Menu ngang

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Nhạc sỹ An Thuyên: Thực chất các làn điệu dân ca ví, giặm được xây dựng trên 3 nốt nhạc Mi - La - Đô

Nhạc sỹ An Thuyên: Thực chất các làn điệu dân ca ví, giặm được xây dựng trên 3 nốt nhạc Mi - La - Đô
VHNA: Nhạc sĩ An Thuyên, từ những năm cuối thập kỷ 60 (TK XX) là cán bộ của Ty Văn hóa Nghệ An và đã được trực tiếp tham gia công tác sưu tầm nghiên cứu dân ca dưới sự chỉ đạo của các vị lãnh đạo ngành lúc bấy giờ. Sau khi nhập ngũ ông tiếp tục con đường âm nhạc của mình với nhiều thành tựu góp phần làm nên đời sống âm nhạc nước nhà trong khoảng 2 thập kỷ nay. Trong các sáng tạo của mình, di sản âm nhạc và văn học của dân ca Nghệ Tĩnh là điểm tựa, là chất liệu cho các tác phẩm của ông. Năm 2012, VHNA đã có cuộc trao đổi với ông về dân ca Nghệ Tĩnh, những gắn bó và cảm nhận của ông với dân ca Nghệ Tĩnh.
Như chúng tôi đã đưa tin, nhạc sỹ An Thuyên đã qua đời hồi 17h45 ngày 3.7.2015 vì cơn nhồi máu cơ tim cấp. Chúng tôi đăng lại bài phỏng vấn này để tưởng nhớ ông – nhạc sỹ tài hoa của xứ Nghệ, người cán bộ cũ của ngành văn hóa Nghệ An, cộng tác viên thân thiết của tạp chí Văn hóa Nghệ An.
PV: Chúng tôi được biết ông đã có quá trình tham gia sưu tầm, nghiên cứu dân ca Nghệ Tĩnh từ những năm còn chiến tranh chống Mỹ. Ông có thể nhắc lại, kể lại một vài công việc của ông và các đồng nghiệp hồi đó được không?
Nhạc sĩ An Thuyên (NS. AT): Ô trời ơi… Chuyện đi sưu tầm ngày xưa ư? Nó hằn sâu trong tôi sâu lắm, ông ơi.
Hồi đó, khoảng cuối những năm 1960, chiến tranh ác liệt, cái sống cái chết liền kề mà ông Trần Nguyên Trinh - Trưởng Ty Văn hóa Nghệ An, ông Nguyễn Trung Phong, nhà viết kịch, Phó trưởng ty, ông Nhà Thơ Trần Hữu Thung - Chủ tịch Hội Văn nghệ Nghệ An nữa, có một kế hoạch lớn cho cả ngành là quyết tâm sưu tầm văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, đâu phải chỉ có âm nhạc. Các ông ấy làm hết mọi việc cần thiết rồi thúc dục anh em lên đường. Ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm… cứ thế quyết liệt, khổ mấy cũng làm. Sưu tầm rồi nghiên cứu, rồi hội thảo, tranh luận… Tôi còn nhớ rõ có một hội nghị tổ chức bên Hà Tĩnh trong một hội trường sơ tán, mấy chục con người đang cãi nhau sai đúng thì bom Mỹ thả cách đó vài ba trăm mét, mọi người vơ vội tài liệu chạy xuống hầm trú ẩn, máy bay cút rồi lại kéo nhau lên tiếp tục cãi nhau, lại sai sai, đúng đúng… Ôi, lớn lao làm sao.
Riêng tôi, chuyện được đi sưu tầm dân ca cũng là một cơ duyên, một may mắn của số phận và có ý nghĩa to lớn vô cùng. Bốn, năm mươi năm rồi mà cứ tưởng mới như hôm qua. Hồi đó có đoàn nhạc sỹ ở Viện nghiên cứu âm nhạc gồm nhạc sỹ Đào Việt Hưng, nhạc sỹ Hồ Thoa vào Nghệ An đi sưu tầm dân ca. Họ cần một người trẻ nhiệt tình đi cùng họ làm “điếu đóm”, “hầu hạ cơm nước”. Thế là ông Trinh, ông Phong chọn tôi vì lúc đó tôi mới 17, 18 tuổi, trẻ nhất Ty Văn hóa Nghệ An. Đi theo “điếu đóm” cho các ông được 2 tháng thì các ông ấy về Hà Nội. Ông Phong hỏi tôi: “Có học được tý nghề nào không? Thích đi sưu tầm không? Tôi bảo, có học “mót” được chút ít rồi anh ạ, anh cho em đi tiếp đi. Thế là Ty Văn hóa cấp cho tôi 1 chiếc máy ghi âm R5 của Đông Đức, một chiếc  xe đạp “trâu” Liên Xô, sang bên đài phát thanh tỉnh xin được mấy cuộn băng “cối” lớn về nhà hý hoáy cả tháng trời làm được mấy chục cuộn băng nhỏ bằng nhôm, san băng cắt thành những cuốn nhỏ, cùng với mấy chục đôi pin con thỏ bên thương nghiệp cấp, thế là mũ lá, dép cao su lên đường đi sưu tầm gần 5 năm trời liền. Suốt một dải sông Lam từ Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên về Cửa Hội, qua Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành về Nghi Lộc, cứ thế lầm lũi đi, ghi chép, học hỏi, mặc đạn bom, mặc sốt rét ác tính, ngã nước “thập tử nhất sinh”… Năm năm với hàng trăm cuốn băng tự tạo đã thu được hàng trăm bài hát giá trị của các nghệ nhân trong toàn tỉnh. Chỉ tiếc rằng năm 1975 nội bộ Ty lủng củng, mấy anh em trẻ có triển vọng phải ra khỏi ngành, tôi đi bộ đội, phải bàn giao lại toàn bộ số băng sưu tầm đó. Đoàn Dân ca Nghệ An lúc đó có sử dụng khai thác một số làn điệu phổ biến. 2 - 3 năm sau tôi trở về, muốn xin lại số băng đó thì băng đã mốc hỏng hoàn toàn. Tôi buồn lắm vì trong bộ sưu tầm của tôi còn có rất nhiều bài bản hay mà chưa kịp phổ biến ra.
PV. Ông đánh giá như thế nào về chủ trương sưu tầm, nghiên cứu của tỉnh và ngành văn hóa trong thời điểm chiến tranh ác liệt đó?
NS. AT: Đó là một sự tỏa sáng của trí tuệ và tâm huyết của những con người làm văn hóa và yêu quê hương đất nước đích thực. Nhờ đó, tổng quan văn nghệ dân gian cả Nghệ An và Hà Tĩnh đã được lộ diện và bảo vệ, bảo tồn một phần quan trọng. Bên văn học dân gian có hàng chục công trình nghiên cứu đồ sộ, tầm cỡ quốc gia ra đời của những tên tuổi lớn như ông Nguyễn Đổng Chi, ông Ninh Viết Giao, ông Thái Kim Đỉnh, ông Trần Hữu Thung… Bên âm nhạc có nhiều tên tuổi có công xuất sắc, ngoài những nhà nghiên cứu ở Trung ương, ta phải luôn ghi nhớ những con người luôn sống chết với mảnh đất này như ông Lê Hàm, Thanh Tùng, Mai Hồng, Thanh Lưu, Vi Phong, Văn Thế…, các nghệ sỹ Đức Duy, Xuân Năm, Song Thao, Thanh Bảng, Đình Bảo… và không thể nào quên được ông Nguyễn Trung Phong người đã viết bài hát “Giận mà Thương” để đời, đây là bài hát dân ca Nghệ Tĩnh tui cho rằng hay nhất mọi thời đại. Đấy là ở miền xuôi, còn ở miền núi có ông Hoàng Thọ, Xuân Đàm, Ngân Văn Nguyên, Lĩnh Chất, Sầm Nga Di, Thanh Xuân… Các ông, các bà dẫu người còn, người mất, họ là những người Thầy, người Bạn lớn của tôi, là những người con dân ưu tú Xứ Nghệ không thể nào quên.
PV: Những kết quả quan trọng nhất hồi đó đạt được là gì, thưa ông?
NS. AT: Thời ấy, những người làm văn hóa đều là những người có tầm, có tâm lớn về văn hóa. Chỉ riêng về việc quyết liệt làm sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy vốn cổ ngay trong khi chiến tranh ác liệt nhất đó là bài học lớn cho chúng ta bây giờ. Với chủ trương này đã sưu tầm và nghiên cứu được một kho tàng văn nghệ dân gian Nghệ Tĩnh với một diện mạo khá đầy đủ, phong phú và đa dạng. Đặc biệt, trong lĩnh vực âm nhạc dân gian, tôi có thể khẳng định rằng thời đó, từ giữa những năm 60 đến cuối 1980 đã cơ bản làm hoàn tất việc sưu tầm dân ca Nghệ Tĩnh, các làn điệu dân ca gốc với hàng trăm dị bản đã được lộ diện, làm cơ sở cho phong trào hát dân ca trong chiến tranh “tiếng hát át tiếng bom”, làm cơ sở cho kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh ra đời, làm cơ sở cho những bài ca mới từ chất liệu dân ca Nghệ Tĩnh ra đời, lan tỏa khắp mọi nơi. Thử hỏi nếu thời đó không làm mạnh mẽ, làm tổng thể thì bây giờ ta sẽ mất biết bao nhiêu di sản, sẽ còn lại được những gì. Thời gian và tuổi tác của các nghệ nhân đâu chờ đợi chúng ta. Những người sinh ra chủ trương và những người thực hiện sưu tầm nghiên cứu dân gian của ngành văn hóa 2 tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An thời đó, bây giờ mấy ai nhớ tên tuổi họ, ghi công họ…? Chẳng lẽ cuộc sống cứ trượt dài như vậy sao…?
PV: Theo ông, đặc trưng âm nhạc của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là gì?
NS. AT: Đặc trưng âm nhạc dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh ư? Ông hỏi tôi câu này nó liên quan nhiều đến học thuật rồi đấy. Tôi không phải là người nghiên cứu chuyên nghiệp nên xin phép không nói được gì nhiều.
Tôi chỉ nói cái ám ảnh, cái dễ nhận ra của tôi về quê hương nơi “chôn nhau cắt rốn” thôi.
Theo tôi nỗi buồn! Nỗi buồn là đặc trưng thứ nhất, nổi bật nhất của dân ca Nghệ Tĩnh.
Dân ca ví, giặm thực chất là nỗi buồn thăm thẳm tận đáy của con người Nghệ Tĩnh. Tôi nói “Tận đáy” là để nói rằng không phải dân ca một số vùng khác không có buồn. Có! Nhưng không được tới “tận đáy” như dân ca Nghệ Tĩnh. Từ cái hồn dân ca đó ta có thể có được những lát cắt, có  thêm một góc nhìn về con người xứ Nghệ. Một là, người Nghệ là nơi hiếm thấy, nói ra được nỗi buồn thăm thẳm của mình. Người Nghệ bao đời nay là con người biết SỐNG THẬT. Thật lòng, thật thà, thật tính, thật như đếm, ngay thẳng, “thẳng như ruột ngựa”, ít biết giả dối… vì đã nói hết tận đáy rồi còn đâu mà giả dối. Hai là, người nói ra được nỗi buồn của mình là người DŨNG CẢM. Người Nghệ dũng cảm thì ai ai cũng biết. Dũng cảm đến ngang tàng ai ai cũng biết. Bao đời nay con dân xứ Nghệ với dòng máu dân ca ví, giặm của mình, dù sống ở quê nhà, dưới trời Việt hay trời Tây, với hai đặc tính SỐNG THẬT và DŨNG CẢM không dễ trộn lẫn vào đâu được.
Tôi nói thêm rằng cái buồn tận đáy của dân ca Nghệ Tĩnh đó được kiểm chứng nhiều mà ít người để ý đấy thôi. Tôi đã đi nhiều nơi, dù ở phương trời nào, không một người Việt Nam nào khi nghe những bài hát hay có chất liệu Nghệ Tĩnh mà họ không rung động khác thường. Họ yêu thích đến cuồng nhiệt, đến kỳ lạ, cứ như là bài hát ấy của riêng mình dù rằng họ không phải người sinh ra từ xứ Nghệ. Tại sao vậy? Tôi cho rằng vì nỗi buồn Nghệ Tĩnh đã chạm vào được nỗi buồn chung của nhiều người Việt Nam. Cái buồn, cái đau đó được chôn chặt nhưng khi chạm được vào nó thì nó sẽ không thể nguôi ngoai. Văn nghệ chừng nào chạm được vào cái đáy của cuộc sống, cái thăm thẳm nỗi đau buồn con người là văn nghệ vững bền. Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã làm được điều đó và nó nhất định sẽ mãi mãi vững bền. Vì vậy mà nó là một di sản văn hóa đáng được vinh danh của nhân loại. Suốt cả đời tôi cứ ám ảnh với nỗi buồn sâu thẳm đó của dân ca Nghệ Tĩnh, tôi sống với nỗi buồn đó trong hai tiếng QUÊ HƯƠNG.
Đặc trưng thứ hai, theo tôi, đây là một miền dân ca có văn chương (lời ca) hay nhất.
Không có nơi nào các cuộc diễn xướng dân ca của các phường hội lại được nhiều bậc hiền tài, danh nhân văn chương tham gia nhiều đến vậy như ở Nghệ Tĩnh. Những danh nhân như Phan Bội Châu, Nguyễn Công Trứ… hay thời cận đại với những bài vè của Nhà thơ Trần Hữu Thung… cho ta một nhận định dễ thấy đó là lời trong các bài hát dân ca Nghệ Tĩnh đạt đến độ hoàn bích của nghệ thuật văn chương. Hoàn bích đến mức, âm nhạc tôi nhìn thấy như là cái cột, còn lời ca là toàn bộ ngôi nhà. Âm nhạc là con đò, còn lời ca là những lấp lánh ánh trăng trải đầy dòng sông. Cho nên nghiên cứu và khai thác dân ca Nghệ Tĩnh phải có cái nhìn tổng thể, không thể chỉ nhìn cái cột mà không nhìn toàn bộ ngôi nhà, không thể chỉ nhìn con thuyền mà không biết nhìn cả dòng sông đầy trăng. Lâu nay tôi thấy các nhà nghiên cứu, sáng tác đó khu biệt, cá thể hóa 2 bộ phận chính cấu thành dân ca Nghệ Tĩnh, nên có thể vì thế mà theo tôi chưa có công trình nghiên cứu có tầm khái quát cao, chưa nói hết được giá trị tổng thể của di sản này. Dù rằng tôi luôn kính trọng các công trình nghiên cứu văn học dân gian Nghệ Tĩnh đồ sộ của các học giả như cụ Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Thái Kim Đỉnh, Nguyễn Chung Anh, Nguyễn Tất Thứ, Trần Hữu Thung… nhưng là sự khu biệt cái lớn lao của văn chương, còn âm nhạc thì chưa có một công trình nào tương xứng như thế. Ta mới chỉ nhìn được một phía của dân ca Nghệ Tĩnh thôi, nên người nghe thấy nó hay mà không biết tại sao? Chưa nói đến việc nghiên cứu dân ca Nghệ Tĩnh phải bắt đầu từ việc hiểu sâu sắc con người Nghệ Tĩnh. Trong lĩnh vực sáng tác cũng vậy, chỉ khi nào người nhạc sỹ không đơn thuần tiếp thu chất liệu âm nhạc, phải có đậm đà văn chương trong chất liệu ấy và thấm đẫm tình đời, tình đời xứ Nghệ mới có những bài ca, mới rung động lòng người. Nay đang thông thường là giới nhạc chúng tôi đang ít chú ý đến lời ca, đấy là sự thiệt thòi lớn. Phải có văn chương trong lời ca thì ca khúc phát triển dân ca Nghệ Tĩnh mới rung động lòng người.
PV: Nếu so sánh với âm nhạc của dân ca hai xứ gần xứ Nghệ là xứ Thanh và xứ Huế thì nó (âm nhạc của dân ca NT) sẽ có những đặc điểm gì?
NS. AT: Lại so sánh ư. Khác nhiều, khác về bản chất, khác về lề lối diễn xướng, về ngữ điệu, về cung, quãng âm nhạc…
Tôi chỉ dám nói nôm na thế này thôi:
Mảnh đất Xứ Thanh là nơi đầu tiên sinh ra những điệu hò Lao động tuyệt vời của người Việt và cũng là nơi cuối cùng của những cung bậc âm thanh mang rõ nét cốt cách dân ca Bắc bộ.
Dân ca xứ Huế là dân ca Kinh thành. Xứ Huế với 200 năm có kinh đô đó làm nên được một điều thần kỳ là một kinh đô duy nhất ở Việt Nam CÓ NHẠC riêng, đạt đến trình độ nhân loại. Nhạc dân gian được tái tạo, cách tân tới trình độ chuyên nghiệp. Nhạc của sự giao lưu, tiếp thu nhiều miền văn hóa với một bản lĩnh văn hóa Bình Trị Thiên mạnh mẽ, sáng tạo làm nên một di sản độc đáo: Ca Huế và Nhã nhạc cung đình Huế. Có lẽ, hiện nay, hơn lúc nào hết, ta nên nghiên cứu sâu để học tập cách mà cha ông mình đã làm: đó là hội nhập nhưng văn hóa dân tộc vẫn phát triển và quan trọng là vẫn giữ được cốt cách truyền thống, bản sắc của mình. Trong âm nhạc dân gian xuất sắc ta có Ca Huế và Nhã nhạc cung đình Huế, Quan Họ, Đàn ca tài tử Nam bộ… đó là những giá trị thể hiện bản lĩnh văn hóa Việt Nam ở tầm cao nhất.
Dân ca Nghệ Tĩnh là con đẻ của một vùng đất cổ xưa, bao đời là phên dậu, điểm đến tận cùng của những con đường lịch sử từ phía Bắc vào, từ phía Nam ra. Đây là vùng đất cách xa những biến cố lịch sử và những hợp lưu các dòng văn hóa bên ngoài. Dân ca Nghệ Tĩnh như một gia sản tự cung, tự cấp của riêng làng, riêng xứ. Tôi nghĩ thật may mắn được sinh ra từ một miền dân ca CỔ XƯA bậc nhất, được uống sữa mẹ nguyên chất nhất. Dấu vết cổ xưa còn lại rất rõ trong giọng nói người Nghệ đơn âm. Đem so sánh với tiếng Việt phổ biến từ khi có chữ viết đến nay, có 6 dấu: huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng và không dấu, thì giọng Nghệ phát âm chỉ dùng 3 dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng tương ứng với dấu nặng, còn lại dấu huyền và không dấu. Và thế là âm nhạc dân gian xứ Nghệ được sinh ra từ giọng nói và cách phát âm của người Nghệ Tĩnh, đơn âm - 3 dấu. Từ khi tôi đi sưu tầm dân ca, tôi đã mang máng thấy rằng thực chất các làn điệu dân ca ví, giặm được xây dựng trên cái trục 3 nốt nhạc MI - LA - ĐÔ tương ứng đơn âm, 3 dấu nói trên. Tôi chưa có thời gian để nghiên cứu sâu luận điểm này, mong được các nhà nghiên cứu chia sẻ. Chỉ biết rằng quá trình sáng tác của tôi khi tôi viết về Nghệ Tĩnh nếu thoát ra khỏi cái trục  Mi - la - ĐÔ này sẽ không còn là Nghệ Tĩnh nữa. Và kể cả khi tôi viết về các vùng miền khác, kể cả về nước ngoài, nay tôi đã có sự nghiệp thì ai ai cũng nói rằng: “âm nhạc An Thuyên bắt nguồn từ âm nhạc dân gian Nghệ Tĩnh”, tôi nghĩ nó chính là 3 nốt MI - LA - ĐÔ đấy thôi.
PV: Theo chúng tôi được biết thì hiện nay vẫn có những ý kiến khác nhau khi xác định về các làn điệu của dân ca Nghệ Tĩnh. Người thì nói có nhiều làn điệu, (các nhạc sĩ Lê Hàm, cố nhạc sĩ Vi Phong...), có người (Pgs Ninh Viết Giao) lại khẳng định dân ca ví, giặm NT chỉ có duy nhất một làn điệu. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
NS. AT: Vâng. Trong nghiên cứu khoa học có các ý kiến khác nhau, trái ngược nhau là chuyện bình thường. Ông Lê Hàm, ông Vi Phong và tôi biết nhiều người nữa nói dân ca Nghệ Tĩnh rất nhiều làn điệu, phong phú, đa dạng. Ông Ninh Viết Giao nói chỉ có một. Hôm nay tôi lại nói Khung dân ca Nghệ Tĩnh chỉ có 3 nốt. Vui thật, tôi nghĩ: Nói rằng rất nhiều làn điệu có lẽ cực đoan, bởi coi chừng nó là các dị bản. Còn nói như ông Giao và tôi có lẽ cũng cực đoan luôn. Cách nhìn dân gian như cách “nấu cao” thì e rằng chưa đúng quy luật phát triển văn hóa. Tôi cho rằng mỗi người đều có căn cứ của riêng người ta. Cách cảm nhận của tôi là người sáng tác, dùng cho sáng tác, chỉ xin các nhà nghiên cứu chia sẻ thôi, còn các luận điểm khác tôi rất tôn trọng, mong có nhiều công trình nghiên cứu công phu hơn, sâu sắc hơn để lại cho mai sau.
PV: Ông là một trong số không nhiều các nhạc sĩ đã khai thác, vận dụng và phát triển vốn âm nhạc của dân ca NT một cách tài tình, có hiệu quả nhất. Bằng sự am hiểu, kinh nghiệm nghiên cứu và sáng tác của mình, theo ông bí quyết của quá trình sáng tạo đó là gì?
NS. AT: Bí quyết sáng tác ư? Mỗi người có một lối riêng, cách làm riêng. Ý chí của tôi là: “trèo lên vai cha ông để nói tiếng nói thời đại mình!” Dân ca Nghệ Tĩnh đã cho tôi tất cả, cuộc sống, sự nghiệp, sự dâng hiến và tư cách làm người. Tôi sinh ra trong một gia đình diễn kịch dân gian, những năm tháng trẻ trung được đi sưu tầm dân ca Nghệ Tĩnh. Có lẽ đây là bệ phóng may mắn quyết định mà tôi có được. Tôi đang tiếp tục khai thác thế mạnh này để tiếp tục sáng tạo, hy vọng sẽ có thêm những tác phẩm mới có tinh thần Nghệ Tĩnh mới mẻ hơn như tôi hằng mong muốn: “Trong nền âm nhạc Việt Nam có một An Thuyên nói giọng Nghệ mang tâm hồn Việt Nam”.
Chuyện khai thác dân ca Nghệ Tĩnh để thành bài hát mới có lẽ lại là một vấn đề lớn để nói, để bàn. Không ở đâu mà chất liệu dân gian được khai thác thành những tác phẩm mới nhiều và thành công đến vậy. Có lẽ nhờ có 2 yếu tố hấp dẫn người sáng tác đó là: cái buồn thăm thẳm và cái cổ xưa hoang sơ. Dân ca xứ Nghệ đã và đang như một mỏ quặng lớn và tôi tin sẽ còn nhiều thế hệ khai thác. Nhân đây cũng xin nhắc tên các nhạc sỹ, những người từng là Thần tượng, là Thầy và là anh em đã có nhiều thành công viết về Nghệ Tĩnh và khai thác chất liệu dân ca ví, giặm mà tôi từng học tập và biết ơn họ nhiều. Đó là, Nguyễn Văn Tý, Trần Hoàn, Nguyễn Tài Tuệ, Tân Huyền, Đỗ Nhuận, Đinh Quang Hợp, Văn Dung, Huy Thục, Doãn Nho, Nguyên Nhung, Nguyễn Trọng Tạo, Dân Huyền, Đôn Truyền, Hồ Bắc, Nguyễn Đình Bảng, Phó Đức Phương, Nguyễn Cường, Xuân Giao, Trương Ngọc Ninh, Lê Việt Hòa, Ánh Dương, Thái Quý, Huy Cường, Đỗ Dũng, Hồ Hữu Thới, Lê Hàm, Hoàng Thành, Thanh Tùng, Văn Thế, Vi Phong, Thanh Lưu, Ngọc Thịnh, Mai Cường, Tân Khai, Võ Văn Di, Phan Thanh Chương… còn nhiều lắm tôi không thể kể hết. Những tác phẩm của họ sẽ còn sống mãi với thời gian.
PV: Ông thích những tác phẩm nào nhất của các nhạc sĩ mà được phát triển từ âm nhạc của dân ca Nghệ Tĩnh?
NS. AT: Tôi thích nhiều lắm, nhưng nếu chỉ được chọn 1 thì tui bỏ phiếu cho: “Xa khơi”  của Nguyễn Tài Tuệ.
PV: Khoảng 3 thập kỷ nay ở Nghệ Tĩnh rất chú trọng việc xây dựng bộ môn kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh. Theo ông, Âm nhạc của dân ca Nghệ Tĩnh có hội đủ các yếu tố, các phẩm chất để hình thành nên thể loại kịch hát?
NS. AT: Đấy cũng là một thành tựu của văn hóa Nghệ Tĩnh đương đại. Đã có một thời cả tỉnh làm kịch hát dân ca. Tôi khẳng định dân ca Nghệ Tĩnh hoàn toàn có đủ các cơ sở để thành kịch hát. Bởi dân ca ví, giặm mang tính “NGƯỜI” sâu sắc, giai điệu nồng nàn, văn chương hay. Chỉ tiếc rằng mấy năm gần đây phong trào này trở nên trầm lắng. Tôi nghĩ phải tập trung nhân tài để làm 3 việc. Thứ nhất, cả tỉnh hát dân ca ví, giặm. Truyền dạy hát dân ca Nghệ Tĩnh một cách có quy mô cho các lớp mẫu giáo, nhi đồng, học sinh các trường tiểu học, trung học. Đấy là xây dựng các “bảo tàng sống”. Thứ hai, xây dựng những vở kịch hát dân ca có quy mô vừa và nhỏ, tiến tới làm lớn. Thứ ba, chăm nuôi ruột thịt những nhạc sỹ có tài tiếp tục sáng tác cho Nghệ Tĩnh để có nhiều ca khúc hay. Nếu làm được ba điều này thì coi như ta xây dựng một cái kiềng 3 chân trong văn hóa, đó là: Phong trào rộng, chuyên nghiệp cao và quảng bá hiệu quả. Muốn làm được điều đó yếu tố đầu tiên là con người, là tài năng. Lâu nay ta lo nhiều việc mà sao nhãng con người, quên đi tài năng.
PV: Bảo tồn và phát huy, phát triển di sản dân ca Nghệ Tĩnh là một nhiệm vụ quan trọng của các thế hệ. Trong điều kiện hiện nay, theo ông, cách thức nào để chúng ta thực hiện tốt nhất công việc đó?
NS. AT: Ba việc để tạo thế ba chân kiềng tôi vừa đề xuất là nhằm nói đến cái cần làm và cách làm hiện nay đó thôi. Tôi xin nói thêm là, trước kia làm văn hóa người ta hướng NỘI, bây giờ làm văn hóa thiên về hướng NGOẠI. Hướng Nội, cũng có nhiều hạn chế nhưng nó trực tiếp góp phần xây dựng con người giàu nhân cách. Bây giờ hướng Ngoại cũng nhiều thế mạnh, giàu tiền. Nhưng cái cách chạy theo thị trường thái quá coi chừng nguy cơ lãng quên giá trị văn hóa, lãng quên con người. Tôi ủng hộ nhu cầu lập dự án trình UNESCO công nhận dân ca Nghệ Tĩnh là di sản Văn hóa thế giới. Rất xứng đáng và rất tự hào. Nếu được, tôi xin tình nguyện góp một tay cho dự án này. Nhưng tôi thấy ngay trong chuyện này thôi cũng đặt ra những điều suy nghĩ. Mọi nơi làm di sản thế giới với mọi cách, mọi giá, là niềm vui, niềm tự hào. Điều đó không thể phủ nhận. Nhưng làm xong rồi là để khai thác, để hưởng thụ di sản cha ông để lại. Các thế hệ đều để lại hồi môn cho con cháu là các giá trị, các di sản văn hóa. Thế nhưng, hôm nay, tôi chưa thấy một chiến lược nào của người đương đại, người đang sống xây dựng thành tựu văn hóa, xây dựng di sản để lại cho con cháu mai sau. Của hồi môn văn hóa phi vật thể thời đại này cho mai sau là cái gì? Chúng ta, những người hôm nay phải trả lời bằng được cho con cháu!
Tôi mong Nghệ Tĩnh ta có cách đi vững vàng, bên cạnh việc tiếp tục khai thác và hưởng thụ vốn cổ cha ông để lại cần cấp bách có chiến lược đầu tư cho văn hóa đương đại để có thêm những di sản Nghệ Tĩnh mới.
PV: Trân trọng cảm ơn và chúc ông có nhiều tác phẩm mới!               
                         PHAN THẮNG thực hiện

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015



Lại phải “kính lạy các nhà văn” trước… Đại hội


Tác giả: Nguyễn Như Phong
Chỉ còn hai ngày nữa, Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IX sẽ được khai mạc tại Khách sạn La Thành.
Trong các Đại hội của các hội nghề nghiệp, thì Đại hội Nhà văn những năm gần đây bao giờ cũng là “lắm chuyện” nhất.
Kẻ viết bài này cũng đã vài lần được đi dự Đại hội Nhà văn, từng được “tín nhiệm” bầu vào Ban Kiểm phiếu và quả thực, thấy buồn vô cùng.
Các nhà văn, người thực thi sứ mệnh “văn dĩ tải đạo”, người chuyên viết ra lời hay, ý đẹp, luôn cao giọng phán xét, dạy bảo thiên hạ, và cũng luôn coi mình là “bố” thiên hạ nhưng khi vào đại hội thì không hiếm người lộ chất háo danh, chất giang hồ, chất nghệ sĩ rởm, chất cơ hội và thậm chí cả ngông cuồng nữa.
Có nhà văn ngang nhiên uống rượu trong hội trường.
Có nhà văn ngang nhiên hút thuốc lào sòng xọc.
Lại có nhà văn ngang nhiên xông lên cướp micro để “cướp diễn đàn”.
Rồi phát biểu mỉa mai, móc máy nhau, thậm chí mạt sát nhau…
Rồi chạy vạy xin phiếu để được vào Ban Chấp hành…
Rồi khi không được bầu thì cao giọng “tao… ị vào cái Ban Chấp hành”.
Ngẫm mà thấy buồn cho cái danh Nhà Văn.
Ngày xưa, Đại hội Nhà văn có thế đâu nhỉ?
Đại hội năm nay, nghe nói với hơn một ngàn hội viên thì người ta giới thiệu tới… gần một nửa tham gia… ứng cử vào Ban Chấp hành?
Quả là một con số kỷ lục, và chắc chắn chưa từng có.
Dĩ nhiên, có đến 9 phần 10 trong số này là chỉ được đôi ba phiếu giới thiệu, còn số được giớithiệu quá bán thì cũng chả đáng là bao, mà hầu hết lại là người trong Ban Chấp hành cũ.
Khổ quá các nhà văn ơi. Sao mà lại háo danh đến thế, tham quyền cố vị đến thế?
Có người đã vài ba lần đột quỵ, đi không vững, nói líu lo… ấy vậy mà vẫn… ứng cử?
Có người bao năm nay, một chữ không viết, suốt ngày nói lăng nhăng trên Blog, trên Facebook, nhưng vẫn được giới thiệu? Đơn giản là vì người ta thấy ông… chả có tội lỗi gì.
Rồi cũng có người tham ô, tham nhũng, làm mất bao nhiêu tiền nhưng vẫn… muối mặt ứng cử?
Và cũng nghe nói, nếu cuộc bầu bán ở Đại hội này diễn ra… y như cũ, thì thật là bi kịch cho nhà văn Việt Nam.
Nhưng khổ nỗi, nhiều nhà văn cũng lại rất dễ tính… Bầu cho ai cũng được, mất gì của mình. Gặp nhau ở Đại hội, xem thằng nào sống, thằng nào sắp chết, ai viết được gì, và để khỏi quên mặt nhau… thế là đủ. Còn bầu ai ư? Ai mà chả được???
Nhà văn… Cả nước hơn 90 triệu dân, mà có khoảng một ngàn nhà văn? Xem ra cũng là “tinh túy” đấy chứ?
Vậy kính lạy các nhà văn. Xin các nhà văn hãy dẹp bớt cái tôi, cái ngông, cái sĩ diện hão của mình lại… để cho bàn dân thiên hạ nhìn vào và thốt lên “Đúng là Đại hội của các… Nhà văn”.
—————-

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2015

Bình thơ "Thời gian" của Văn Cao
Cao Thị Hồng
 THỜI GIAN: MỘT TRIẾT LÝ NHÂN SINH ...  
                                                                                    
Thời gian

Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá
Kỷ niệm trong tôi
Rơi
như tiếng sỏi
trong lòng giếng cạn
Riêng những câu thơ
còn xanh
Riêng những bài hát
còn xanh
Và đôi mắt em
như hai giếng nước
                  (Văn Cao)
     Bài thơ Thời gian ra đời vào mùa xuân năm 1987. Lúc này nhạc sĩ / thi sĩ Văn Cao đã để lại phía sau cuộc đời mình với biết bao trải nghiệm vui buồn... Dù chỉ có 7 câu, 12 dòng, 42 chữ, nhưng chất triết luận cùng những thông điệp mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc của bài thơ đã lắng lại trong tâm hồn người đọc, gợi nhiều suy ngẫm về con người và cuộc sống, mặc cho dòng thời gian trôi chảy không ngừng.  
     Mở đầu bài thơ ta bắt gặp một hình ảnh được “lạ hóa”: Thời gian qua kẽ tay – hình ảnh thơ gợi liên tưởng đến sự tương phản giữa cái hữu hình và vô hình, cái hữu hạn và vô hạn. Như một tất yếu, sự hiện hữu của thời gian trong cuộc đời mỗi người là hữu hạn, bởi thời gian ấy so với cái “vô thủy vô chung” của vũ trụ thì hư ảo, mong manh, ngắn ngủi vô cùng!  Chính vì vậy, thi nhân tự bao đời đã ngậm ngùi xa xót trước bước đi của thời gian và sự vô nghĩa của phận người... nên Nguyễn Gia Thiều đã cảm nhận đầy chua chát trong Cung oán ngâm khúc nổi tiếng của ông :
                               “Trăm năm nào có gì đâu
                      Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”
      Như một quy luật hiện sinh, thời gian qua đi là miên viễn không bao giờ trở lại. Sự nghiệt ngã ấy chính là bi kịch của phận người, con người không thể nào nắm giữ, níu kéo được được thời gian. Triết gia Heraclite đã xác quyết: “không ai có thể tắm hai lần trên cùng dòng sông”, cuộc đời mỗi người không thể sống hai lần…Mỗi bước đi, thời gian luôn làm biến đổi từng sát na hiện hữu, sức tàn phá của thời gian là khôn lường:
Làm khô những chiếc lá
Kỷ niệm trong tôi
Rơi
như tiếng sỏi
trong lòng giếng cạn
    Những chiếc lá xanh rồi cũng tàn tạ theo thời gian. Những được mất trong cuộc đời rồi cũng nhạt nhòa theo năm tháng. Có chăng, cái còn lại trong cuộc đời này là giọt giọt những kết tinh kỷ niệm…những kỷ niệm – như hạt ngọc quý giá ngày càng lắng sâu trong tâm thức khi con người ngày càng chạm đến cõi vĩnh hằng. Và những kỷ niệm ấy rồi sẽ theo con người lìa xa cõi sống để sang phía bên kia miền miên viễn…mọi ái, ố, hỉ, nộ rồi cũng sẽ tan biến theo dòng chảy của thời gian… Bài thơ, vì thế, đã thức nhận cho chúng ta cái ý nghĩa nhân sinh tưởng như bình thường mà không phải ai cũng nhận biết được khi con người luôn đắm chìm trong quá nhiều tham vọng của cuộc sống…Ý niệm về thời gian trong bài thơ của Văn Cao, vì thế mang tư tưởng hiện sinh tích cực. Thông điệp toát lên từ hình tượng nghệ thuật của bài thơ mang giá trị nhân văn sâu sắc: khi nhận thức được qui luật nghiệt ngã của thời gian con người phải biết trân quý sự hiện hữu của mình. Chúng ta phải làm thế nào để mỗi phút giây hiện hữu của đời người là mỗi phút giây sống chứ không phải là tồn tại!? Câu hỏi đầy tính chất tự vấn này sẽ không bao giờ là điều xưa cũ trong tâm thức hiện sinh của nhân loại trên con đường khám phá những giá trị vĩnh hằng để vượt qua sự khắc nghiệt của thời gian. Vậy những giá trị vĩnh hằng chỉ có thể là gì? Văn Cao – người nghệ sĩ đích thực, với cảm thức tinh tế trên từng bước đi của thời gian đã khẳng định một hệ giá trị mà ở đó sự tàn phá của thời gian cũng không thể làm mất đi phẩm tính của nó. Đó là:
Riêng những câu thơ
còn xanh
Riêng những bài hát
còn xanh
Và đôi mắt em
như hai giếng nước
    Trong dòng chảy nghiệt ngã của thời gian, mọi sự vật, hiện tượng có thể lụi tàn và tan biến vào hư không. Nhưng có những giá trị không thể mất mà mãi mãi “còn xanh”, đó là những giá trị thuộc về nghệ thuật và cái đẹp được kết tinh từ những câu thơ, những bài hát và đặc biệt là từ đôi mắt em. Âm hưởng bài thơ chuyển đổi bất ngờ: từ trầm buồn, u uẩn sang thanh thoát, thổn thức, mơ màng; hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu tượng cao. Từ “riêng”  được lặp đi lặp lại vừa như muốn minh định, vừa như muốn xác quyết một chân lý muôn đời không thể phủ định: Nghệ thuật và Tình yêu luôn khác biệt và luôn vượt lên mọi thứ tầm thường, tự thân nó luôn mang một sức mạnh trường tồn, vĩnh cửu bởi nó là hiện thân của cái Đẹp. Điều này quả đúng như Cyprian Norwid đã nói: “Thế giới này rốt cuộc chỉ còn lại hai thứ, chỉ hai thứ thôi: Thi ca và lòng nhân ái... không còn gì khác”...Câu kết của bài thơ để lại một dư âm da diết nhưng không bi lụy: Và đôi mắt em / như hai giếng nước… Đôi mắt em phải chăng là nơi Tình yêu bắt đầu và cũng là nơi Tình yêu mãi mãi lên ngôi…!
       Thời gian dẫu vẫn trôi “qua kẽ tay” nhưng bài thơ Thời giancủa cố nhạc sĩ / thi sĩ Văn Cao vẫn nguyên xanh trong lòng bạn đọc. Độ nén, sự giản dị, hàm súc của câu chữ trong bài thơ cho thấy sự tài hoa và tinh tế của một thi sĩ tài năng. Vì vậy, tôi tin, những thông điệp nhân văn vang lên từ bài thơ vẫn luôn vẫy gọi các thế hệ bạn đọc tri âm, đồng sáng tạo cùng tác giả. Và đây cũng là một hệ giá trị để bài thơ vượt lên qui luật khắc nghiệt của thời gian, mãi mãi tồn sinh như sự vĩnh hằng của Nghệ Thuật – Tình Yêu và Cái Đẹp....

   Xóm Bến, mùa đông 2014

(Nguồn: Quán Văn, số 029, tháng 4 năm 2015)


Thứ Ba, 7 tháng 7, 2015

Mai Hồng Niên

AN THUYÊN - CÒN MÃI VỚI CA DAO
(Thắp một nén nhang trước hương hồn An Thuyên)

                            
  Không ngờ lại viết tiễn anh
                             Câu thơ, nốt nhạc hóa thành nỗi đau
                             Đời là “Bãi bể nương dâu”
                             Kiếp phù du đến mai sau vẫn còn

                             “Bến quê” neo đậu oan hồn
                             Nón tơi, áo lá mãi còn của dân
                             Là nhạc sĩ thêm tướng quân
                             Mênh mang chìm nổi biển gần núi xa

                             Anh nhân từ và tài hoa
                             Lời quê tiếng mẹ không xa đất Quỳnh
                             Chưa lấy nhục đổ vào vinh
                             Câu thơ anh “chặt” đã thành dấu than !

                             Mệnh trời lắm nỗi trái oan
  Anh “đi” được thế cũng sang lắm rồi
                             Câu ca dao không mồ côi!
                             Và con đò nhỏ suốt đời lênh đênh
                            
  Đò đưa câu Ví xứ mình                         
“Huế thương” để lại cho anh chuyện tình                      
Văn Cao thiên tài nhạc xanh
                           An Thuyên lời của bồng bềnh thuyền ơi !
                           Trịnh Công Sơn một khoảng trời
                           Hẹn nhau đếm hạt mưa rơi mà buồn.


                                                                     Hà Nội, 3-7-2015
                                                                 Hàng Buồm, 6-7-2015
                                


Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

                       MẤY KỶ NIỆM VỚI
         THIẾU TƯỚNG, NHẠC SĨ AN THUYÊN



6 giờ chiều ngày 3 / 7 / 2015, trên đường từ Nghệ An ra Hà Nội, tôi nghe Đại tá Nguyễn Đăng Giáp gọi điện báo tin :“ Anh ơi! Anh An Thuyên vừa mất lúc hơn 4 giờ. Đời người chẳng được là bao …”. Tôi bàng hoàng xúc động! Thế là khép lại cuộc đời sôi động, tài hoa của một Thiếu tướng, một Nhạc sĩ nguyên Hiệu trưởng Đại học tài năng, tâm huyết với Quê hương, Quân đội - Và hơn thế là đối với Nhân dân, Đất nước. Tôi lập tức thông báo hung tin cho những người thân quí.
Về Hà Nội, tôi khó vào giấc ngủ. Thật chẳng thế nào nắm bắt, dự liệu hay làm thay đổi được những bất trắc khôn lường. Mỗi con người ra đi - một thế giới mất đi - tựa như khối sao băng vút trên bầu trời, tan biến vào vũ trụ bao la, vô cùng, vô tận,...! Cuộc đời vô thường cùng qui luật nghiệt ngã của tạo hóa, của thời gian và số phận con người. Trong thao thức, bao kỷ niệm với Nhạc sĩ An Thuyên hiện về trong tâm trí tôi như một thước phim quay chậm.
Tôi cùng quê Nghệ An với Nhạc sĩ An Thuyên. Anh ấy ở xã Quỳnh Kim, huyện Quỳnh Lưu; tôi ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc - cách nhau chừng 50 cây số. Chúng tôi quen thân nhau cách đây đã hơn 20 năm. Ngày ấy, tôi là Cục trưởng Cục Chính sách Tổng cục Chính trị, còn Nhạc sĩ An Thuyên là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Nghệ thuật Quân đội - Tổng cục Chính trị ( sau đó, dưới thời Hiệu trưởng, Nhạc sĩ  An Thuyên, Trường Cao đẳng được nâng cấp lên là Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội).
Chúng tôi cùng lớp tuổi, là bạn đồng hương thân quí nhau. Tôi luôn coi Nhạc sĩ An Thuyên là một nhân cách, một tài năng đáng kính. Nhiều năm liền, chúng tôi cùng tham gia các hoạt động của Tổng cục Chính trị. Còn nhớ, năm 1994, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội, Nhà nước tuyên dương Danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho những người mẹ đã hiến dâng cho Tổ quốc những người con yêu quí trong mấy cuộc chiến tranh. Sau khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh, Nhạc sĩ An Thuyên kịp thời sáng tác bài hát: " Mẹ Việt Nam Anh Hùng”. Vừa viết xong, Nhạc sĩ An Thuyên đề nghị Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cùng Nhạc sĩ Trần Hoàn, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin nghe biểu diễn trước - dưới hình thức thông qua. Với tư cách là Cục trưởng Cục Chính sách, tôi được mời dự. Ca từ và tiết tấu âm nhạc của bài hát thật hay, đầy cảm động và rất ý nghĩa. Sau biểu diễn, nhạc sĩ An Thuyên hỏi, tôi trả lời ngay : “ Bài hát của anh thật tuyệt vời! Nhân đây, chúng tôi xin đề nghị các thủ trưởng cho biểu diễn bài hát này trong buổi Lễ tuyên dương danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng sẽ diễn ra tại Phủ Chủ tịch, ngày 19 / 12 / 1994". Chúng tôi thật mừng vì đề nghị đó được cấp trên chấp thuận. Buổi biểu diễn thật xúc động, ý nghĩa. Năm 1997, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Thương binh Liệt sĩ đồng thời là kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống của ngành chính sách Quân đội, xét thấy cần có một bài hát truyền thống cho ngành chính sách, Nhạc sĩ An Thuyên khêu gợi tôi viết một bài thơ để anh ấy phổ nhạc. Vậy là “ Bài ca người lính nghĩa tình” được ra đời. Sau đó, Cục Chính sách đưa vào chương trình tham gia Hội diễn Văn nghệ quần chúng cơ quan Tổng cục Chính trị năm 1998, đạt giải xuất sắc. Nhiều năm sau này, bài hát đó được công diễn nhiều lần ở Tổng cục Chính trị  - khi thì Hội diễn, khi thì vào dịp kỷ niệm.  Hồi ấy, anh chị em trong Cục Chính sách vẫn nói vui đó là bài hát “ Cục ca “. Năm 2012, tôi và Nhạc sĩ An Thuyên cùng các Tướng lĩnh quê Nghệ An được Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An mời về gặp mặt. Chúng tôi cùng nghỉ ở khách sạn Phương Đông và tham gia các hoạt động của Đoàn đi tham quan Khu di tích Truông Bồn ở Đô Lương, Đền thờ Vua Quang Trung ở núi Quyết, dự buổi gặp mặt với lãnh đạo tỉnh,… Anh em bù khú với nhau biết bao nhiêu chuyện. Năm 2013, Tỉnh đội Nghệ An mời tôi tham gia biên soạn cuốn “ Tướng lĩnh quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh” với 106 vị. Khi viết về An Thuyên, tôi đã cố gắng phác họa được phần nào chân dung, sự nghiệp một Thiếu tướng, Nhạc sĩ tài năng, đức độ.  Mới gần đây thôi, tôi còn gặp anh trong buổi Lễ kỷ niệm 125 Ngày sinh Bác Hồ do Hội đồng hương tỉnh Nghệ An tổ chức tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Sau đó, ngày 22 / 5 / 2015 lại cùng dự cuộc họp chuẩn bị thành lập Hội Doanh nhân tiêu biểu Hồng Lam ở Hà Nội, tại khách sạn Bảo Sơn - Nhạc sĩ  An Thuyên được tiến cử là thành viên Ban Chấp hành lâm thời - Anh em còn trò chuyện dí dỏm thân tình. Ôi! Có biết bao kỷ niệm chung riêng đáng quí qua các thời kỳ giữa chúng tôi.
Chỉ trong một thời gian rất ngắn đây thôi, tiếp sau các nhạc sĩ bậc thầy: Giáo sư Trần Văn Khê, Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, Nhạc sĩ Phan Nhân, sự ra đi đột ngột của Nhạc sĩ An Thuyên - người nổi tiếng với những ca khúc trữ tình mang âm hưởng dân ca - là thêm một sự trống vắng trong nền âm nhạc Việt Nam đương đại.
Tôi quan niệm rằng: Lực lượng Văn hóa Nghệ thuật trong Quân đội như một Binh chủng, thì Thiếu tướng - Nhạc sỹ An Thuyên thật xứng đáng là một trong những Tư lệnh tài năng của Binh chủng ấy.
Toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nhạc sĩ An Thuyên gắn bó với quê hương, đất nước, quân đội và tình yêu con người. Anh đã đoạt nhiều Giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Năm 2007, Nhạc sĩ An Thuyên được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật với chùm tác phẩm:  Em chọn lối này, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Hành quân lên Tây Bắc. Bằng làn điệu dân ca, âm nhạc của An Thuyên đã đưa người nghe về với hình ảnh thân thuộc của quê hương: dòng sông, bến nước, con đò, bờ đê, đồng ruộng, đàn trâu, chiếc áo tơi, tuổi thơ,… Đó là tất cả những gì gắn bó mật thiết thân thương gần gũi với quê hương xứ sở của mọi người dân Việt. 
Nhạc sĩ An Thuyên đã ra đi nhưng đâu đây vẫn ngân nga "Dòng sông thi ca" của anh - người Nhạc sỹ của " thôn ca" như lúc sinh thời anh vẫn muốn mọi người gọi mình như thế. Ngoài đời có rất nhiều người chưa một lần gặp anh, nhưng sự ra đi của một Con Người như Nhạc sĩ An Thuyên đối với họ là một nỗi đau buồn, mất mát lớn trong trái tim. Những ai đã từng như anh bước ra từ một mái quê nghèo, cùng tắm trên một dòng sông, cùng " Bẻ đôi câu thơ tôi làm mái chèo lướt sóng / Đưa tôi về, đưa tôi về với người tôi yêu..."; cùng muốn mãi được " Neo đậu bến quê" đều có chung cảm thụ. Bởi thế, mọi người luôn trân trọng những tác phẩm để đời của Nhạc sĩ An Thuyên. 
Nhạc sĩ  An Thuyên là bậc thầy của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ được đào tạo trong và ngoài Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội. Những ca khúc của Nhạc sĩ An Thuyên sẽ tiếp tục lan tỏa, đi cùng năm tháng - tên tuổi anh còn mãi trong sự trân quí của người dân trên mọi miền Đất nước.
Vĩnh biệt Nhạc sĩ An Thuyên - một nhân cách, một tài năng đáng quí - một người đã dành trọn đời mình cho âm nhạc trữ tình, nhân văn, dân gian và hiện đại! Xin vĩnh biệt một người bạn đồng hương, đồng đội thân quí!
Xin chân thành chia buồn cùng chị Ngô Thị Huyền Lâm, các cháu và toàn gia quyến!
Xin chia buồn với những con người gần xa trên mọi miền Đất nước đã và đang mến mộ Nhạc sĩ tài năng An Thuyên!


                                                                    N M Đ

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2015

Tản văn - 'món ăn nhanh' gây tranh cãi

Phạm Hoài Nam xem thể loại này như fast food, làm người ta nhớ với phong vị riêng nhưng Đỗ Hoàng Diệu phản biện 'fast food vẫn bị e dè do độc hại. 

Tản văn, tạp văn, tùy bút hay đoản văn trước đây xuất hiện lác đác, nhưng trong một thập kỷ trở lại đây, thể loại này ngày càng nhiều. Chỉ riêng Nhà xuất bản Trẻ đã in tới 46 cuốn trong ba năm. Sáu tháng đầu năm nay, đơn vị này phát hành 18 đầu sách tản văn, với 32.000 bản được ấn hành ở Hà Nội. Trung bình, mỗi đầu sách tản văn in 2.000 bản.
Lượng người viết tản văn tăng cao, nhiều cây bút đã gây dựng được tên tuổi. Tác giả miền Nam thành công có Phan Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, miền Bắc có Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý. Trong khi Nguyễn Ngọc Tư có chất giọng riêng về đời sống sông nước, Phan Vàng Anh thể hiện chất trí tuệ, sắc sảo khía vào thực tế đời sống, Nguyễn Trương Quý cung cấp hiểu biết về Hà Nội đương thời thì Nguyễn Việt Hà có lối viết đạt được mẫu mực của thể loại.
Tuy vậy,  vẫn có không ít ý kiến trái chiều về thể loại tản văn. Một buổi tọa đàm có tên "Tản văn có phải fast food (đồ ăn nhanh)?" được tổ chức tối 1/7 tại Hội trường Trung tâm Văn hóa Pháp l'Espace, Hà Nội, với sự tham gia của các diễn giả: nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, nhà văn Đỗ Phấn, nhà văn Trương Quý. Đông đảo giới viết văn, phê bình, cùng bạn đọc cũng đồng hành cùng chuyên gia để định danh thể loại, phân tích những ảnh hưởng của nó trong đời sống văn học hiện đại.
body-Tan-van-1-9232-1435836275.jpg
Từ trái qua: Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà văn Trương Quý, nhà văn Đỗ Phấn tại buổi tọa đàm. Ảnh: Mai Kỳ.
Từ khía cạnh lý luận văn học, nhà phê bình Hoài Nam nói: "Tôi thấy tản văn có ba đặc điểm: Phi hư cấu, gắn với báo chí, không có cấu trúc viết nhất quán". Nhà phê bình Mai Anh Tuấn lại nói: "Tôi đồng ý tản văn đang bùng nổ. Nhưng tôi cho rằng, thể loại này ở Việt Nam hiện nay có tới hai phần ba là hư cấu. Tôi nghĩ để có tản văn hay, hãy loại bớt hoài niệm, hồi ức, mà chú ý tới chất khảo cứu, ví dụ các cuốn Xe máy tiếu ngạo và Còn ai hát về Hà Nội".
Bàn về chất lượng, nhà phê bình Phạm Hoài Nam ví thể loại với món fast food (đồ ăn nhanh) thời hiện đại, bởi nó được chế biến, tiêu thụ nhanh. "Thức ăn nhanh có nhiều loại... Nhưng đôi khi nó khiến người ta nhớ không phải vì ngon, mà vì phong vị riêng, lạ" - Hoài Nam nói.
Nhà văn Đỗ Hoàng Diệu phản biện: "Tôi không đồng ý ví tản văn với fast food. Rất nhiều người thích ăn đồ ăn nhanh, vì nó có nhiều đường, nhiều muối, tạo vị ngon. Nhưng người ta vẫn e dè fast food vì sợ nó độc hại. Còn tản văn, có nhiều cuốn hay, không thể ví nó với thứ ngon mà độc hại được".
body-Tan-van-2800-1435836275.jpg
Sáu đầu sách tản văn vừa ra mắt hôm 1/7.
Nhiều người viết từng cho rằng tản văn chỉ là văn chương loại hai. Bản thân Nguyễn Việt Hà có lúc cũng mặc định tản văn "là thể loại nhí nhảnh, thể loại lót đường trong lúc chưa ra được tác phẩm dài hơi như tiểu thuyết". Nhưng sau khi cuốn Con giai phố cổ trở thành bestseller, nhà văn đã thay đổi suy nghĩ. Ngay cả trong tiểu thuyết mới nhất Ba ngôi của ngườicủa anh, có lẫn cả tản văn vào 70 trang đầu. Điều đó nói lên sức nặng của thể loại này, với sức mạnh vượt qua giới hạn của thể loại, trở thành một cách kể.
Nói tới chuyện bếp núc sáng tác, nhà văn Đỗ Phấn chia sẻ ông viết tản văn từ sự đặt hàng của một người bạn làm báo. 15 năm qua ông giữ một chuyên mục tản văn trên báo chí. Ông nói: "Trên thực tế tôi không dành nhiều thời gian, tâm sức để viết tản văn. Tản văn không dụng công như truyện ngắn, nó chỉ là lát cắt hết sức nhỏ trong cuộc đời. Tản văn của tôi là những suy nghĩ tản mạn, vu vơ, đôi khi không tác động nhiều tới cuộc sống".
Tác giả của Dằng dặc triền sông mưa luôn bị quy định số chữ khi viết tản văn. Ông nói: "Tản văn là thể loại vô cùng tốn chữ, bởi càng viết ít, ta càng phải chọn chữ. Vì vậy, nó là môi trường để ta rèn cách viết. Tôi mới có sáu cuốn tản văn thôi, nhưng chính quá trình lâu dài rèn viết tản văn cho ngay ngắn, mà tạo cho tôi thói quen khi cầm bút viết tiểu thuyết được dễ dàng, trơn tru". 

    Lam Thu
Theo : VnExpress


An Thuyên-vẫn ngân nga một “Dòng sông thi ca”

QĐND
 - Nhạc sĩ An Thuyên đã đột ngột ra đi. Với mọi người từng cùng sống, từng nghe tiếng hát, âm nhạc và ca khúc của anh có lẽ không ai chịu đựng nổi sự mất mát, hụt hẫng thế này!
Với những nghệ sĩ trên cõi đời, ai cũng thường xuất hiện và dâng hiến cho mọi người những cái đẹp cùng những điều ý vị đến không ngờ, An Thuyên là một trong những nghệ sĩ như thế và không chỉ như thế, ngoài âm nhạc anh còn là một tâm hồn, một nhân cách, một ý chí san sẻ, cưu mang nâng bước, thúc đẩy những con người, những tập thể vươn lên trên con đường nghệ thuật và cuộc sống.
Mới hôm nào một chàng trai xứ Nghệ, một sĩ quan trẻ từ Quân khu 4 ra nhập học trường Trung cấp Nghệ thuật Quân đội. Mới hôm nào, chúng tôi đến nghe buổi biểu diễn tốt nghiệp của anh cùng Văn Thành Nho. Những tác phẩm tốt nghiệp của các anh đều vượt khỏi tầm vóc của một trường trung cấp đã đến hồi eo hẹp trước yêu cầu phát triển văn hóa, nghệ thuật trong quân đội và đất nước. Ngôi trường phải đổi mới, nâng cấp và chính An Thuyên là người dám nghĩ, dám làm, dám đứng mũi chịu sào cùng anh em làm văn hóa nghệ thuật trong quân đội nâng trường trung cấp thành trường cao đẳng, rồi Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội. Không phải vì ý muốn chủ quan của số đông người, không chỉ vì nhu cầu, điều quan trọng là sức vóc, niềm đam mê của An Thuyên và cả một tập thể nghệ sĩ, cán bộ quân đội đã đủ độ để tạo dựng một cơ đồ mới.
Thiếu tướng, nhạc sĩ An Thuyên. Ảnh: VÕ HÀ.
“Em chọn lối này”, “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác”, “Hành quân lên Tây Bắc”, “Khi xe tăng qua miền quan họ”, “Thơ tình của núi”, “Chín bậc tình yêu”… An Thuyên lạ thật, đâu chỉ ví, giặm quê mình, âm điệu dân ca khắp miền đều nhập vào anh tự nhiên, nhuần nhuyễn đến thế để cho ra những ca khúc dân ca hiện đại đẹp cả tình lẫn ý, cả nhạc lẫn lời. Khó có thể lý giải sự thành công của anh ngoài nỗi yêu thương con người cùng tài năng riêng có của nghệ sĩ. “Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà” (phỏng thơ Quang Huy) lại là một bất ngờ đáng yêu khác của An Thuyên khi anh thấm vào người chất Nga, hòa quyện tâm hồn Nga-Việt trên công trường thế kỷ thay trời đổi đất cùng nhịp điệu giục giã trong công cuộc đổi mới đất nước. Ấy là những năm giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước. An Thuyên có cái tài của người thấm đẫm chất dân gian, lại bắt nhạy với những biến diễn cuộc sống và luôn dư sức để nhuần nhuyễn và nâng tầm chưng cất khái quát từ âm nhạc và cuộc sống. Nhạc sĩ quân đội Đinh Công Thuận nhận xét rằng âm nhạc của nhạc sĩ An Thuyên thành tạo ba nhóm chính, tất cả đều nhuần nhị, sâu sắc. Đó là An Thuyên người lính, An Thuyên dân gian và An Thuyên triết lý. Với chất lính, chất dân ca đã rõ khi liên tiếp những ca khúc và nhạc không lời, giao hưởng của anh ra đời trong những năm sau này như: “Mẹ Việt Nam anh hùng”, “Ca dao em và tôi”, “Huế thương”, “Neo đậu bến quê”, “Chiều sông Thương”… Còn triết lý, trong concerto cho sáo và dàn nhạc giao hưởng cùng các ca khúc “Ông vua đi cày”, “Dòng sông thi ca”, “Chú cuội chơi trăng”, “Phật Bà nghìn mắt nghìn tay”… Sau tất cả còn lại là thi ca của con người, phải chăng dòng sông thi ca chảy mãi cùng thời gian, không gian đã cuốn An Thuyên đã và đang đi mãi cùng dòng sông tâm hồn người dân, chiến sĩ đất nước này.
Có một An Thuyên nhạc sĩ tài ba. Có một An Thuyên Thiếu tướng, Hiệu trưởng một trường đại học văn hóa nghệ thuật có uy tín cao của đất nước. Và có một An Thuyên người bạn của biết bao người. Tôi còn nhớ chính anh đã khơi nguồn tài năng âm nhạc nơi đồng bào các dân tộc thiểu số khi mời các em thiếu nhi có năng khiếu ở Tây Nguyên và nhiều vùng về học trong trường. Tôi nhớ lời anh dặn các thầy cô giáo và học viên trước khi đến biểu diễn cho các cơ quan, đơn vị, trong đó có Báo Quân đội nhân dân: “Vô tư, hết mình đi. Chúng ta cùng nguồn cội, cùng bến bờ”.
Và tôi nhớ một An Thuyên đa tài, anh say sưa tổ chức cho thầy trò trong trường tập và chơi bóng bàn theo hướng có bài bản và anh là người cầm vợt tham gia cổ vũ ngay cả khi anh bị ngã, chấn thương. Tôi cũng rất nhớ An Thuyên chụp ảnh với con mắt ham phát hiện, khám phá… Dường như với ai, với bất cứ việc gì An Thuyên cũng sẵn lòng chia sẻ. Chúng tôi vẫn nhớ sau những cuộc làm việc, cuộc thi đấu thể thao cùng nhau là miên man chuyện bên mâm cơm ăn tươi của lính.
Anh vẫn còn những sáng tác dở dang và bao điều ấp ủ. Anh vẫn còn những cuộc hẹn đến nghe ca khúc mới của anh, xem ảnh anh chụp, cả nghe nhạc qua băng cối rất nét và ấm của một thời… Nhớ, thương tiếc An Thuyên, những cung bậc, sắc độ của “Dòng sông thi ca” đang ngân nga trong mỗi chúng ta.


                                                                       MẠNH HÙNG

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Phô trương, sính hình thức, loạn danh xưng!

[+] Cỡ chữ: Mặc định    


Vinh danh, ghi nhận thành tích của cá nhân, tổ chức nào đó vốn là hoạt động cần thiết, bình thường của xã hội. Nhưng những cá nhân, hoặc tổ chức được vinh danh một cách thái quá, thậm chí vinh danh cả khi làm ăn kém hiệu quả đã làm lẫn lộn giá trị thật và giá trị "ảo", đẩy tới tình trạng loạn danh xưng, tạo cơ hội cho bệnh phô trương, sính hình thức... hoành hành.