Menu ngang

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Con đường dành cho số ít cá nhân xuất chúng

Con đường dành cho rất ít các cá nhân xuất chúng, mà với họ, việc học dễ như lấy đồ trong túi vậy. Họ không tốn quá nhiều thời gian và công sức cho việc đó trong lúc vẫn dành đủ thời gian cho các đam mê khác.
LTS: Trong các bài viết trước, tác giả Trần Văn Tuấn đã lý giải nguồn gốc những vấn đề đang kìm hãm sự phát triển năng lực cá nhân của mỗi người Việt. Riêng bài viết dưới đây của tác giả Nguyễn Tuấn Hải nhìn nhận vấn đề từ góc độ giáo dục.  Xin trân trọng giới thiệu cùng  bạn đọc.
Học nhiều, học khó có đúng?
Người Nhật quan niệm một đứa trẻ bình thường không nhất thiết cần phải học nhiều và học khó để trở thành học giỏi nếu như quá trình này tốn kém về thời gian, công sức và tiền bạc. Fukuzawa Yukichi, một trong những nhà tư tưởng lớn của Nhật Bản, từng nói, học không phải là học làm sao cho nhiều và càng không phải học tới mức thật khó những thứ không thiết thực cho cuộc sống (trích Khuyến học).
Đó là con đường dành cho rất ít các cá nhân xuất chúng mà đối với nhóm thiểu số này việc học dễ như lấy đồ trong túi vậy. Họ không tốn quá nhiều thời gian và công sức cho việc đó trong lúc vẫn dành đủ thời gian cho các đam mê khác. 
Chương trình học tiểu học của Mỹ và Nhật rất nhẹ nhàng. Lên trung học tình hình sẽ thay đổi theo hướng chuyên sâu nhưng một khi càng học sâu thì học sinh càng học ít môn đi. Khái niệm các môn tự chọn và môn AP theo kiểu Mỹ (chuyên sâu: advanced programme) ra đời. Vào các năm cuối trung học số môn tự chọn có thể giảm xuống thậm chí chỉ còn 4 môn (đặc biệt là A Level tại Anh) và số môn chuyên sâu AP có thể là 1 hoặc 2. 

Ở Việt Nam thì sao?   
1. Ở các trường chuyên: học sinh chuyên gần như dành thời gian và công sức học một môn chuyên nhiều và khó tới mức không cần thiết trong khi các em vẫn phải học gần chục môn  khác cùng lúc. Học sinh có thể giỏi một môn chuyên nào đó nhưng lại rỗng kiến thức ở các môn khác. Đó chưa là nói tới các vấn đề về kỹ năng làm việc hay khả năng sáng tạo.  
2. Ở các trường thường: học sinh học hàng chục môn trong tình trạng yếu kém về chất lượng dạy và học trong trường và trên lớp theo kiểu học khuôn mẫu và cứng nhắc áp đặt kiến thức và thiếu thực hành. Học sinh học nhiều môn với rất ít hứng thú và đam mê. Việc học thêm khiến cho khối lượng kiến thức nhân lên rất lớn.  
Ở trường thường thì phổ biến chuyện học nhiều còn ở trường chuyên thì vừa học nhiều vừa học khó. Thậm chí rất khó và càng khó thì phụ huynh càng thích.  
Hãy nhìn vào đề thi vào chuyên các môn đặc biệt là toán vào cấp 2 và cấp 3 để thấy được cả hai mức độ nhiều và khó mà một đứa trẻ đến trường  phải chịu đựng là thế nào. Học sinh nhất thiết phải luyện theo kiểu gà chọi và gà nòi qua nhiều năm (tối thiểu là 2 năm để làm quen và trở thành thợ giải bài nhanh nhất có thể). Ngoại trừ một số cá nhân xuất sắc vượt lên để không bị đóng khung về kiến thức ra thì còn lại đa phần các em chỉ làm bài theo dạng quen và theo kiểu công thức máy móc. Khó ở đây là được hiểu và khai thác theo chiều hướng lắt léo và đánh đố. Nếu bạn không học trước và học nhiều kiểu đó thì bạn đừng mong có thể giải được bài.  
Như vậy khó kiểu này là vô ích trong việc rèn khả năng sáng tạo và thích ứng. Thậm chí nó làm cho tư duy trẻ trở nên cứng nhắc và bảo thủ.  
Câu chuyện về mức độ khó khi các học sinh của ta theo học sâu về các môn ở khía cạnh: nó có đúng với sự phát triển về trí tuệ và tâm lý lứa tuổi hay không? Nó có thực sự cần thiết khi chúng ta bỏ qua một số thứ kiến thức nền móng cần thiết cho cuộc sống sau này của một người trưởng thành hay không?  
Nhìn vào chương trình học của học sinh Việt Nam chúng ta đều có cảm giác là các nhà viết SGK muốn bọn trẻ biết hết mọi thứ, nhưng thực ra lại thiếu nhiều thứ. Nguyên điều này đã sai về phương pháp giáo dục và việc học sinh từ học nhiều chuyển sang học khó đã vượt qua ngưỡng trí tuệ và tâm lý của một đứa trẻ. 
Với kiến thức nhiều và khó mang tính áp đặt và máy móc, bọn trẻ trở nên sợ hãi trước kiến thức và bài thi thay vì tò mò khám phá và nghi ngờ các vấn đề để dám đặt câu hỏi nhằm mục đích lật ngược các vấn đề đó. 
Ví dụ về nội dung tiểu học của ta trong phép so sánh với tiểu học của Mỹ: cho dù SGK và sách tham khảo cố nhồi kiến thức vào đó thì vẫn còn đó sự thiếu vắng các mảng kiên thức sau mà trẻ cần biết , cần được học mà không cần phải học nhiều: 
Đó là: Các kiến thức về khoa học về  trái đất, về sự sống và về vật lý (Earth Science: Life Science và Physical Science) và các kiên thức về xã hội trong môn Social Studies bao gồm Kinh tế học (Economics ); Chính phủ (Government); Lịch sử (History); Địa lý (Geography) ; Văn hóa (Culture). 
Nền giáo dục của chúng ta đã vi phạm nguyên tắc về điểm rơi của kiến thức: đến sớm hay đến muộn đều không được mà phải đến đúng lúc. 
Học suốt đời 
Tinh thần tự học suốt đời là một tinh thần quý giá và cần thiết với từng cá nhân nhưng đó là sự học nhấn mạnh vào tự học chứ không phải thứ xui khiến người ta cứ mãi đi học vì kiến thức và bằng cấp như ở ta. 
Tốt nghiệp đại học chưa có việc làm thì đi học thạc sỹ. Học xong thạc sỹ mà chưa đủ để kiếm việc thì học tiến sỹ. 
Người học được hướng vào việc học thay vì vào việc làm một cái gì đó và cống hiến. 
Một xã hội đầy bằng cấp và đầy những người học mãi như xã hội ta vẫn không thể làm ra một cái đinh ốc cho Samsung. Đó là bởi người ta học thích học chứ không thích làm. Trong khi, thay vào đó cần phải học theo đam mê và khả năng, đừng học nhiều và khó không cần thiết.  
Mục tiêu giáo dục cần nhấn mạnh vào sự đa dạng về kiến thức mà học sinh cần có được. Các em không cần phải có hiểu biết giống nhau. Các em có quyền không thích học môn học này hay học dốt môn học kia. Để cho các em có thời gian và dành trí lực học giỏi một môn học khác theo cả đam mê lẫn khả năng của mình. 
Để xã hội chúng ta có được các cá thể khác nhau về kiến thức và khả năng. Và xã hội có thể chọn lựa từ lực lượng lao động trẻ những con người phù hợp thay vì cố tìm kiếm và chọn những con người giỏi nhất như hiện nay. 
Sự đa dạng ở đây chính là tiền đề cho sự công bằng và nhân văn - có được qua giáo dục. 
Nguyễn Tuấn Hải

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Tháng ba nhớ hoa xoan


Người ở làng ra đi, mỗi một lần thấy những vầng xoan tím trắng bồng bềnh trong làn sương khói mờ ảo lại ngỡ như mình đang ở cố hương. Một cảm giác bình yên tạt về trong tâm khảm!

Quê tự trong lòng nó xưa nay có biết bao loài hoa đẹp, hoa thơm. Những hoa cau, hoa khế, hoa bưởi, những thiên lý, hoa gạo, xuyến chi... từng làm xao lòng biết bao tâm hồn đa cảm. Nhưng cứ tháng ba mà người quê chưa thấy những chùm hoa li ti, tim tím, trăng trắng, e ấp làm duyên làm dáng trong vườn, ngoài ngõ, trên chái bếp, trên những ngả đường làng khúc khỉu quanh co thì thấy thiêu thiếu, văng vắng như đánh mất một thứ gì tri âm, tri kỷ vậy.
Xoan mang trong mình một sức sống mãnh liệt, tràn căng. Mùa đông cây trơ trọi, khẳng khiu, ôm những chùm quả sạm đen chơi vơi đứng giữa đất trời buốt giá. Mùa xuân sang cây đâm chồi nảy lộc xanh mướt mát, non tơ. Qua một đêm mưa phùn những nụ xoan bừng thức, xoan nở nhanh một cách ngỡ ngàng. Thoạt đầu còn e ấp li ti, mấy hôm đã nở bung rợp một góc trời. Từ xa nhìn tới, tán hoa xoan như những áng mây bồng bềnh, lơ lửng giữa đất trời nồng ấm tháng ba, huyền ảo mơ màng, hư hư, thực thực.
Tháng ba nhớ hoa xoan


Ai đó bảo rằng xoan là thứ hoa quê mùa cũng phải. Nhưng quê mùa theo đúng nghĩa của nó! Những cánh hoa mềm mại, xinh xinh. Xoan đẹp một vẻ tự nhiên, thuần khiết, mộc mạc và dung dị như người quê, như hồn quê. Xoan nhả vào không gian mênh mông làng quê một mùi hương thoang thoảng, dìu dịu, nhè nhẹ. Nó không ngàn ngạt như hoa sữa, cũng không nồng xức như hoa bưởi mà man mác như gợi một điều gì đó đã xa. Có đi dưới những gốc xoan vào mỗi buổi chiều, hít hà cho căng lồng ngực cái mùi là lạ quen quen ấy thì mới thấy mới cảm hết được.
Ngắm nhìn những vầng lá, hoa chen lẫn ấy, tự trong sâu thẳm hồn ta dâng lên một cảm giác khó tả. Và chỉ khi được tắm táp dưới lớp lớp những làn mưa hoa xoan cánh trấu, ta mới có thể gọi được thành tên cái cảm giác kia chính là nỗi buồn. Hoa xoan đẹp nhưng thấm buồn! Buồn nỗi buồn chủ quan của hồn người? Hay xoan đẹp mà buồn vì một lẽ khác? Lẽ vì vẻ viên mãn của xoan chỉ tày gang, chốc lát? Mới đó xoan còn nụ e ấp, ngượng ngùng như thiếu nữ, chỉ độ mấy ngày qua xoan đã rụng tơi bời, tan tác. Xoan lung linh sắc hương, nhưng sắc ấy, hương ấy mong manh dễ vỡ, dễ tan như bóng nước.
Những đứa trẻ quê sẽ níu giữ mùa hoa theo cách riêng của chúng. Các em gái dùng những cành hoa xoan kết làm vương miện, bó lại thành bó tròn như hoa cưới rồi chơi trò cô dâu chú rể. Những em khéo tay còn nhặt từng cánh hoa bé xíu, tỉ mẩn xâu vào sợi chỉ làm nên những chiếc vòng cổ, vòng đeo tay rất xinh. Có khi những bông xoan rụng lại đượctụi nhỏ nhặt để chơi đồ hàng hay xếp thành đủ dạng hình thù ngộ nghĩnh Tàn cuộc chơi, chúng thường hay gom tất thảy cánh hoa rồi tung lên trời như những bông hoa tuyết.      
Hết mùa hoa thì bước sang mùa quả. Quả xoan nhỏ sai chi chít, kết thành từng chùm xanh ngăn ngắt. Quả xoan càng lớn càng căng tràn sức sống. Mới đầu nó chỉ bé bằng đầu tăm, bẵng đi mấy ngày đã bằng hạt gạo, rồi như hạt đậu phộng, chẳng mấy chốc nó đã lớn bằng đầu ngón tay út. Tụi con gái xúm xít túm thành từng bó gồng gánh đi chợ bán. Cả một ghánh nặng quả chỉ đổi lấy mấy cái lá tiền râm bụt, vậy mà vẫn vui, vẫn háo hức say mê.
Tụi con trai tinh nghịch chặt lấy cái đốt hóp làm thành súng giắt quanh cạp quần. Chúng đua nhau trèo lên cây hái những chùm quả xoan vặt ra từng quả một, nhét đầy các túi áo, túi quần làm đạn. Từng tốp chia đều quân chơi trận giả quanh nhà, quanh những đống rơm, trong các vòm cây.Tiếng súng hóp đẩy đạn nghe đom đóp, đoèn đoẹt rất vui tai.
Thời gian dần qua, màu hoa tím trắng vẫn đến hẹn lại lên, thủy chung son sắt với độ xuân thì. Chỉ những đám trẻ ngày xưa là không còn ham nghịch dại như trước. Bởi đơn giản một điều họ đã lớn, đã trưởng thành. Những cô gái ửng hồng đôi má, ngượng ngùng khi biết có người trộm nhìn nhành hoa xoan rung rinh em gài lên mái tóc. Chàng trai ngày nào mê súng hóp, giờ chỉ thích lặng lẽ đứng, lặng lẽ nhìn màn mưa hoa xoan tím trong mắt chiều. Những hình thù ngỗ nghĩnh của ngày xưa được thay bằng những cái tên của người họ thầm thương trộm nhớ. Gió sẽ không thể cuốn đi được nữa bởi cánh xoan thơm đã được ép vào trong những trang vở học trò.
Dưới những tán xoan biết bao mối tình đơm hoa kết trái. Và chắc cũng phải chừng ấy mối tình chia xa, ly biệt. Xoan vẫn nở bung, vẫn rơi rơi, rơi đầy tím xác như bao đời nay vẫn vậy. Nhưng ta biết, ta biết chắc chắn một điều những bông hoa thủy chung ấy hoài thai vào một ngày đất trời ấm áp, trong trẻo tháng ba. Những mối tình xưa cũ vẫn ngọt ngào trong nẻo khuất hồn quê.

X.Chi - K.Hồng



Việt Nam – Hoa Kỳ: Nền tảng nào cho cuộc chơi?

Cũng như mọi mối quan hệ khác trên chính trường quốc tế, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ bị chi phối bởi lợi ích các bên.
LTS: Vừa qua, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ đã trình quốc thư lên Tổng thống Obama đề nghị hai bên tích cực chuẩn bị cho chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nhân dịp này, Tuần Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đình Lương, nguyên trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ về những dấu mốc trong quan hệ hai nước suốt 20 năm bình thường hoá quan hệ.
Vì lợi ích chung
Hai  mươi năm qua quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, và nay đã thành quan hệ đối tác toàn diện. Riêng ông, ông nhìn nhận thế nào về mối quan hệ đó?
Cũng như mọi mối quan hệ khác trên chính trường quốc tế, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ bị chi phối bởi lợi ích các bên.  Chúng ta hãy điểm qua lịch sử.
TPP, quan hệ Việt-Mỹ, Nguyễn Đình Lương
Ông Nguyễn Đình Lương
Năm 1873, ông Bùi Viện vượt qua sóng gió đại dương Thái Bình Dương sang tận Washington, chờ cả năm trời, gặp cho được Tổng thống Mỹ để  cầu viện chống Pháp. Khi gặp, Tổng thống Mỹ đã hoan nghênh ngay, bởi khi đó Mỹ và Pháp đang đánh nhau ở Mexico. Ngặt nỗi Bùi Viện không mang theo Quốc thư, nên ông đành trở về tay không. Nhưng khi ông Bùi Viện trở lại cùng Quốc thư, Mỹ lại không quan tâm nữa, do chiến tranh Mỹ - Pháp tại Mexico đã kết thúc. Hai nước không còn lợi ích chung. .
Những năm 1945-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 11 lần gửi thư, gửi điện cho Tổng thống và Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, đề nghị ủng hộ độc lập của Việt Nam và thiết lập quan hệ toàn diện giữa hai nước, nhưng không một hồi âm. Bởi vì VN không hiện hình trên màn ảnh lợi ích nước Mỹ, hoặc bị hình ảnh lợi ích với các nước lớn khác che khuất, nên Mỹ không quan tâm.
Mãi tới năm 1995 hai nước bình thường hoá quan hệ ngoại giao. Chỉ một năm sau bình thường hoá quan hệ, Hoa Kỳ đã chủ động bắt đầu đàm phán hiệp định thương mại song phương (BTA) và Việt Nam hưởng ứng ngay, vì hai bên đều cần, đều muốn, đều nhìn thấy lợi ích.
Khi đàm phán BTA, Đại sứ Mỹ đầu tiên Peterson đã nói ông hy vọng có BTA, xuất khẩu Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ tăng lên 5-6 tỷ đô la, con số quá lớn đối với Việt Nam lúc đó và chưa ai hình dung được. Ông Đại sứ không dự đoán về mốc thời gian cụ thể.
Nhưng chỉ cần 2 năm thực thi BTA, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã đạt con số đó, và hôm nay, 2014 đã đạt được hơn 18 tỷ USD, gấp hơn 3 lần kỳ vọng của Peterson.
Hoa Kỳ luôn là thị trường xuất khẩu lớn nhất và cũng là thị trường xuất siêu lớn của Việt Nam.
Như vậy trong chuyện xuật khẩu này Việt Nam có lợi, chứ Mỹ nhập siêu từ Việt Nam đâu hẳn đã có lợi được bao nhiêu?
Lợi ích của Việt Nam thì đã rõ, ai cũng thấy.
Nhưng Mỹ cũng có lợi chứ. Người tiêu dùng Mỹ có sự lựa chọn phong phú hơn. Trên thị trường nước Mỹ cũng có thêm một đối thủ cạnh tranh ngày một chắc tay, góp phần tăng sức cạnh tranh chung của nền kinh tế Mỹ. 
Thứ nữa, một chiếc áo sơ mi gia công ở Việt Nam giá thành khoảng 10 USD đến 15 USD, Việt Nam chỉ được 4-5 USD tiền công, bán trên thị trường Mỹ  80 - 100USD. Hay một đôi giày thể thao giá thành sản xuất ở VN trị giá khoảng 10 - 20% giá bán trên thị trường Mỹ.
Tức là hai bên đều có lợi, chưa ai tính được ai lợi nhiều, ai lợi ít, nhưng trong một cuộc chơi, anh nào giỏi hơn, khôn hơn anh đó thắng nhiều hơn.
Lợi ích này càng nhiều, càng tăng, quan hệ kinh tế thương mại càng phát triển.
Ngoài kinh tế - thương mại, Hoa kỳ và Việt Nam còn có nhiều lĩnh vực hợp tác. Lợi ích ở đây được hiểu như thế nào, ví dụ như trong chiến lược địa chính trị?
Có lợi thì mới có cuộc chơi.
Trên chính trường thế giới, các cuộc tập hợp lực lượng hiện đang diễn ra sôi động. Những ai có nhu cầu tập hợp lực lượng ở châu Á (và cả trên thế giới) thì không thể bỏ qua Việt Nam vì vị trí địa chính trị của nó. Và Hoa kỳ cũng vậy, chắc chắn Hoa Kỳ không muốn để Việt Nam đứng ngoài cuộc tập hợp của mình, lại càng không muốn để Việt Nam là người cản phá chiến lược đó. Chính vị trí địa chính trị của Việt Nam đang buộc người Mỹ phải từng bước có những cam kết hợp tác ngày càng sâu, trong nhiều lĩnh vực.
Tôi không hình dung ra chiến lược chuyển trục châu Á của Mỹ sẽ như thế nào, nếu không tính tới yếu tố Việt Nam, trong lúc Việt Nam đang chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ, và cũng có nhu cầu tập hợp lực lượng, tìm cho mình sự yên ổn để phát triển, trong một thế giới không yên ổn.  
Lợi ích càng tăng, càng nhiều đòi hỏi sự hợp tác càng rộng, càng sâu. Đó cũng là tính tất yếu của các bước phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa kỳ trong tương lai.
Khi lợi ích đã nhiều, đã lớn, mỗi bên đều biết kiềm chế, là nhẹ bớt đi sự khác biệt để khai thông cho sự hợp tác. Hoa Kỳ muốn lôi kéo Việt Nam thì phải làm nhẹ đi những đòi hỏi về nhân quyền. Việt Nam muốn chơi với Mỹ thì phải gạt bỏ đi những khác biệt, ví dụ như đang xảy ra trong đàm phán TPP.
Cũng có lúc, những biến động chính trị xã hội trên thế giới hoặc khu vực tác động đến quan hệ các nước. Ví dụ các diễn biến ở biển Đông, dường như đã làm cho Mỹ xích lại gần Việt Nam hơn và đẩy nhanh việc Hoa Kỳ nới lỏng cấm vận vũ khí sát thương.
Trong bài tổng hợp những kết quả cuộc hội thảo “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 20 năm thành công hơn nữa” diễn ra vừa qua tại Hà Nội, ông Viện trưởng Học viện Ngoại giao Đặng Đình Quý, người tổ chức và chủ trì hội thảo, đã đưa ra nhiều nhận định sâu sắc và thú vị. Trong số đó tôi muốn nhắc lại một nhận xét: Lợi ích của Việt Nam và Hoa Kỳ không chỉ trong quan hệ song phương mà cả trong hợp tác giữa hai nước trong những khuôn khổ lớn hơn như ASEAN, AFTA và nhiều tổ chức quốc tế khác…
Ví dụ chiến lược chuyển trục châu Á của Mỹ không thể không tính tới ASEAN. Trong lúc có nước luôn chọc gậy bánh xe thì Hoa Kỳ coi sự đoàn kết thống nhất và sự vững mạnh của ASEAN là nằm trong lợi ích của Hoa Kỳ, và Việt Nam đang là một thành viên tích cực, chân thành mong muốn đóng góp cho sự lớn mạnh, đoàn kết thống nhất trong ASEAN. Vậy sự phối hợp hợp tác của Hoa Kỳ và Việt Nam ở đây là rất cần thiết, rất có ích.
Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được đánh giá là một bước phát triển mới của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ. Theo ông, Việt Nam và Hoa kỳ đang theo đuổi những lợi ích gì ở đây?
Cuộc đàm phán TPP hay ở chỗ, nó là một là đàm phán cả gói (không tách riêng vấn đề) và đàm phán đa phương, cả một tập thể 12 nước, mà Hoa Kỳ coi như người chủ trì. Cách làm đó sẽ giúp xử lý được một loạt vấn đề không thế giải quyết trong đàm phán song phương.
Những vấn đề nhạy cảm với Việt Nam như quyền lập hội, minh bạch công khai hoạt động của DNNN, công khai và bình đẳng trong mua sắm công, trong tiếp cận các nguồn lực vốn, tài nguyên, thị trường… trước đây khi đàm phán BTA Hoa kỳ đã nêu ra, nhưng Việt Nam kiên quyết không chấp nhận, kỳ này đàm phán tập thể, hầu hết các nước tham gia đàm phán đã chấp nhận rồi. Muốn kết thúc đàm phán thì Việt Nam phải có các phương án lùi và sau đó về phải sửa luật cho khớp với cam kết.
Khó khăn phức tạp như vậy, tại sao Việt Nam vẫn hăng hái tham gia, và dù biết Việt Nam sẽ rất khó nhưng Hoa Kỳ vẫn muốn Việt Nam tham gia?
Trong các nước Đông Nam Á, ngoài Brunei, Singapore và Malaysia tự nguyện tham gia từ đầu, Hoa Kỳ không rủ ai mà chỉ rủ Việt Nam. Có lẽ vì người Mỹ nghĩ rằng Việt Nam chơi với Mỹ còn hơn là không, và ít nhất đừng để Việt Nam bị người khác chi phối hoàn toàn.
Thứ nữa, rủ Việt Nam vào TPP tức là kéo Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thị trường sôi động và vô hình trung buộc Việt Nam cắt đi cái đuôi, cắt đi di sản của của nền kinh tế quan liêu bao cấp. Các di sản đó vừa là cho nền kinh tế Việt Nam kém hiệu quả, vừa duy trì một môi trường pháp lý vẩn đục, dung túng tham nhũng, khiến cho nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Mỹ ngại không dám bỏ vốn kinh doanh trên thị trường Việt Nam.
Và tại sao Việt Nam hăng hái ư? Sức ép kinh tế đang buộc Việt Nam phải hăng hái, nếu không bứt phá lên được thì nền kinh tế Việt Nam cứ bùng nhùng, thua kém và chắc chắn rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Tham gia TPP là một quyết định sáng suốt, là một hành động dũng cảm để tạo bứt phá, để đẩy áp lực đẩy tiếp tiến trình cải cách bên trong.
  • Hoàng Ngọc

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

TRĂM TUỔI VẪN PHẢI CẨN TRỌNG NGÔN HÀNH

  •   ĐOÀN LÊ GIANG
  •   tăng kích thước chữ
GS Anh hùng lao động Đặng Vũ Khiêu là một tên tuổi lớn, nhưng hình như danh quá thực tài. Ngày xưa cụ từng không chịu bản dịch Bình Ngô đại cáo của Bủi Kỷ -Trần Trọng Kim, nên đã dịch lại và công bố trong Nguyễn Trãi toàn tập, xb năm 1980 (nhân dịp UNESCO kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi). Bản dịch của cụ non và nhạt quá, kết cục là cho đến nay không một ai dùng, người ta vẫn dùng bản dịch của Bùi Kỷ-Trần Trọng Kim. Gần đây cụ còn soạn văn bia khắp nơi. Ở miền Nam văn bia cụ soạn đến mấy cái mà na ná nhau về nội dung (chung chung) và ngôn từ (sáo rỗng).
Cụ làm việc đáng trách nữa là khen tập sách của một anh chàng kỹ sư "dở người", muốn nổi tiếng theo kiểu đốt đền: chê ngôn ngữ Truyện Kiều nên đã sửa 1/3 tác phẩm của Nguyễn Du, thay vào đó là ngôn từ ngô nghê, nhảm nhí của mình. Đành rằng ở một số nước có chuyện "tân dịch" các tác phẩm cổ điển, nhưng không phải là làm như thế. Một việc làm nhảm nhí phản văn hóa như thế mà sao lại được Đặng GS khen?
Mấy ngày nay thì cư dân mạng lại ồn ào lên về "câu đối" cộc lệch của cụ:


Trí như bạch tuyết, tâm như ngọc;
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung.


Vế trên thì sai và bình thường: Trí như tuyết trắng là sao? Không lẽ cụ lại thâm nho giả vờ khen mà thực ra là chê cháu: trí não trắng toát, đầu óc trống rỗng, ít học?
Vế dưới thì đúng là cụ lấy "nguyên con" của Lý Bạch trong bài Thanh bình điệu. Lý Bạch khen Dương Quý Phi một cách rất nghệ thuật: Mây trời rực rỡ tưởng như váy áo của nàng, hoa đẹp đẽ tưởng như gương mặt của nàng. Ý nói là nàng còn đẹp hơn cả thiên nhiên (Đáng lý thông thường chỉ ví ngược lại: Váy áo của nàng đẹp như mây trời, gương mặt nàng đẹp như hoa). Lý Bạch khen hay tới mức Đường Minh Hoàng phải ghen với ông.
Vậy câu đối của Đặng giáo sư đã phạm ba điều:
1) Lấy nguyên câu thơ của Lý Bạch, đáng ra chỉ nên dùng điển
2) Vế của GS sai về ý nghĩa như đã nói ở trên, khen người ta mà hóa chửi người ta
3) Vế của GS cộc lệch: đối không chỉnh về từ loại (Bạch tuyết (tuyết trắng), không đối với Y thường (váy áo)), tầm thường về nghệ thuật (phép so sánh bình thường chứ không cầu kỳ như Lý Bạch).
Câu đối kém tài hoa lại đi kèm hình ảnh của cụ hôn hít hoa hậu một cách nhiệt tình quá đáng, không tao nhã chút nào.
Bức ảnh ấy cho người ta một cảm giác cụ không cẩn trọng trong hành vi và ngôn ngữ, có gì đó hơi thái quá.
Bậc trí giả sống đến trăm năm là phúc cho gia tộc, cho quốc gia. Đức Khổng Tử dạy rằng: Thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ (70 tuổi thì có thể làm theo điều mình muốn mà không sợ trái đạo). Nay Đặng GS 100 rồi, nhưng kẻ hậu bối vẫn mạn phép nhắc cụ và cũng là nhắc chung trong đó có mình: dù đến 100 tuồi vẫn phải lo đến danh phận mà cẩn trọng trong ngôn hành!

Theo : VHNA

Những chính sách hiệu lực trong tháng 3/2015

Dân trí Trong tháng 3, các Nghị định quy định về việc tăng 8% lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng với một số đối tượng; quy định về phát trả chậm với doanh nghiệp “chây ỳ” lương; đổi mã vùng điện thoại cố định… sẽ có hiệu lực.

Nâng lương hưu, trợ cấp BHXH
Nâng lương hưu, trợ cấp BHXH

Từ 10/3/2015, Nghị định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc sẽ có hiệu lực. Tuy nhiên, đối tượng hưởng chính sách sẽ được tăng lương kể từ ngày 1/1/2015 với mức tăng 8% lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng.

Trả lương chậm quá 15 ngày phải trả tiền lãi

Theo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động có hiệu lực từ 1/3/2015, mức lương đối với công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động và thời gian làm việc bình thường không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định; thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng.

Quy định bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Theo Nghị định về bán, chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trường hợp bán doanh nghiệp mà có từ hai người đăng ký mua trở lên thì phải bán theo một trong hai phương thức đấu giá sau:

- Đấu giá kế thừa toàn bộ số lao động còn lại, áp dụng trong trường hợp đã giải quyết một phần số lao động theo quy định của pháp luật về lao động và chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

- Đấu giá không kế thừa lao động, áp dụng trong trường hợp đã giải quyết hết số lao động hoặc đã phê duyệt phương án giải quyết hết số lao động theo quy định của pháp luật về lao động và chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

Trường hợp chỉ có một đơn đăng ký mua doanh nghiệp hợp lệ được chấp thuận, cơ quan có thẩm quyền quyết định bán doanh nghiệp áp dụng phương thức bán thỏa thuận trực tiếp.

Nghị định cũng quy định người lao động trong doanh nghiệp được xem xét giao doanh nghiệp khi đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện.

Nghị định này có hiệu lực từ 1/3/2015.

Thay đổi mã vùng điện thoại cố định

Theo Thông tư 22/2014/TT-BTTTT ban hành Quy hoạch kho số viễn thông, kể từ ngày 1/3/2015, mã vùng điện thoại cố định các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ thay đổi.

Cụ thể: Thành phố Hà Nội đổi từ 4 thành 24; Thành phố Hồ Chí Minh đổi từ 8 thành 28; Thành phố Đà Nẵng đổi từ 511 thành 236; Thành phố Hải Phòng đổi từ 31 thành 225; Thành phố Cần Thơ đổi từ 710 thành 292; Thừa Thiên – Huế từ 54 thành 234; Quảng Ninh từ 33 thành 203; Thanh Hóa từ 37 thành 237; Khánh Hòa từ 58 thành 258; Lâm Đồng từ 63 thành 263; Cao Bằng từ 26 thành 206; Cà Mau từ 780 thành 290…

Chế độ ưu tiên về hải quan đối với doanh nghiệp

Theo Nghị định số 08/2015/NĐ-CP có hiệu lực từ 15/3/2015, các doanh nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Nghị định thì sẽ được miễn kiểm tra chứng từ liên quan thuộc hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc kiểm tra ngẫu nhiên để đánh giá sự tuân thủ pháp luật; được ưu tiên khi thực hiện thủ tục về thuế đối với hàng hóa theo quy định của pháp luật về thuế.

Đồng thời, doanh nghiệp còn được cơ quan hải quan và các cơ quan kinh doanh cảng, kho bãi ưu tiên làm thủ tục giao nhận hàng hóa trước, ưu tiên kiểm tra giám sát trước...

Quy định xác định thiệt hại đối với môi trường

Nghị định quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường (có hiệu lực từ 1/3/2015) quy định về trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại và xác định thiệt hại đối với môi trường bao gồm: Thu thập dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường, tính toán thiệt hại đối với môi trường và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra.

Việc tính toán thiệt hại đối với môi trường dựa trên các dữ liệu, chứng cứ đã được thu thập, ước tính, thẩm định theo quy định tại Nghị định này. Thiệt hại đối với môi trường của một khu vực địa lý bằng tổng thiệt hại đối với từng thành phần môi trường của khu vực địa lý đó.

Vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ

Theo Nghị định quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (có hiệu lực từ 15/3/2015), cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện. Vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.

Bích Diệp

Đảng sẽ ra định nghĩa mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN

Sáng 28/2, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận TƯ phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội VN tổ chức tọa đàm “Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng XHCN”, nhằm góp phần phục vụ hoàn thiện Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới và dự thảo Báo cáo chính trị của TƯ tại Đại hội Đảng 12.
Thực tiễn 30 năm đổi mới

Báo cáo đề dẫn tọa đàm do GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nêu rõ trong quá trình đổi mới, Đảng ngày càng nhận thức rõ, sát thực tế hơn khái niệm tổng quát về kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Thực tiễn 30 năm đổi mới đã chứng minh đầy sức thuyết phục về việc sử dụng kinh tế thị trường làm phương tiện để xây dựng CNXH.

kinh tế thị trường, dân chủ
Một góc TP HCM, đầu tàu kinh tế của cả nước. Ảnh: TTXVN
Nền kinh tế liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng cao, phát triển ổn định; tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh, bền vững và ấn tượng, được cộng đồng thế giới công nhận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt.

Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được tăng cường. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thế và lực của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhất là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tiếp tục được hoàn thiện. Vai trò, hiệu quả, sức cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế được nâng lên. Môi trường đầu tư và kinh doanh được cải thiện, bình đẳng và thông thoáng hơn.

Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, vận hành cơ bản thông suốt, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế. Hầu hết các loại giá cả hàng hóa, được xác lập theo nguyên tắc thị trường.

Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc huy động và phân bổ các nguồn lực gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã từng bước phù hợp với cơ chế thị trường; hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh. Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện mô hình này còn có nhiều hạn chế, yếu kém và gặp không ít trở ngại, khó khăn.

Nhận thức mới
Trong quá trình nghiên cứu tổng kết thực tiễn, kế thừa và tiếp thu những thành quả lý luận của các Đại hội Đảng qua sáu kỳ đại hội, dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội 12 đã nêu ra định nghĩa mới về khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Đó là: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội.

Trên cơ sở thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam theo tinh thần nêu trên, dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội 12 đã tiếp tục cụ thể hóa, nêu ra phương hướng mục tiêu và nhiệm vụ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn 5-10 năm tới.

Cụ thể, “Đến năm 2020, phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; bảo đảm tính công khai, minh bạch, tính dự báo được trong xây dựng và thực thi thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội”.

Tại buổi tọa đàm, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đã thảo luận về: Thực trạng nhận thức và thực tiễn về kinh tế thị trường định hướng XHCN; nhận thức mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Các nhà khoa học góp ý kiến về nhận thức khái niệm tổng quát về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN sau 30 năm đổi mới có giá trị định hướng lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ; nêu rõ những vấn đề cần tiếp tục cụ thể hóa nhận thức khái niệm tổng quát về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam và những biến đổi của tình hình quốc tế, khu vực trong vòng 5-10 năm tới, trước mắt đến năm 2020.

Từ những nhận thức tổng quát và cụ thể về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các đại biểu đề xuất những phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp mang tính đột phá; Những điều kiện và các cơ chế, chính sách thiết yếu cụ thể để thực hiện.
Theo TTXVN