Menu ngang

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

                                                                    TAN

                                                          Nghiêm Thị Hằng


                                              Trăng vẫn chỉ là trăng
Nếu mình trăng lẻ bóng
Biển muôn ngàn con sóng
Vẫn một mình cô đơn.
Nếu tình không trao nhau
Em như trăng lẻ bóng
Anh biển ôm mối sầu
Bạc đầu muôn lớp sóng.
Trăng tan vào lòng biển
Em tan vào tình anh
Biển tan trong muối mặn
Trời tan trong mắt xanh.
Sóng tan trên bờ cát
Nụ hôn tan trên môi
Tình yêu tan cơn khát
Tan đắng cay cuộc đời.
Tan Nắng vào với gió
Tan gió vào với mắt
Tan đất vào với nước
Tan cỏ vào với cây.
Tan thừa vào với thiếu
Cuộc đời tan trong nhau
Nên bao điều kì diệu 
Tan hoà không lẻ loi.

VĂN HÓA TRONG DÒNG CHẢY CỦA CẢM HỨNG VỀ LỢI NHUẬN

  •   ĐỖ MINH TUẤN
  •  tăng kích thước chữ

Hiện nay, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đổi mới và hội nhập ở nước ta, đời sống văn hoá Việt Nam có nhiều biểu hiện mang tính suy đồi, nhất là thị trường văn hoá với bao nhiêu biểu hiện lố lăng, đồi truỵ, lai căng, phản nghệ thuật, phản đạo đức, phản dân tộc, phản nhân văn. Người ta dễ bằng lòng với việc đổ lỗi cho các phương tiện công nghệ, các mạng xã hội, các cơ hội tiếp xúc rộng rãi với thông tin và văn hoá có nguồn gốc phương Tây. Nhưng bản chất vấn đề không  nằm ở sự giao lưu văn hoá thiếu kiểm soát mà nằm ở trong cảm hứng về lợi nhuận của thời đổi mới. Cảm hứng vì lợi nhuận không được kiểm soát đã dần dần thay thế cảm hứng nhân văn vì con người, vì đại nghĩa trong phạm vi xã hội, tạo ra một nền tảng cho văn hoá suy đồi, lối sống hưởng thụ, thái độ hư vô, sẵn sàng tách rời danh nghĩa và thực chất để đạt đến các mục tiêu mang tính thực dụng về văn hoá, chính trị và kinh tế. Cảm hứng vì lợi nhuận mặc dù có nguồn gốc từ văn minh văn hoá phương Tây, nhưng phương Tây không thể áp đặt cảm hứng này vào tâm thức của các dân tộc khác.

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2015

Người ngồi đợi trước hiên nhà

                                       HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

          Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, cuối năm 1954 – đầu năm 1955 ở quê tôi gần một nửa gia đình có người thân đi tập kết ra miền Bắc. Không khí làng quê chùng xuống vì tình cảnh kẻ Bắc người Nam. Những người đàn bà tiễn chồng tiễn con ra đi, mắt đẫm lệ, hẹn hai năm trở về mà lòng còn nghi ngại. Chính quyền “quốc gia” tiếp thu từ vĩ tuyến 17 trở vào và những người con đất Quảng từng hiến tuổi thanh xuân cho cuộc kháng chiến chống Pháp đành phải lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, theo đơn vị vào Quy Nhơn, xuống chiếc tàu Ba Lan đang đợi sẵn. Nhiều người ra đi khi vừa lập gia đình, để lại những người vợ trẻ, có người mang bào thai trong bụng.
          Nhà ngoại tôi năm người ra đi trên những chuyến tàu năm ấy: ông ngoại, hai người con trai và hai người con rể. Mới một tháng trước đó, nhà ngoại rộn rã với đám cưới của dì Bảy. Dượng Bảy người Tam Kỳ, mồ côi cả cha mẹ, đi bộ đội, đóng quân ở làng tôi, thầm yêu dì, rồi đơn vị đứng ra làm lễ cưới. Chỉ một tháng sau là đơn vị chuyển đi, đôi người đôi ngả.
          Ra miền Bắc rồi vào lại miền Nam chiến đấu, dượng tôi vẫn tìm cách liên lạc với gia đình. Thỉnh thoảng một lá thư gói trong bọc ni-lông bé tí chuyển đến nhà tôi giữa đêm khuya mang theo tin tức của dượng như một niềm hy vọng đáp lại nỗi trông chờ mòn mỏi của dì. Năm dượng đi, dì tròn 20 tuổi. Suốt 20 năm sau đó, có những người ngỏ ý, dạm hỏi, dì vẫn không lung lạc, với niềm tin sẽ có ngày dượng trở về. Gần cuối cuộc chiến tranh, tin tức của dượng về nhà thường xuyên hơn. Hình như lời cầu nguyện của dì linh ứng để dượng tránh hòn tên mũi đạn nơi chiến trường.
         Nhà tôi gần đường số 1. Mỗi ngày, sau khi đi làm đồng trở về, dì tôi thường ngồi trên bộ phản gõ ngoài hiên nhìn ra con ngõ, nơi ngày xưa dượng cùng những người đồng đội lần đầu đến nhà tôi xin chỗ trú quân.  Tháng 4 – 1975, những đoàn xe Molotova nối tiếp nhau chạy ngang trước nhà tôi để chuyển quân vào mặt trận phía Nam. Dượng tôi ở trên một chuyến xe đó. Hai mươi năm, dượng không quên người xưa nhưng đã quên cảnh cũ. Khi đến địa phận huyện Mộ Đức, dượng đảo mắt tìm xóm nhà quê vợ nhưng không nhận ra vì cảnh vật đổi thay. Đến khi dừng lại hỏi nhà, thì xe đã chạy vượt qua gần năm cây số. Trên đường tiến quân, đâu thể quay xe trở lại, dượng chỉ kịp nhờ một người đi đường báo tin cho gia đình và gửi tặng dì tôi một chiếc nón bài thơ mua trên đường hành quân.
         Những ngày sau đó gia đình tôi nao nức trong niềm vui chờ đợi. Ông ngoại tôi mất sớm trên miền Bắc, ba tôi hy sinh trên chiến trường đã tám năm, nỗi đau dần nguôi ngoai. Nhà có năm người ra đi, ba người trở về, cũng còn là may mắn. Dì Bảy tôi lại ngồi trước hiên nhà mỏi mắt nhìn ra đường cái. Nhưng hai cậu tôi lần lượt trở về mà dượng Bảy vẫn không tin tức. Những chiếc xe chở bộ đội hồi hương chạy qua không dừng lại. Gia đình dò hỏi các nơi, mãi đến cuối năm 1975 mới nhận giấy báo tử: dượng ngã xuống trong trận đánh ở Xuân Lộc, cửa ngõ phía đông bắc Sài Gòn, chỉ mươi ngày trước khi chiến tranh ngưng tiếng súng.
          Như trong một câu chuyện cổ, người kỵ sĩ ra đi trên lưng chiến mã, nhưng ngày chiến thắng chỉ có chiến mã trở về mà không bóng dáng người trên lưng ngựa. Dì tôi nén nỗi đau vào bên trong. Nhà tôi lập bàn thờ cho dượng. Tôi đã nhờ người về tận xã Tam Thanh, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tìm gia đình dượng, nhưng không ai còn nhớ tên người lính cũ Nguyễn Ngọc Linh. Gần đây dò tìm danh sách liệt sĩ trên mạng, cũng không có thông tin gì để tìm mộ phần của dượng.
         Ngày hòa bình, dì tôi đã qua tuổi 40. Vẫn có người đàn ông để ý đến dì, nhưng lòng dì không còn rung động. Bà ngoại tôi ngày một già yếu. Những người con trai của bà về thăm ít ngày rồi lại đi ra thành phố. Những người con gái theo chồng theo con. Chỉ còn mình dì Bảy ở lại chăm sóc bà, trông coi nhà thờ giữa khu vườn ít bàn tay vun xới.
         Bà ngoại mất, mấy năm trước dì vào Sài Gòn sống với em, nhưng được ít lâu, nhớ quê, lại về sống một mình trong ngôi nhà cũ. Dì lại tiếp tục những bữa cơm vắng lặng như mấy mươi năm trước. Và mỗi buổi chiều muộn lại ra ngồi trước hiên nhà nhìn con đường kéo dài như nỗi chờ mong trong vô vọng. Đêm đêm ngọn đèn điện trên gian thờ lập lòe theo tiếng kêu của thạch sùng, có cảm giác như thời gian ngưng đọng đã từ lâu lắm. Mỗi lần về thăm, ngồi bên mâm cơm đạm bạc với dì, tôi chợt nghĩ nếu ngày đó dì đi bước nữa, thì liệu bây giờ dì có được hưởng hạnh phúc không. Hay là hồi trẻ dì “tự túc” một đứa con, theo lời khuyên trong một lá thư đẫm tình thương yêu của dượng, hẳn nay có chỗ trông nhờ và nguồn an ủi.
         Mùa lụt năm ngoái, sau những trận mưa dữ dội là những cơn xả lũ ác nhơn, vùng quê tôi nước tràn trắng trời trắng đất. Nhà ngoại tôi nước ngập đến lưng cửa sổ, gần bằng trận lụt năm Giáp Thìn. Nhớ hồi đó, tôi còn nhỏ, nhà tôi đông người, thôn xóm cho ghe đến tận nhà chuyển người và gia súc lên vùng đồi cao. Lần này, chỉ có dì Bảy với người cháu gái, nửa đêm nước dâng vào nhà bất thần, may có vài người bà con ở gần đến giúp đỡ kê bàn ghế để có chỗ nằm cao hơn mặt nước, chờ đất trời thu nước xuống.
         Mùa lũ dữ rồi cũng qua, vườn rau xanh trở lại. Những ngày này, dì tôi, bà Lê Thị Thỏa, một trong bao người phụ nữ bình dị đã đi qua chiến tranh, năm nay tròn 80 tuổi, đang ngồi một mình đợi Tết ở ngôi nhà gần cầu Vĩnh Phú thuộc thị trấn Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Nguyện cầu hồn thiêng những người đã ngã xuống độ trì cho dì bình an, trường thọ.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Tác giả gởi cho viet-studies ngày 19-1-15

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2015


    Tám câu nói tuyệt vời  


 1. “Đừng bao giờ đùa
giỡn với cảm xúc của người khác, bởi
vì bạn có thể giành chiến thắng, nhưng hậu
quả là bạn chắc chắn sẽ mất đi người
đó trong suốt cuộc đời của bạn.” -
(Shakespeare).
2. “Thế giới phải chìm đắm trong
đau khổ không phải vì tội
ác của những kẻ xấu, mà là vì sự im lặng
của những người tốt”. 
(Napoleon).
3. “Tôi rất biết ơn tất cả những người đã nói KHÔNG với tôi. 
Nhờ vậy mà tôi biết cách tự mình giải quyết sự
việc.”.  (Einstein).
4. “Nếu tình bạn là
điểm yếu lớn nhất của bạn, thì bạn chính
là người mạnh mẽ nhất trên thế
giới.”. 
 (Abraham Lincoln).

5. “Một người tươi cười 
không có nghĩa là họ không có nỗi buồn.
Điều đó có nghĩa là họ có khả năng
đối phó với nỗi buồn đó.” -
(Shakespeare).
          6. Cơ hội giống như bình minh, 
nếu bạn chờ đợi quá lâu, bạn có
thể bỏ lỡ nó”. 

- (William Arthur).
7. “Khi bạn ở ngoài sáng, 
tất cả mọi thứ đều theo bạn, 
nhưng khi bạn bước vào bóng tối, 
ngay cả cái bóng của bạn cũng không đi theo bạn nữa.” .
(Hitler).
8. “Đồng tiền luôn phát ra âm thanh. 
Nhưng tờ tiền thì luôn im lặng. 
Vì vậy, khi giá trị của bạn tăng lên,
thì hãy luôn luôn giữ yên lặng.”. 
(Shakespeare).
Theo Kim Dung / Kỳ Duyên 

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

                 CHỐN QUÊ

                                              N.M.Đ


Ở bên bờ biển vắng
Thị xã chìm mưa rơi
Gió lùa len khe cửa
                    Giá rét tràn khung trời.
                                 
Bạn thiếu thời gặp gỡ
Trang ký ức hiện về
Tuổi hoa niên một thuở
Trọn đời ta đam mê.

Đây quê hương yêu dấu
Nâng bước ta vào đời
Đường thời gian muôn nẻo
Đầy ắp bao buồn vui.


Chúng con trở lại quê
Mẹ Cha đã về cùng Tiên Tổ
Tri ân đấng sinh thành
Dựng xây nhà thờ tự
Nơi lưu niệm đời người
Chốn con cháu viếng thăm.


                  Cửa Lò, 13/01/ 2015

CỬA LÒ CHIỀU CUỐI ĐÔNG

                        N.M.Đ

Ngoài trời mưa rơi rơi
Gió thẹn thùng tình tự
Chao nghiêng cành liễu rủ
Đẫm mình trong chơi vơi.

Xa kia biển cồn cào
Hôn mãi bờ cát trắng
Bãi trải dài tĩnh lặng
Ôm con sóng dạt dào.

Thị xã chiều cuối đông
Gió lạnh lùa phố nhỏ
Đơn côi căn phòng vắng
Mấy vần thơ giãi lòng.


                           Cửa Lò, 9/01/2015

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

      Ông Hồ Xuân Mãn không kết nạp mà

 trở thành đảng viên, là Ủy viên Trung ương

 hai khóa


                                  Nhà văn CCB Nguyễn Quang Hà



(Bài trên Báo Người cao tuổi)
Việc ông Hồ Xuân Mãn cựu Ủy viên Trung ương, cựu Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế khai man là đảng viên đang làm đông đảo cựu chiến binh và nhân dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế hết sức bức xúc. Trong lí lịch, ông Mãn khai được kết nạp Đảng là ngày 11/1/1974 nhưng ông Hoàng Phước Sum, Trung tá Công an, ông Nguyễn Văn Tam, ông Trần Văn Việt khẳng định thời gian ấy họ đang cùng ông Hồ Xuân Mãn học lớp Xã đội trưởng tại Trường Hạ sĩ quan do Khu Trị Thiên Huế mở từ tháng 10/1973 đến tháng 3/1974 rồi cùng nhau về quê hoạt động. Vậy thì ngày đó họ có thấy ông Mãn được kết nạp Đảng đâu? Nếu chứng thực của ông Sum, ông Việt, ông Tam là đúng thì ông Mãn đã khai man việc mình vào Đảng.
Trong lí lịch ông Mãn khai có 2 người giới thiệu ông vào Đảng. Một là người đồng chí đã hi sinh, người thứ hai còn sống là bà Nguyễn Thị Quyện. Bà Quyện quả quyết rằng bà không hề biết chuyện ấy, do vậy bà không phải là người giới thiệu ông Hồ Xuân Mãn vào Đảng.
Không có người giới thiệu, ông Mãn làm sao mà vào Đảng được?
Ông Trần Văn Minh, cựu Bí thư Đảng ủy xã Phong An, quê hương của ông Mãn, nơi ông Mãn hoạt động du kích, trong thời gian từ năm 1973 – 1974, cho biết: “Tôi không hề giới thiệu ông Mãn vào Đảng, không biết ông Mãn kết nạp Đảng ở đâu, khi nào? Tôi cũng biết có thời gian ông Mãn sinh hoạt ở Đảng bộ xã Phong An. Tôi mong các cơ quan nhanh chóng xác minh, có kết luận ông Mãn kết nạp ở Chi bộ nào? Thời gian nào và những ai chứng kiến?”.
Ông Lê Văn Uyên, cựu Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy Phong Điền cũng xác nhận rất rõ ràng rằng: “Riêng tôi từ năm 1972 vẫn là Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy Phong Điền, là người chịu trách nhiệm tập hợp hồ sơ lí lịch đề nghị kết nạp Đảng trong toàn huyện để báo cáo cho Thường vụ Huyện ủy chuẩn y. Việc vào Đảng của ông Hồ Xuân Mãn ngày 11/1/1974 theo ông Hồ Xuân Mãn, tự khai thì cả năm 1974 hoặc cuối năm 1973, tôi chưa hề biết hồ sơ đề nghị kết nạp ông Hồ Xuân Mãn lần nào đó để báo cáo cho Thường vụ chuẩn y. Vậy tôi xin phản ảnh để các cấp xem xét lại”.
Như vậy là việc kết nạp Đảng của ông Hồ Xuân Mãn đầy ẩn số. Không có người giới thiệu vào Đảng, ngày ông Mãn khai kết nạp trong lí lịch lại là ngày ông Mãn đang đi học lớp xã Đội trưởng ở Quân khu, những người cùng học đều nói rõ không có việc kết nạp ông Mãn vào Đảng. Vậy ông Mãn được kết nạp ở đâu? Tổ chức Huyện ủy không biết chuyện này; Bí thư Đảng bộ xã không hề biết. Nhất là trong thời kì kháng chiến thì việc kết nạp Đảng hết sức chặt chẽ.
Theo nguyên tắc quy định trong Điều lệ Đảng, thì ông Mãn chưa có chuyện kết nạp đảng viên. Vậy mà ông Mãn leo lên từ Bí thư Huyện ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy, rồi Bí thư Tỉnh ủy và Ủy viên Trung ương Đảng hai khóa (Khóa IX và Khóa X) thì quả là điều gian dối không thể tưởng tượng nổi. Để nhân dân tin vào Đảng, để Đảng trong sạch, đề nghị các cơ quan có trách nhiệm hãy làm rõ việc này. Không thể để một kẻ thiếu trung thực, dối trá làm xấu Đảng như vậy được.
Những nhân chứng sống đang còn đó, cơ quan trách nhiệm cần làm sáng rõ việc này. Nhân dân Huế, đặc biệt là đông đảo anh em cựu chiến binh, người cao tuổi đang mong đợi
Nhà văn Nguyễn Quang Hà
(Cựu chiến binh tỉnh Thừa Thiên Huế)

Hà nội trong trong tim...



Dáng ngọc ngà ơi, áo mỏng như mai/ Dịu êm lắm như Đào phai chợ tết/ Mẹ muốn mua về tôi chưa thấy hết/ Sắc đẹp mãi còn tựa hệt xuân em. 
Một Hà Nội tôi mải miết đi tìm
Bỗng chạm mắt em nắng chiều phố cổ
Vàng rực rỡ vỉa hè ôi bỡ ngỡ
Bóng áo dài tha thướt đợi chờ ai

Suốt cuộc đời tôi cứ tìm hoài
Tên con phố cứ dài theo năm tháng
Mẹ bán buôn qua Hàng Ngang loáng thoáng
Tiếng trẻ đùa vẫn lảng vảng bên tai.

Tôi đã từng ở đó ngóng ngày mai
Chỉ mong gặp một lần nhưng ái ngại
Tháng năm trôi, mùa theo mùa xa ngái
Phố vẫn ồn ào em ở đó quên ai?

Dáng ngọc ngà ơi, áo mỏng như mai
Dịu êm lắm như Đào phai chợ tết
Mẹ muốn mua về tôi chưa thấy hết
Sắc đẹp mãi còn tựa hệt xuân em.

Đinh Quang Thắng