thuẫn va đập, diễn biến phức tạp, ông luôn có chính kiến rõ ràng, đàng hoàng, câu trả lời đĩnh đạc dứt khoát, không bao giờ vòng vo, lập lờ, nước đôi. Cùng với tính cách khảng khái, cương trực, ông còn có tài ứng biến khái quát nhanh về mọi vấn đề. Ý thức khái quát thường trực trong ông đã giúp ông vượt lên trên hiện thực bề bộn, làm chủ được tình cảnh - cả bề mặt xã hội và bề sâu con người. Sự khảng khái, cương nghị, thẳng thắn của ông đã truyền sang các con trai - đặc biệt con trai cả Nguyễn Đăng Giáp là người mang gien trội của ông.
Gia đình là đơn vị cơ bản, là nền tảng xã hội, là cái nôi ươm mọi con người và từ đó mở rộng ra quê hương, đất nước. Xuất thân trong một gia đình nông dân nho giáo, ông Nguyễn Đăng Cẩn luôn thể hiện cốt cách gia giáo, hành xử theo chính danh. Ông là người con tận lòng hiếu thảo với cha mẹ trong mọi hoàn cảnh; là người chồng sắt son tình nghĩa suốt cuộc đời đắng chát, ngọt bùi; là người cha nhân từ, tình cảm mà nghiêm khắc nuôi dưỡng, giáo dục tám người con trai trong những năm tháng bộn bề gian khó. May mắn hạnh phúc đời ông là có bà Nguyễn Thị Sinh - người vợ thông minh, hiền thục, tần tảo, đảm đang; người phụ nữ chịu thương chịu khó và có trái tim nhân hậu. Thật là: Phúc đức tại mẫu.
          
          Gốc rễ bền sinh cành rợp bóng, nguồn rộng sâu tạo dòng chảy không ngừng.Phải  khẳng định rằng, công đức lớn nhất của ông bà cống hiến cho đất nước, cho xã hội là đã sinh thành dưỡng dục nên những người con thành đạt. Trong đó, có người thứ ba đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, còn lại bảy người là các sĩ quan QĐNDVN đồng thời là các doanh nhân xuất sắc rên thương trường không ít cam go - mà tiêu biểu nhất là người con cả: Đại tá AHLĐ Nguyễn Đăng Giáp. Trên vùng đất Nghi Lộc và cũng có thể nói trong một không gian rộng lớn hơn, hiếm có một gia đình được như thế. Cổ nhân có câu :“Hậu phúc khán tử tôn”, có nghĩa là nhìn vào sự phương trưởng của con cháu, thì biết được phúc đức về sau của một con người. Rõ ràng, gia đình ông Nguyễn Đăng Cẩn là một gia đình đại phúc. Điều đó ứng với lời tiên đoán cũng là lời nguyện ước của Cố nội ông là Cụ Nguyễn Đăng Thanh thuở xưa khi dựng nhà thờ họ Nguyễn Đăng đã  khắc lên hoành phi treo chính giữa nhà: “ Phúc Lai Thành”.
Có người nói rằng: Trên thực tế, nói chung là, có tập thể Anh hùng rồi mới có cá nhân Anh hùng. Nhưng ở đây thì ngược lại: Có Anh hùng Nguyễn Đăng Giáp rồi mới có Tổng công ty 36 Anh hùng. Điều đó là hoàn toàn đúng. Và tôi xin được nói thêm: Có người cha với cốt cách trung kiên mẫu mực Nguyễn Đăng Cẩn mới có người con Anh hùng  Nguyễn Đăng Giáp. Đó là kết quả tất yếu bắt nguồn từ công sinh thành cùng với công dưỡng dục. Theo luật nhân quả, có người cha như thế ắt sẽ có những người con như thế.
Trong sự sống của loài người có ba điều bất hủ: Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn. Tôi cho rằng, điều đó không chỉ dành cho các bậc danh nhân mà có thể áp dụng cho mọi người theo những cấp độ khác nhau. Trong cuộc đời mình, ông Nguyễn Đăng Cẩn đã làm được nhiều điều nhân đức, có công tích trên các cương vị và ông cũng đã lập ngôn. Cuốn hồi ký Cuộc đời và nhân chứng của ông với ngồn ngộn sự kiện nhân chứng, chan chứa biết bao tình sâu, nghĩa nặng, nỗi niềm thẳm sâu được chắt ra từ trái tim, khối óc của ông, kết tinh thành những lời tâm tình nhắn nhủ sâu sắc của ông đối với con cháu. Đó đích thực là một trong những điều lập ngôn quí báu của ông Nguyễn Đăng Cẩn để lại cho đời.
           Suốt cuộc đời, ông Nguyễn Đăng Cẩn là một người thông minh, luôn luôn độc lập trong suy nghĩ, sáng tạo quyết đoán trong hành động. Trên mọi cương vị, ông đều để lại dấu ấn là một đảng viên kiên trung, một cán bộ mẫu mực. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông đều giữ vững bản lĩnh, niềm tin, kiên định mục tiêu lý tưởng đã chọn. Trong công tác cũng như trong cuộc sống đời thường, mọi người đều cảm nhận từ ông toát lên trọn vẹn những nét đặc trưng trong cốt cách trung tín, khảng khái, cương nghị, sâu nặng nghĩa tình.

        Theo quan niệm từ ngàn xưa của người Việt : “ Cái quan định luận”, nghĩa là khi quan tài đã đậy nắp, thì sự đánh giá của người đời đối với người đã khuất mới thật sự đầy đủ, chính xác. Qui mô hoành tráng, chan chứa tình người, sự chu toàn, trang trọng trong tất cả các khâu, sự tề tựu đến kính viếng, truy điệu, đưa tang ở Hà Nội và ở Nghệ An của hàng nghìn người đủ mọi thành phần từ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội, các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị, xã hội, các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp, nhà trường,…cùng đông đảo bà con họ hàng nội ngoại, thân bằng cố quyến, bạn hữu gần xa tự nguyện nườm nượp đến dự Lễ tang. Tất cả điều đó, như một thước đo, đã nói lên vị thế, uy tín của ông Nguyễn Đăng Cẩn và tầm ảnh hưởng của các con ông. Chứng kiến từ đầu đến cuối Lễ tang ở cả hai nơi ( Hà Nội, Nghệ An ), tôi thực sự cảm kích. Dù có tính trước, nhưng thật sự chẳng ai lường hết được qui mô bề thế của Lễ tang và tình cảm của mọi người dành cho ông và gia đình. Lễ tang ông có hàng nghìn vòng hoa và bức trướng kính viếng.
Với cương vị Trưởng ban liên lạc Hội đồng hương huyện Nghi Lộc ở Hà Nội, tôi được phân công đọc Điếu văn trong Lễ truy điệu ông tại Nhà Tang lễ Quốc gia. Tôi coi đây vừa là trách nhiệm vừa là vinh dự mà mọi người ủy thác. Trước đó, tôi dự định sẽ mặc bộ comple màu đen thật lịch sự. Nhưng nhiều người đề nghị tôi mang lễ phục cấp Tướng. Trong không khí trang nghiêm, thành kính tiến hành Lễ tang  người Cha của: một Liệt sĩ, một Đại tá AHLĐ, cùng 6 Sĩ quan QĐNDVN. Đến dự Lễ tang còn có lãnh đạo nhiều bộ ngành, rất nhiều tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, lãnh đạo các cơ quan, đoàn thể, địa phương, đông đảo quân nhân  cùng gia đình, họ hàng thân hữu - Do đó, việc người đọc Điếu văn mặc Lễ phục cũng là phải đạo, hợp lý, hợp tình.
Đúng 5 giờ chiều ngày 27 / 4 / 2015, xe chở linh cựu ông bắt đầu lăn bánh rời khỏi Nhà tang lễ số 5 Trần Nhân Tông. Xe dẫn đường mang Biển số 80 B. Đoàn xe gần trăm chiếc nối tiếp nhau đưa tiễn ông về an nghỉ cùng Tổ tiên ở quê nhà làng Đông Chử ( Nghi Lộc, Nghệ An ). Đoàn xe tang dài hàng cây số, đi trong đêm, tuyệt đối an toàn trên chặng đường tròn 300 cây số. Trên đường đều dừng lại thắp hương khi đến địa đầu các tỉnh và khi qua các cây cầu lớn. Đến hơn 11 giờ đêm, linh cựu ông về đến nhà trong sự chờ đón thịnh tình, đầy cảm xúc tôn nghiêm của đông đảo lãnh đạo địa phương và bà con họ hàng. Từ 6 giờ 30 sáng đến 11 giờ 30 ngày 28  / 4 / 2015, Lễ viếng và Lễ truy điệu ông đã tiến hành tại gia đình ông với hàng trăm đoàn đến dự. 13 giờ di quan. 14 giờ 15 phút hạ huyệt. Tôi được biết, các bước triển khai đều do người con trai cả Nguyễn Đăng Giáp điều hành căn chỉnh theo từng thời khắc tín ngưỡng tâm linh.
Giữa một chiều Hè nắng vàng, trời xanh, gió nồm nam thổi nhẹ, trong cái  nóng oi nồng, cả đoàn người lòng trĩu buồn, lặng lẽ nối tiếp nhau kính cẩn tiễn biệt ông trong niềm tiếc thương vô hạn đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Thi hài ông đặt vào quan tài bằng gỗ ngọc am quí hiếm để trong quách bằng đá xanh được thiết kế và thi công rất bề thế công phu. Lăng mộ ông đặt cạnh Nghĩa trang dòng họ Nguyễn Đăng. Cách đó không xa là Đền thiêng Diên Cờ -  công trình tráng lệ nguy nga do các con trai ông tái thiết theo ý tưởng chỉ đạo của ông. Đây là nơi thờ phụng thần Cao Sơn, Cao Các, bảy vị nhân thần cùng hai danh tướng: Hưng Đạo Đại Vương Trần Hưng Đạo và Thái sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí. Đền Diên Cờ là Di tích Lịch sử Văn hóa - một địa chỉ du lịch tâm linh văn hóa của khách thập phương.
Tôi cho rằng, từ xưa đến nay, không tính Quốc tang, Lễ tang ông Nguyễn Đăng Cẩn là trường hợp hiếm có. Có người nói, đây là Lễ  “Hồng tang” . Điều đó không sai, khi xét về qui mô, cấp độ, tấm lòng của mọi người đưa tiễn và từ đây mở ra một chu trình mới cho hậu thế.

 82 năm đi qua cõi trần biết bao thăng trầm, vinh quang cùng gian khó, ông Nguyễn Đăng Cẩn đã để lại cho đời dấu ấn vàng son vô giá, hy hữu: Những người con thành đạt, hiển vinh ; những người cháu phương trưởng; là công trình Nhà thờ Nguyễn Đăng tộc đường tôn nghiêm và công trình Đền Diên Cờ lộng lẫy, lừng lững trên quê hương, song hành cùng thời gian. Hơn thế, đó là tấm lòng nhân đức, chan chứa nghĩa tình của ông tỏa bóng vào hậu thế, vào mọi người gần xa.
 Ông thanh thản về cõi vĩnh hằng. Nhưng hình ảnh kính quí của ông còn đọng mãi trong lòng mọi người ./.

                                                        Mỹ Đình, ngày trọng Hạ năm ẤT Mùi
                                                                               N M Đ

  

Bảy nguyên tắc sống của đại bàng

Tác giả: theo FB Đức Bảo Phạm
.KD: Thật ra là những kỹ năng sống dạy cho con người có khả năng thích ứng, can đảm và biết biến những điều không thể thành có thể.
————
Nguyên tắc 1:
Đại Bàng bay ở một tầm rất cao. Đại Bàng bay một mình ở một tầm rất cao, nó không bay với chim sẻ, hoặc chen lẫn vào với các loài chim khác nhỏ hơn như ngỗng, vịt trời.
=> “Hãy tránh xa những con chim sẻ và quạ hoặc những người khác luôn cản trở và níu kéo công việc của bạn”.
Nguyên tắc 2:
Đại Bàng có tầm nhìn rất xa, có khả năng tập trung vào một cái gì đó lên đến khoảng cách 5km. Khi phát hiện ra con mồi của nó, thậm chí là một động vật gặm nhấm từ xa, nó chú tâm và dành sự tập trung của mình vào con mồi và thiết lập ra cách tiếp cận để bắt được con mồi đó.
Không có vấn đề gì có thể cản trở được nó, con Đại Bàng sẽ không thay đổi mục tiêu con mồi cho đến khi nó bắt được.
=> “Có một tầm nhìn và tập trung cao độ làm việc thì sẽ không có vấn đề gì trở ngại và sớm dẫn tới thành công”.
Nguyên tắc 3:
Đại Bàng không ăn những thứ đã chết. Nó chỉ ăn những con mồi tươi.
=> “Chúng ta luôn phải nhớ rằng những cái gì đang tồn tại trong chúng ta sẽ bị cũ đi và sẽ lỗi thời, vì vậy. Luôn luôn làm mới bản thân mình bằng cách học hỏi và thay đổi liên tục”.
Nguyên tắc 4:
Đại Bàng rất thích các cơn bão. Là loài chim duy nhất yêu thích các cơn bão. Khi những đám mây xám xịt kéo đến thì đó là lúc những chú chim Đại Bàng rất vui mừng. Đại Bàng sử dụng sức gió của cơn bão để nâng nó bay cao hơn. Một khi nó thấy gió của cơn bão, Đại Bàng sử dụng sức mạnh của cơn bão hoành hành để nâng nó lên trên những đám mây. Trong khi đó, tất cả các loài chim khác thường ẩn trong lá, cành, hốc cây.
=> “Chúng ta có thể sử dụng những cơn bão của cuộc sống để nâng chúng ta lên tầm cao mới. Thưởng thức những thành qủa đạt được từ những thách thức và biến những cơn bão cuộc sống thành lợi nhuận cho chúng ta”.
Nguyên tắc 5:
Đại Bàng luôn có bài kiểm tra trước khi nó đặt niềm tin vào con khác!
=> “Cho dù trong cuộc sống riêng tư hay trong kinh doanh, một trong những thử nghiệm cam kết của mọi người dành cho mối quan hệ đối tác trước khi chúng ta hợp tác cùng thành công”.
Nguyên tắc 6:
Đại Bàng chuẩn bị cho quá trình sinh sản và dạy kỹ năng cho Đại Bàng con. Khi đã sẵn sàng đẻ trứng, con Đại Bàng đực và con cái xác định một vị trí rất cao trên vách đá nơi không có động vật săn mồi có thể tấn công được.
Cả hai con Đại Bàng đực và cái tham gia trong việc bảo vệ Đại Bàng con. Con cái có nhiệm vụ đẻ trứng và bảo vệ chúng, Con đực xây dựng tổ và đi kiếm mồi. Trong thời gian dạy cho những con Đại Bàng con tập bay, Đại Bàng mẹ ném những con Đại Bàng con ra khỏi tổ. Bởi vì các con non đang sợ hãi, nó sẽ lại nhảy vào tổ.
Trước tiên khi con của nó được vài tháng tuổi, con đực và con cái sẽ dạy cho các con qua những kỹ năng hàng ngày.
Tiếp theo, Đại Bàng mẹ ném chúng ra lại và sau đó nó tiếp tục trút bỏ hết các lớp mềm lót trong tổ, để lại các gai trần. Khi các Đại Bàng con sợ hãi và một lần nữa nhảy lại vào tổ thì chúng bị vết chích bởi các gai. Nó thét lên và bị chảy máu. Nó phải nhảy ra khỏi tổ và trong lúc này nó tự hỏi tại sao mẹ và người cha yêu thương nó rất nhiều bây giờ lại tra tấn nó.
Tiếp theo, mẹ con Đại Bàng đẩy chúng ra khỏi vách đá vào không trung. Khi tiếng thét trong sợ hãi, Đại Bàng cha bay ra ngoài và bắt chúng trở lại trước khi nó bị rơi và đưa chúng trở lại vào vách đá. Điều này sẽ diễn ra liên tục cho đến khi các con Đại Bàng con có thể bắt đầu vỗ cánh và bay được. Nó cần phải tiếp thu những kiến thức này thì mới có thể bay được.
=> “Việc chuẩn bị dạy chúng ta những thứ cần thay đổi, việc dạy dỗ của gia đình chúng ta cùng với sự tích cực học tập của bản thân sẽ dẫn đến thành công, việc bị chích bằng các gai nhọn cho chúng ta biết rằng đôi khi quá thoải mái, khi chúng ta cần kết quả hoặc không. Chúng ta không được trải nghiệm cuộc sống, không phát triển và không học tập được những gì từ cuộc sống. Gai của cuộc sống đến để dạy chúng ta rằng chúng ta cần phải phát triển, hãy ra khỏi tổ và sinh sống. Chúng ta có thể không biết nó, nhưng thiên đường dường như cảm thấy thoải mái và an toàn vẫn có thể có gai”.
Những người yêu thương chúng ta không để cho chúng ta suy yếu, lười làm việc và hãy đẩy chúng ta vào con đường khó khăn để chúng ta có thể phát triển và thịnh vượng. Ngay cả trong hành động của họ dường như làm khó hay gây khó khăn cho chúng ta nhưng thực ra đó là những ý định tốt của họ dành cho chúng ta”.
Nguyên tắc 7:
Đại Bàng chuẩn bị cho tuổi già … Khi Đại Bàng trở nên già nua, lông của chúng trở nên yếu và không thể giúp nó còn nhanh nhẹn như trước. Khi nó cảm thấy yếu và sắp chết, nó tìm đến một một nơi xa trong hang đá. Ở đó, nó rủ hết tất cả lông trên cơ thể của mình cho đến khi nó rủ hoàn toàn sạch lông. Nó ở lại trong nơi ẩn náu cho đến khi cơ thể đã phát triển mới lông, sau đó nó mới có thể ra khỏi hang và trở lại cuộc sống.
=> “Thỉnh thoảng chúng ta cần phải rủ bỏ những thói quen cũ và các cám dỗ đem lại gánh nặng cho chúng ta, những thứ không cần thiết trong cuộc sống của chúng ta”.
(Trích từ Những câu chuyện ý nghĩa của cuộc sống)

Mua xấu hổ

Tác giả: Xuân Dương
Những nắm sạn trong trận đấu bóng đá trên sân Mỹ Đình chỉ là phần nổi có thể nhìn thấy, nghe thấy, còn phần chìm – cái gốc văn hóa ngày nay ra sao?
Câu chuyện Chủ tịch ngân hàng SHB Đỗ Quang Hiển (Bầu Hiển) bỏ tiền mời đội bóng Man City sang thi đấu với đội tuyển Việt Nam đáng lẽ là một ngày hội bóng đá với người hâm mộ nếu không có những nắm sạn đáng tiếc.
Nói “nắm sạn” chứ không phải hạt sạn vì có thể có ai đó cho là một thành công, nhưng cảm nghĩ chung là không ít người hâm mộ thất vọng.
Không phải chỉ là người bỏ tiền ra “thuê” mà cả bộ phận có trách nhiệm của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, của Liên đoàn Bóng đá Việt Nam đã tốn công sức, tiền của mua lấy xấu hổ.
Ngày 5/7/2015 Singapore cũng tổ chức một trận bóng giao hữu, họ mời Arsenal sang thi đấu với đội tuyển các Ngôi sao Singapore chứ không phải đội tuyển quốc gia. 
Việc đội tuyển quốc gia các nước có nền bóng đá chưa phát triển thua các đội bóng nổi tiếng thế giới như Man City là điều ai cũng có thể dự đoán, vậy nên người ta không lấy danh đội tuyển quốc gia thi đấu mà chỉ là một đội hình “danh dự” vì mục đích trận đấu không phải là chuyên môn kỹ thuật mà nặng tính quảng cáo.
Giải bóng chuyền VTV Cup 2015 cũng vậy, đội bạn chỉ là đội của các tỉnh hoặc trường Đại học còn chúng ta là đội tuyển Việt Nam, bình luận viên của VTV còn luôn miệng “đội tuyển quốc gia Việt Nam”, chẳng lẽ bình luận viên của VTV đã mất hết xấu hổ khi dùng từ ngữ như vậy? 
Tại sao người có trách nhiệm của VTV và Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch không hiểu điều đó, không can thiệp để đến nỗi đội tuyển bóng đá mang danh quốc gia thua một câu lạc bộ 8-1, sự xấu hổ đâu phải chỉ là về chuyên môn mà còn là sự yếu kém đến không thể hình dung của người chịu trách nhiệm về mặt quản lý của ngành, của Nhà nước. 
Liệu đã đến lúc, không được cử các đội tuyển mang danh quốc gia tham dự các giải đấu mà đối thủ chỉ là các câu lạc bộ? 
Man City đến Việt Nam với một hợp đồng ghi rõ: “Nếu trận đấu không thể diễn ra vì bất kỳ lý do nào như khủng bố, mưa bão, động đất… đội bóng này vẫn phải được nhận tiền”. [1]
Sự sang chảnh của một đội bóng mới nổi của London còn thể hiện qua yêu cầu: “Kể từ ngày người của họ sang kiểm tra sân, Mỹ Đình không được diễn ra bất kỳ sự kiện nào, nếu không sẽ hủy chuyến du đấu”. 
Nên nhớ Mỹ Đình là sân vận động quốc gia, phục vụ cho nhu cầu quốc gia, bỏ tiền thuê sân với hợp đồng như vậy, phải chăng Ban tổ chức tự tin có thể ép Nhà nước không được tổ chức “bất kỳ sự kiện nào” cho đến khi trận đấu kết thúc?
Một số cơ quan truyền thông của Anh như Daily Mail, BBC đều chê công tác tổ chức trận Man City – Đội tuyển Việt Nam. Họ cho rằng nghi thức trước trận đấu quá dài khiến cầu thủ khó chịu?
Tại Thế vận hội Mùa đông Vancouver 2010 (Canada), ông John Furlong – Chủ tịch Ủy ban Tổ chức phát biểu khai mạc: 
Chúng tôi hoan nghênh các bạn từ các nước trên thế giới tới tham dự Đại hội thể thao mùa đông tại Canada. Chúng tôi rất vinh dự khi trở thành nơi gặp gỡ, tụ hội, là ngôi nhà chung của các bạn.
Chúng tôi hi vọng sẽ mang lại những kỉ niệm tuyệt vời không thể nào quên đối với các bạn trong thời gian ở Canada. Trong 16 ngày tới, các bạn có thể tin tưởng và mơ ước vào những điều tốt đẹp có thể xảy ra.
Tôi xin cảm ơn tất cả các vận động viên, Ủy ban Olympic quốc tế, các nước đối tác, cơ quan phương tiện truyền thông, đặc biệt là người dân Canada đã giúp đỡ chúng tôi trong Đại hội này”. (VOV Online 13/2/2010)
(GDVN) – Lâu nay, ở rất nhiều sự kiện, chỉ còn bật nhạc chứ chẳng mấy người hát quốc ca. Ngay cả ở Quốc hội chuyện hát quốc ca cũng có lúc trồi, lúc sụt.
Bấm đồng hồ đọc đoạn văn khai mạc trên thấy mất chừng 1 phút, đọc chậm lắm thì cũng chỉ khoảng 2 phút, còn diễn văn trong trận giao hữu ở Mỹ Đình là gấp từ 5 đến 10 lần, đến mức cầu thủ đội bạn phải bỏ ra ngoài khởi động.
Tờ The Independent Anh quốc đánh giá: “Đây là trận bóng đá đắt nhất trong lịch sử quốc gia (Việt Nam) này”.
Trận đấu có thể giúp cổ phiếu của SHB tăng sàn, giúp SHB thêm vài chục tỷ nhưng nó quá đắt bởi vì số tiền bỏ ra là để mua lấy xấu hổ chứ không phải vinh hạnh gì. 

Khách là như thế, còn chủ thì thế nào?
Nhiều tờ báo lớn của Anh như Telegraph, Mirror, …  đăng tải bài viết về trường hợp một người hâm mộ Việt Nam đốt 10 vé xem trận Man City – Đội tuyển Việt Nam vì không chấp nhận thái độ của cầu thủ đội khách.
Người hâm mộ đội Man City đốt vé xem trận đấu (ảnh Internet)
Nhiều ý kiến được nêu trước và sau trận đấu, chẳng hạn: “Dường như Man City đã thất bại ở khía cạnh ngoài chuyên môn, từ khi bóng chưa lăn”, [2] hay:
Mặc dù là trận giao hữu nhưng nếu đó là Arsenal, Manchester United, Chelsea thì thật sự sức hút sẽ vô cùng lớn.
Với M.C, đội bóng này có quá ít CĐV tại VN. Đó là chưa kể việc khi họ sang VN, thái độ lạnh nhạt của CLB khiến nhiều CĐV VN thật sự thấy tự ái”. [3]
Nói “thất bại ngoài chuyên môn” của Man City có thể chưa đầy đủ cho lắm bởi kèm theo đó còn là thất vọng dành cho người hâm mộ và thất bại dành cho người bỏ tiền “thuê” đội Man City sang thi đấu.
Nhìn bức ảnh cổ động viên đốt 10 chiếc vé trị giá hàng tháng lương (theo lời người đốt), không bàn chuyện vé thật hay giả, cũng không bàn chuyện cổ động viên đội này “chơi xấu” đội khác, chỉ cần hành động đổ xăng đốt đã cho thấy văn hóa ứng xử của một bộ phận người Việt, nhất là lớp trẻ đáng báo động như thế nào.
Khóc ngất trước thần tượng, hôn chiếc ghế mà thần tượng ngồi, đốt vé vì thất vọng trước thần tượng… Sự ấu trĩ ấy như một căn bệnh truyền nhiễm mà nền văn hóa nước nhà chưa có thuốc chữa.
(Vẫn biết rằng cái gì quá cũng là không tốt (thái quá bất cập), do vậy không nên dùng từ ngữ “quá mạnh” để nói về hiện tượng sùng bái thần tượng của lớp trẻ hiện nay. 
Nhưng hôn chiếc ghế người ta vừa ngồi thì nên dùng từ gì cho nhẹ nhàng hơn ngoài những từ người dân thường dùng như “dốt nát”, “thiếu văn hóa”, “không được dạy dỗ đến nơi đến chốn”…?
Trở lại câu chuyện diễn văn khai mạc trận đấu quá dài, đây không phải là chuyện cá biệt. Bất kỳ một sự kiện nào diễn ra cũng có người tổ chức đứng lên “kính thưa”… tiếp theo sau là danh sách các đại biểu tham dự, rồi đến người đọc diễn văn, người phát biểu lại “kính thưa” cái “danh sách” ấy một lần nữa? 
Tại sao không học các chính trị gia phương Tây: “Kính thưa các quý ông, quý bà” hoặc ở ta thì “Kính thưa các đồng chí” hoặc “Kính thưa các vị đại biểu” …?
Phải chăng nhiều người cho đến hôm nay vẫn cho rằng trong diễn văn, không “kính” đích danh các bậc trưởng thượng là “hỗn”, là về nhà vẫn còn sợ toát mồ hôi? 
Bài viết “Củ cải có tai?” (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/ 30/5/2013) có đoạn “Khi biểu diễn chèo, diễn viên vừa múa vừa hát, lời của các bài chèo có rất nhiều từ “hi hi, í a í ới”, hát mãi, í ới mãi mới ra được một từ khác.
Hát chèo chỉ loanh quanh chiếc chiếu ở sân đình. Theo “công thức Tấm Cám”, chiếc chiếu giống như mảnh ruộng con con, cách hát phản ánh nền nông nghiệp lạc hậu, làm mãi không ra sản phẩm”.
Nền nông nghiệp lạc hậu làm mãi không ra sản phẩm được phản ánh trong hát chèo, “hi hi” mãi mới được từ khác, và có lẽ còn phải minh họa thêm bằng một ví dụ thời hiện đại, “kính thưa” mãi mới đến được nội dung mà người tham dự sự kiện mong đợi! 
Những nắm sạn trong trận đấu bóng đá trên sân Mỹ Đình chỉ là phần nổi có thể nhìn thấy, nghe thấy, còn phần chìm – cái gốc văn hóa ngày nay ra sao? Liệu rồi đây ngành Văn hóa – Thể thao – Du lịch và người tổ chức có rút kinh nghiệm hay đã là “văn hóa truyền thống” thì phải phát huy, phải giữ gìn, phải tiếp tục “hi hi”?
Đến bao giờ thì chuyện bỏ tiền mua sự xấu hổ mới chấm dứt?

Theo : Kim Dung / Kỳ Duyên