Menu ngang

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

Giáo sư Hồ Ngọc Đại:


Đừng đổi mới giáo dục 

bằng xào xáo cái cũ


Đừng đổi mới giáo dục bằng xào xáo cái cũ
GS Hồ Ngọc Đại cho rằng: “Cần có một nền giáo dục mới. Một nền giáo dục buộc phải mới tận nguyên lý của nó. Một nền giáo dục tất yếu phải trở thành sự cứu nguy cho dân tộc, nơi trẻ em là những “Anh hùng thời đại”. Và một nền giáo dục không bị thần bí hóa bằng lời hô hào "sáng tạo" suông, mà là một nền giáo dục công nghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà khoa học tạo ra bằng thực nghiệm”. Chuẩn bị bước vào một năm học mới, PV đã có cuộc đối thoại với GS Hồ Ngọc Đại.
'Nếu nền giáo dục làm đúng thì 15 năm sau chúng ta có một dân tộc khác'
Năm nay đã gần 80 tuổi, có thể nói ông đã dành tâm huyết cả đời mình cho ngành giáo dục. Có những công trình ông viết từ gần 40 năm trước giờ mới được công nhận, đưa vào giảng dạy. Vậy trong con mắt của ông, nền giáo dục của chúng ta đứng ở đâu so với thế giới?
- Nếu so với thế giới, nền giáo dục của chúng ta quá lạc hậu. Tôi có thể nói thế này: Vào thời điểm này từ cuộc sống, tất cả các ngành, các nghề của con người và xã hội đã biến đổi rất lớn so với cách đây 15-20 năm, nhưng nghiệp vụ sư phạm của chúng ta thì từ nửa thế kỷ nay không thay đổi gì cả. Thậm chí còn tệ hại hơn trước vì trước là thầy giảng, trò ghi nhớ nhưng bây giờ là thầy đọc, trò chép.
Bộ GDĐT đã nhận thức được điều đó nên trong những năm gần đây đã đưa ra hàng loạt phương án đổi mới giáo dục như 10+2 hoặc 9+3, hoặc các phương án đổi mới SGK, đổi mới kỳ thi... đó cũng là cách đổi mới đấy chứ?
- Với lực lượng hiện nay tôi không tin là làm được bởi bản chất vẫn là xào xáo cái hiện có. Người ta thay ngôn từ này bằng ngôn từ khác cho khéo léo hơn, lọt tai hơn nhưng bản chất không thay đổi gì vì tư duy và trình độ không có gì thay đổi giống như cái cày chìa vôi thì dù cải tiến bằng trời nó vẫn là cái cày chìa vôi. Cuộc đời tồn tại bằng sự vật vì vậy muốn cải tiến thì hãy cải tiến từ sự vật, từ cuộc sống chứ không phải bằng ngôn từ.
Vậy theo GS, việc đổi mới phải từ đâu?
- Muốn đổi mới thì phải nhìn nhận lại tư duy triết học về giáo dục bởi tư duy hiện nay về giáo dục là tư duy triết học học trò, triết học thi cử, triết học sách giáo khoa mà đáng lẽ ra phải có cái nhìn triết học bác học. Vấn đề nữa là tâm lý học giáo dục rồi mới đến khoa học chuyên ngành.
Vấn đề triết học bác học về giáo dục là gì ạ?
- Đó là anh phải nhìn nhận đối tượng giáo dục mà bắt đầu từ trẻ em là cái gì? Quan điểm của tôi  về trẻ em thế này:“Trẻ em là mỗi người tự sinh ra nó” bố mẹ sinh ra con là cho nó cái hình hài vật chất, còn quá trình lớn lên là nó tự sinh ra nó. Vì vậy vai trò của giáo dục ở đây là định hướng để họ phát triển và làm cho người nào trở thành chính con người ấy, chứ không phải trở thành người khác.
Vậy có nghĩa là quá trình giáo dục là quá trình hướng cho đứa trẻ tự hoàn thiện mình?
- Đúng vậy. Chúng ta phải giáo dục sao cho trẻ em tiếp thu được nền văn minh xã hội, phải tổ chức để người học tiếp nhận được điều đó. Tôi vẫn muốn nhấn mạnh về việc ưu tiên giáo dục mầm non bởi đây là giai đoạn hình thành nhân cách của trẻ. Ưu tiên trẻ con là ưu tiên dân tộc, vì tương lai dân tộc. Nếu nền giáo dục này mà lành mạnh và làm đúng thì tôi tin 10-15 năm nữa chúng ta sẽ có một dân tộc khác. Phương pháp của tôi là dạy cho trẻ tự làm lấy hết mọi việc, khi con trẻ  biết tự làm lấy mọi việc thì sẽ tự tin. Khi đã tự tin thì sẽ tự trọng. Nếu một đất nước mà công dân đất nước đó ai cũng tự tin và tự trọng thì đất nước đó vĩ đại lắm. Muốn như thế thì phải đổi mới căn bản trong giáo dục. Nếu làm được thì  10-15 năm nữa chúng ta có một dân tộc khác, một dân tộc đầy tự tin và tự trọng.
Nền giáo dục toàn lý thuyết như  vậy có phải là nguyên nhân để đất nước ta có một số lượng tiến sĩ, cử nhân vô cùng lớn, nhưng những công trình nghiên cứu của những tiến sĩ này đều không thể đưa vào áp dụng trong thực tế, cử nhân thì không biết làm việc ?
- Đúng là nền giáo dục của chúng ta đã đẻ ra một hệ thống tiến sĩ “từ chữ sang chữ, từ sách sang sách”. Cái gọi là công trình khoa học của tiến sĩ ấy là chép từ sách này sang sách khác, hoàn toàn là những bản photocopy lẫn nhau. Đây là trò chơi chữ nghĩa, trò chơi trong phòng thi, trò chơi trong phòng kín giữa những nhóm người với nhau  chứ không phải từ cuộc đời mà ra. Cử nhân cũng vậy, ra trường không biết làm việc không biết một nghề gì cụ thể. Tôi cho rằng nếu muốn cải cách giáo dục hiệu quả thì việc cải cách đó phải từ cuộc đời mà ra.
Xin trân trọng cảm ơn GS!
Chí Tùng thực hiện (Theo Lao Động)

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

Khoan dung - động lực để chấn hưng đất nước


Công cuộc chấn hưng đất nước không thể tách rời triết lí khoan dung. Có thể nói rằng, đất nước đang cần sự khoan dung hơn bao giờ hết.
1.Nếu phải chỉ ra một đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam, tôi sẽ lựa chọn tính đa dạng (diversity). Có thể bạn sẽ nghĩ khác, nhưng tôi có lí do riêng: Kỳ thực, dân tộc Việt Nam được cấu thành trên sự đa dạng. Nếu thử quan sát đất nước mình, từ mọi góc nhìn, chúng ta đều thấy toát lên vẻ đa dạng, như nguồn gốc, thành phần tộc người, địa lí, sinh thái, khí hậu, ngôn ngữ và văn hóa ... Vì thế, tính đa dạng không chỉ là đặc điểm nổi bật, mà còn là đặc tính tự nhiên của dân tộc ta.
Đặc tính này đòi hỏi một triết lí phát triển phù hợp, đảm bảo tính thống nhất về lãnh thổ và lí tưởng chính trị mà không làm phương hại tính đa dạng về tự nhiên và văn hóa. Câu hỏi được đặt ra, triết lí ấy là gì vậy? Lịch sử Việt Nam để lại một gợi ý, cũng là một bài học sâu sắc và thiết thực, những nhà nước thành công nhất đều mang gương mặt khoan dung (tolerance).
Khoan dung là giá trị nền tảng của kỉ nguyên Lý – Trần rực rỡ. Khoan dung cũng là giá trị động lực làm nên sự nghiệp mở nước vẻ vang của các chúa Nguyễn ở phương Nam .
2. Có lẽ, cần nhắc lại đôi điều về đường lối trị nước của các vị vua anh minh triều Trần. Từ kho tàng trí tuệ bao la của Phật giáo, triều Trần đã tiếp nhận, chọn lọc và xây dựng nên một đường lối quản trị đậm đà khoan dung. Từ lúc còn rất trẻ, vua Trần Thái Tông – người khai sáng triều Trần đã khảng khái tuyên bố: “Ta xem ngai vàng như chiếc giày rách, bỏ đi lúc nào cũng được”.
khoan dung, động lực, đất nước, chấn hưng, Hoàng Giang, phát triển, tính đa dạng
Ảnh: Lê Anh Dũng
Câu nói này, cùng với thái độ ứng xử của một số vua Trần sau đó đã bộc lộ một nhận thức sâu sắc về bản chất của quyền lực, xét đến cùng, quyền lực chỉ là phương tiện để người đứng đầu đất nước thực hiện lí tưởng quốc thái, dân an.
Vì thế, thay vì chìm đắm, “mắc kẹt” trong quyền lực, ông vua cần tùy cơ mà quyết định sử dụng hay buông bỏ nó. Bấy giờ, trong tinh thần khoan dung, Phật giáo tuy được xem là quốc giáo nhưng cùng cộng sinh bình đẳng với Nho giáo và Lão giáo. Nhà Trần đãi ngộ nhân tài và sĩ phu rất kính cẩn, cho nên người giỏi xuất hiện khắp nơi và đều tụ về triều đình.
Nhận xét về giới sĩ phu đời Trần, trong Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quý Ðôn đã viết: "Bởi vì nhà Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, không hẹp hòi, hòa vị mà có lễ phép, cho nên nhân sĩ thời ấy ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn vĩ vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với Trời Ðất, há phải đời sau kịp được đâu" ...
3. Ngày nay, khoan dung là một vấn đề mang tính thời sự toàn cầu. Nó được đặt ra trong bối cảnh tính đa dạng ở từng quốc gia và trên toàn thế giới đang bị xâm hại nghiêm trọng bởi các quan điểm chính trị, tôn giáo cực đoan, hẹp hòi. Thực tế cho thấy, việc mù quáng từ chối hay triệt tiêu tính đa dạng chỉ càng làm cho các xã hội trở nên đơn điệu hơn, cạn kiệt hơn, bất ổn hơn và bần cùng hơn.
Bởi vậy, vì  hòa bình, hạnh phúc và tự do của con người, khoan dung trở thành một cam kết quốc tế. Ngày 16-11-1995, tại hội nghị toàn thể lần thứ 28, UNESCO đã khởi xướng Ngày Khoan dung Quốc tế với chữ ký đồng thuận của 185 nước thành viên. Hội nghị cũng thông qua bản Tuyên bố về các nguyên tắc khoan dung.
Trong bản Tuyên bố, khoan dung được định nghĩa là “tôn trọng, chấp nhận và cảm thông đối với tính đa dạng của các nền văn hóa trên thế giới, các hình thức biểu hiện và các cách thức tồn tại của con người. Lòng khoan dung được nuôi dưỡng bởi kiến thức, sự cởi mở, sự giao tiếp, sự tự do tư tưởng, khả năng nhận thức và đức tin. Khoan dung là hài hòa trong khác biệt. Khoan dung vừa là một bổn phận đạo đức, vừa là một đòi hỏi pháp lý và chính trị” .
Rõ ràng, định nghĩa của UNESCO hàm chứa một ý niệm mới mẻ về lòng khoan dung. Theo UNESCO, khoan dung không chỉ là một lối hành xử có văn hóa giữa các cá nhân trong một cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Quan trọng hơn, khoan dung còn là một nghĩa vụ chính trị mà tất cả các nhà nước đều phải có trách nhiệm thực hiện.
Từ góc độ nhà nước, khoan dung có nghĩa là xây dựng một không gian pháp lý dân chủ và nghiêm cẩn, công khai và minh bạch nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể khác nhau cùng bình đẳng tham gia vào quá trình kiến tạo xã hội, cùng tiếp cận các cơ hội phát triển và cùng thụ hưởng các giá trị văn hóa. Trong môi trường chính trị khoan dung, mọi người dân đều được công khai, bình đẳng bày tỏ ý kiến của mình về các sự vụ công cộng của xã hội.
Ở đó, không một quyết định lớn nào được đưa ra mà không trải qua một quá trình tham vấn, đối thoại giữa nhà nước với người dân nhằm lựa chọn các phương án chính sách khả thi nhất. Nhờ vậy, con người có điều kiện vượt ra khỏi kiếp sống luẩn quẩn với những nhu cầu, những mối bận tâm vụn vặt, tầm thường để tồn tại trong tâm thế năng động, tự chủ của một người công dân hiện đại.
4. Sau gần 30 năm Đổi mới đất nước, Việt Nam đã giành được một số thành tựu trong phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Nhưng Việt Nam vẫn đang thiếu rất nhiều điều kiện để trở thành một quốc gia phồn thịnh, văn minh. Trong bối cảnh hiện tại, công cuộc chấn hưng đất nước không thể tách rời triết lí khoan dung. Có thể nói rằng, đất nước đang cần sự khoan dung hơn bao giờ hết.
Chỉ trong tinh thần khoan dung, chúng ta mới có thể khơi dậy, phát triển, chuyển hóa tính đa dạng của thực tế xã hội thành các nguồn lực dồi dào cho đất nước. Chỉ trong tinh thần khoan dung, chúng ta mới có thể hình thành một khuôn mẫu ứng xử mới mẻ, văn minh: Không lựa chọn ứng xử thô bạo, mà lựa chọn phương thức đối thoại bình đẳng, cởi mở để giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Lịch sử Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới đương đại càng chứng tỏ rằng, lựa chọn triết lí khoan dung là lựa chọn cấp bách và tất yếu của dân tộc Việt Nam trong hiện tại và tương lai.
Hoàng Giang

Câu chuyện bóng đá và cải cách giáo dục

                                                                                                           
Chỉ khi dịch chuyển từ giáo viên làm chủ thể sang học sinh làm chủ thể thì mới nói đến học sinh tự thể hiện được - (Ảnh: Nguồn internet)
Chỉ khi dịch chuyển từ giáo viên làm chủ thể sang học sinh làm chủ thể thì mới nói đến học sinh tự thể hiện được - (Ảnh: Nguồn internet)

5.9 ngày khai trường và cũng là ngày khai tranh giải U19 Đông Nam Á. Hai sự kiện trùng một ngày nhưng tâm trạng hoàn toàn trái ngược. “Say và sốt với U19 Việt nam” với bóng đá bao nhiêu thì lo âu sầu não với giáo dục Việt nam bấy nhiêu. Trùng lặp về thời gian, đối ngịch về tâm trạng, một bên là ma lực, một bên là cực hình!
Có một sự tương đồng giữa giáo dục và bóng đá. Với giáo dục là giáo viên và học sinh, với bóng đá là huấn luyện viên và cầu thủ. Vậy đâu là sự khác biệt để bóng đá tạo ra ma lực? Đâu là nguyên nhân để giáo dục mãi vẫn là… cực hình?
Khác biệt cơ bản nhất: với bóng đá thì cầu thủ là chủ thể, chủ động được chơi, được thể hiện, huấn luyện viên chỉ là người hỗ trợ, tư vấn để các cầu thủ thể hiện tài năng bản sắc. Với giáo dục thì giáo viên là chủ thể thể hiện và áp đặt, học sinh là đối tượng bị áp đặt, bị nhồi nhét kiến thức. Hơn thế nữa, mọi đối tượng trong lớp học bị áp đặt và nhồi nhét cùng một kiểu như nhau. Ở sân bóng thì cầu thủ càng nhiệt tình thể hiện thì càng được hoan hô cổ vũ, cầu thủ nào kém thể hiện thì bị loại ra khỏi sân và thay bằng người khác. Ở lớp học thì ngược lại, càng ngồi im, càng co rúm thì càng được khen, thể hiện thì dễ bị phiền toái.

Chỉ có dịch chuyển chủ thể mới có thể cải cách giáo dục một cách triệt để
Với bóng đá, khi các cầu thủ nhiệt huyết đam mê thể hiện, huấn luyện viên điềm tĩnh quan sát chỉ thỉnh thoảng chỉ đạo trợ lý nhắc nhở thì đấy là một trận đấu tuyệt hảo. Còn khi các cầu thủ uể oải, huấn luyện viên nhảy dựng la hét thì chắc chắn đấy là một thảm hại. Lớp học thì ngược lại. Khi học sinh co rúm sợ sệt nghe giáo viên la hét thì được gọi là ngoan ngoãn. Lớp nào mà có các hoạt động sôi nổi liền bị nhà trường nhắc nhở bớt ồn ào.
Chúng ta đã tốn quá nhiều bút giấy và thời gian để bàn về cải cách giáo dục. Nào là cải cách sách giáo khoa với kinh phí hàng chục nghìn tỷ đồng; nào là thay đổi phương pháp giảng dạy từ “đọc chép” sang “chiếu chép” qua máy tính và màn hình hiện đại… Dù cải cách kiểu gì gì đi nữa thì đấy vẫn là cái ngọn của cải cách.
Chúng ta cùng nhìn lại tháp nhu cầu Maslow để hiểu thêm về giáo dục. Theo Maslow nhu cầu con người gồm 5 bậc từ thấp đến cao: 1. Sinh lý, 2. An toàn, 3. Quan hệ xã hội, 4. Được công nhận, 5. Tự thể hiện. Rõ ràng nhu cầu cao nhất của con người là tự thể hiện. Thế mà giáo dục hiện tại lại chỉ chú trọng vào bậc 1 và bậc 2, nặng về nhồi nhét và an toàn tuyệt đối (ngồi im không ngọ nguậy, không phát biểu, không đặt câu hỏi).

Tháp nhu cầu Maslow - (Nguồn internet)
Bóng đá thì hoàn toàn ngược lại. Các cầu thủ được khuyến khích thể hiện bản sắc riêng biệt (bậc 5) và luôn được tôn vinh (bậc 4) bất cứ khi nào thể hiện xuất sắc. Và một điều tất nhiên là các cầu thủ phải chấp nhận rủi ro. Việc đầu tiên của các cầu thủ là phải mua bảo hiểm chấn thương. Muốn được ban thưởng phải chấp nhận tổn thương.
Bàn về cải cách giáo dục là cả một bài toán lớn. Muốn giải được bài toán lớn thì điều đầu tiên phải đi đúng hướng đi vào cái cốt lõi. Cái cốt lõi nhất là dịch chuyển chủ thể. “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”, người thọ 70 xưa nay hiếm. 1/3 đời người, 1/3 đẹp nhất chúng ta sống trong nhà trường. Làm thế nào để biến nhà trường thành một nơi đáng sống, một nơi con người được khuyến khích để thể hiện hàng ngày chứ không phải một nơi đáng sợ, một nơi thụ động bị nhồi nhét để sau này ra đời thể hiện.
Rõ ràng khi và chỉ khi dịch chuyển từ giáo viên làm chủ thể sang học sinh làm chủ thể thì mới nói đến học sinh tự thể hiện được, mới nói đến nhu cầu bậc cao của con người được. Khi học sinh là chủ thể thì đối tượng là phương pháp tự học. Giáo viên (teacher) phải dịch chuyển sang vai trò là huấn luyện viên (coach), tư vấn viên (consultant) và người hỗ trợ (facilitator) để học sinh tự chơi và thể hiện bản sắc riêng biệt một cách xuất sắc như các cầu thủ bóng đá. Khi chúng ta dịch chuyển giáo dục sang học sinh là chủ thể thì mỗi ngày khai trường là một ngày hội đầy háo hức say mê.

Làm chủ hay làm thuê không phải do muốn hay không...!

                                                                
 Làm chủ hay làm thuê không phải do muốn hay không...!
Một người sinh ra trong gia đình nghèo, không có vốn kinh doanh thì dù có mong muốn làm chủ thì trước tiên vẫn phải đi làm thuê cho người khác.

Làm thuê có tư cách, đáng đồng tiền bát gạo thì vẫn được tôn trọng, vì nể, thậm chí còn được trải thảm chào mới.
Tiến lên được nữa thì làm chủ có đâu xa. Ngược lại thì kiếm được bát cơm cũng khó và nhiều khi còn nhục nhã.
 
Không ai bỏ tiền ra xây nhà máy, tuyển công nhân để làm phúc
Một quốc gia có dân số trẻ, chưa kịp đào tạo nghề nghiệp chuyên môn, kinh tế phát triển thấp, việc làm ít nên nhân công rẻ mạt. Tất nhiên phải tìm cách làm thuê cho nước ngoài như thế nào đó để có công ăn việc làm, ổn định xã hội. 
Làm thuê cho người ngoài ngay tại nước mình thì giá tất phải rẻ, lương phải thấp. Nhưng đây là “thuận mua vừa bán”, không ai bắt ép ai. Nhà nước chỉ làm chức năng điều tiết và bảo vệ quyền công dân và quyền kinh doanh của cả hai phía mà thôi.
Ra nước ngoài làm thuê thì lương cao, chóng đổi đời. Nhưng đâu có dễ. Không thể bắt một ông chủ người Anh, người Nhật học nói tiếng Việt mới thuê được mình mà ngược lại, mình phải học tiếng Anh hay tiếng Nhật, kỹ thuật nữa, thậm chí phải am hiểu cả văn hóa để “được” làm thuê cho họ.
Nhân tiện đây xin bà con nghĩ lại khái niệm về hai từ “bóc lột”.
Cũng vẫn là chuyện “thuận mua vừa bán”. Chỉ có ông Thánh (mà làm gì có ông Thánh) mới bỏ vốn, bỏ tiền ra xây nhà máy, tuyển công nhân để làm phúc, không thu đồng xu lợi nhuận (giá trị thặng dư) nào. Đấy chính là ông “Thánh bao cấp” mà chúng ta đã nếm đủ mùi thảm bại.
 
Tuổi trẻ cần có khát vọng
Khi ai đó khuyên con cái “nên” chọn làm thuê không phải người cha muốn con mình hèn kém, không cần khát vọng. Mà muốn nói tình trạng kinh doanh của các ông chủ trong kinh tế thị trường chưa hoàn chỉnh hiện nay không suôn sẻ như những xã hội hoàn thiện khác. 
Quả thật làm ông chủ ăn sung mặc sướng hơn nhưng khó hơn làm thuê, đương nhiên. Và cũng nguy hiểm hơn, có thể vào tù ra tội, cũng đương nhiên! 
Tuy thế, nguy cơ ấy đâu có làm nhụt chí những người say mê làm chủ?
Xin yên tâm, làm chủ hay làm thuê không phải do muốn hay không mà do các điều kiện luôn luôn phát sinh, luôn luôn mất đi của mỗi người. 
Nói chung con cái sẽ làm theo chỉ dẫn của số phận chúng chứ không răm rắp nghe “lời mẹ dạy” đâu. Đó là hiện thực cuộc đời.

Theo : Một Thế Giới

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

CẢNH NHÀN 


                       Trạng Trình  Nguyễn Bỉnh Khiêm


Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dù ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến cội cây đa sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

MỘT THOÁNG PRAHA

Kéo cờ trắng trước bom và súng
Praha nguyên vẹn sau chiến tranh
Cầu Sác-lơ soi bóng những cuộc tình
Khi tôi đến nắng vàng như lụa khoác
Những bức tường thì thầm ký ức
Những hàng cây nỗi nhớ rơi đầy
Sông Vltava cắm sâu bao tòa tháp
Sông và trời mây trắng mãi còn bay
Ôi Cầu Tình đổ bóng xuống sông Ngây
Ai đã đến đã đi? Ai ở lại
Cho tôi gặp chợ Sapa nơi xa ngái
Người Việt tôi bươn trải chốn trời Âu…
Tiếng quê hương chan nước mắt dãi dầu
Làn quan họ ấm lòng mùa tuyết trắng
Những ảnh hình lưu lại trên máy tính
Những vui buồn lên phê-búc sẻ chia
Praha dù đã hóa thành quê
Vẫn bữa cơm canh cà cá kho tộ
Sáu vạn người vẫn nhớ về Quốc tổ
Những chuyến bay tiếng Việt vẫn râm ran
Những chuyến bay Việt Nam – Sec – Việt Nam…

(Praha, ngày Quốc khánh Việt Nam 2.9.2014)


NGUYỄN TRỌNG TẠO



Cười thấm thía…


Đọc truyện cười, đôi khi không chỉ là để cười, để thư giãn. Mà có thể, đằng sau những mẩu chuyện ấy là một bài học, một thông điệp đến từ cuộc sống.
     Câu chuyện thứ nhất
Một cậu học trò lớp ba viết rằng cậu muốn trở thành một diễn viên hài trong bài tập làm văn của mình. Thầy giáo Việt Nam phê: “Không có chí lớn”, còn thầy giáo người nước ngoài nói: “Thầy chúc em mang tiếng cười cho toàn thế giới”.
Là người lớn, chúng ta nên khuyến khích, cổ vũ hơn là đặt ra những yêu cầu quá cao đối với trẻ con. Hơn thế, chúng ta hãy mở rộng khái niệm thành công để trẻ con thoải mái tung đôi cánh ước mơ của mình
Câu chuyện thứ hai
Ăn cơm xong, mẹ và con gái rửa chén bát trong bếp, bố và con trai ngồi xem ti vi. Bỗng nhiên có tiếng đổ vỡ dưới bếp, sau đó im bặt. Con trai nói: “Con biết chắc mẹ vừa làm bể chén bát”. Bố hỏi: “Tại sao con chắc như thế?”. Con trai trả lời: “Vì không nghe tiếng mẹ la”.
Chúng ta luôn đánh giá người khác và đánh giá bản thân qua những tiêu chuẩn nào đó, thường khó khăn với người khác nhưng lại rất dễ dãi đối với mình.

Câu chuyện thứ ba
Người ăn mày nói: “Bà có thể cho tôi xin một ngàn không?”. Người qua đường trả lời: “Nhưng tôi chỉ có năm trăm”. Người ăn mày bảo: “Vậy bà thiếu tôi năm trăm nhé”.
Nhiều người trong chúng ta luôn cho rằng ông trời mắc nợ mình, cho mình không đủ, không tốt nên lòng tham đã che mất thái độ biết ơn.

Câu chuyện thứ tư
Người vợ đang nấu ăn trong nhà bếp, người chồng đứng bên cạnh nhắc nhở: “Cẩn thận, coi chừng khét!”, “Sao em bỏ ít muối thế?, “Ơi kìa, nước đã sôi rồi, em cho thịt vào đi”. Người vợ bưc bội: “Anh làm ơn đi ra ngoài giùm em! Em biết nấu ăn mà!”. Người chồng mỉm cười: “Ừ, có ai bảo em không biết nấu ăn đâu. Anh chỉ muốn em hiểu được cảm giác của anh như thế nào khi đang lái xe mà em ngồi bên cạnh cứ lải nhải”.
Học cách thông cảm người khác không khó, chỉ cần chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.

Câu chuyện thứ năm
A kể với B: “Khu nhà tôi vừa dọn về một ông hàng xóm bất lịch sự. Tối hôm qua, đã gần một giờ sáng rồi mà ông ta còn qua đập cửa nhà tôi rầm rầm”. B hỏi: “Thế anh có báo cảnh sát không?”. A trả lời: “Không, tôi mặc kệ ông ta, xem ông ta như thằng điên vì lúc ấy tôi đang tập thổi kèn saxophone”.
Chuyện gì cũng có nguyên nhân, nếu biết trước lỗi của mình thì hậu quả sẽ khác đi. Tuy nhiên, chúng ta lại thường ít khi thấy mình sai, nhưng lại dễ dàng thấy người khác sai.

Câu chuyện thứ sáu
Hai cha con đi ngang qua một khách sạn 5 sao. Trông thấy một chiếc xe hơi xịn rẽ vào, cậu con trai nhận xét: 
- Những người ngồi trên chiếc xe ấy đều có trình độ học vấn rất thấp! 
Người cha ôn tồn đáp lại: 
- Người vừa phát biểu câu ấy là người hiện trong túi không có lấy một đồng xu!
Con người thường có thái độ “ghen ăn tức ở”, khi nói ra điều gì, nhận xét việc gì đều thể hiện trình độ của mình. Bởi vậy hãy thận trọng!

Câu chuyện thứ bảy
Có hai đoàn khách nước ngoài đến thăm một địa điểm du lịch sinh thái. Do trời mưa nên đường dẫn vào khu “Kỳ hoa dị thảo” lầy lội. Người hướng dẫn của đoàn thứ nhất bảo: “Xin lỗi quý khách, chúng ta không thể đi tiếp”. Còn người hướng dẫn đoàn thứ hai suy nghĩ một chút rồi nói: “Để quý khách thấy rằng việc tìm kiếm kỳ hoa dị thảo khó khăn như thế nào, Ban giám đốc công ty đã cố tình tạo con đường lầy lội cho quý khách có thêm cảm xúc thực tế”.
Hoàn cảnh khác nhau, quan điểm khác nhau sẽ nhìn một sự vật không giống nhau. Tư tưởng kỳ lạ như thế đấy bạn ạ! Nếu bạn chịu suy nghĩ thì quyền quyết định hoàn cảnh nằm trong tay bạn.

Câu chuyện thứ tám
Một phụ nữ vào tiệm kim hoàn, trông thấy hai chiếc vòng đeo tay giống nhau như đúc, một chiếc giá 2 triệu, một chiếc giá 20 triệu. Không chần chừ, bà ta liền lấy chiếc 20 triệu vì nghĩ rằng đắt tiền chắc chắn sẽ là đồ tốt. Khi vừa quay lưng bước đi, nhân viên nói với nhau: “Không ngờ chỉ vì đính sai bảng giá mà chúng ta lời đến 18 triệu đồng!”.
Hãy xem, lắng nghe và kiểm định. Đó là lời khuyên trong câu chuyện này. Có nhiều thứ tưởng vậy, thấy vậy, nghe vậy mà không phải vậy, đừng vì chủ quan, tin vào suy nghĩ của mình mà lầm to.

Câu chuyện thứ chín
Hai vợ chồng vào xem triển lãm tranh của các họa sĩ trẻ, trong đó có một bức tranh của con trai họ. Người vợ đi rất nhanh, mắt chỉ kịp lướt vào tên của tác giả ở mỗi bức tranh. Một lúc sau không thấy chồng, người vợ quay lại tìm. Người chồng đang đứng trước một bức tranh say sưa ngắm nhìn. Bức tranh ​ấy lúc nẫy người vợ đã xem qua. Bà bực bội nói: “Ông đứng đó làm gì vậy? Sao không đi tìm bức tranh của con mình?”. Người chồng quay sang nhìn vợ: “Đây là tranh của con mình nè, nó quên ký tên trên bức tranh”.
Trong cuộc sống, có người chỉ lo chạy băng băng nên đã không thể tìm thấy thứ mình cần tìm, đánh mất cơ hội được thưởng thức hoa nở hai bên đường.

Câu chuyện thứ mười
Tại buổi lễ tốt nghiệp ở một trường cấp hai, thầy hiệu trưởng đọc tên học sinh xuất sắc nhất trong năm học. Đọc đến lần thứ ba mà vẫn không thấy ai đi lên sân khấu. Thầy hiệu trưởng nhìn xuống, hỏi cậu học sinh xuất sắc đang bình thản ngồi bên dưới: 
- Em không nghe thầy gọi tên à? 
Cậu học sinh đứng lên, lễ phép: 
- Dạ, thưa thầy em đã nghe. Nhưng em sợ các bạn chưa nghe thấy ạ!
Danh và lợi đã vô tình trở thành chiếc lồng nhốt chúng ta vào trong ấy. Chúng ta luôn giáo dục con em mình phải cố gắng học thật giỏi, phải trở thành nhân vật xuất sắc nhất nhưng lại ít khi dạy các em tính khiêm tốn.

Theo : Kim Dung / Kỳ Duyên
       Bài học lớn trong cuốn sổ nhỏ

                                                                            GIAO HƯỞNG

        Ông Trần Vân Nam 74 tuổi đời 54 tuổi Đảng, từng giảng dạy Triết học Mác-Lê nin cho các thế hệ sinh viên khoa Văn, khoa Sử trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (nay là ĐH Quốc gia Việt Nam). Đã 10 năm lão giả an tri tại quê xã Phúc Thọ, Nghi Lộc, Nghệ An, ông bảo không bất ngờ trước Trung Quốc (TQ) ngang ngược mang tàu to, súng lớn vào trong vùng biển VN. Theo ông, bản chất bành trướng nói một đằng làm một nẻo xưa nay đã thâm căn cố đế trong giới cầm quyền TQ, đó là nguyên nhân tạo nên hành động không bình thường, không ngang tầm nước lớn, và khi mưu thâm kế hiểm bộc lộ bằng hành động thì cũng là lúc mộng bá quyền “lạy ông tôi ở bụi này”.
Ông Trần Vân Nam
Ông Nam lục giá sách mang ra cuốn sổ nhỏ cho tôi xem những trang lược ghi cuộc Hội nghị khoa học và bài nói của đồng chí Hồng Chương-Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản. Hai cuộc tiến hành tại trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, diễn ra cách nhau 5 ngày cùng một chủ đề không cũ suốt mấy ngàn năm. Biết tôi chú ý cuộc Hội nghị khoa học CHỐNG CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN TRUNG QUỐC tổ chức ngày 22.5.1979, ông chậm rãi: Người nhỏ mắt to, Hội nghị do ĐH Tổng hợp HN tổ chức trong 1 ngày nhưng nội dung lại mang tầm quốc gia, Đảng ủy trường phân công ông Nam-Trưởng bộ môn Triết học Mac-Lênin tham gia Ban tổ chức. Hội nghị thu hút 30 đoàn đại biểu các cơ quan lý luận Trung ương, trường Đảng, trường Đại học, các ban ngành Trung ương tại HN.
GS Ngụy Như Kon Tum-Hiệu trưởng trường ĐH Tổng hợp HN đọc diễn văn khai mạc. Trong mấy chục báo cáo khoa học có 18 báo cáo của các “đa, đề” thuộc Khoa Văn, Khoa Sử ĐH Tổng hợp HN, giới nghiên cứu tập trung vạch rõ bản chất của CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN TRUNG QUỐC, dứt khoát trong nhiệm vụ CHỐNG lại chủ nghĩa bá quyền cực kỳ nguy hiểm với VN và toàn thế giới.
Gói gọn 1 ngày nên Ban tổ chức rất khó trong việc chọn ra 12 bản báo cáo mang tính đại diện để trình bày tại diễn đàn Hội nghị:  1/ Hơn hai ngàn năm đấu tranh chống bành trướng Trung Quốc-GS Phan Huy Lê. 2/ Mấy ý kiến về cội nguồn lịch sử của chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc bá quyền nước lớn phương Bắc-GS Trần Quốc Vượng. 3/ Nho pháp tính dụng và con đường bành trướng thiên triều-GS  Trần Đình Hượu. 4/ Đường lối chính trị của pháp gia và mưu đồ TQ đề cao pháp gia-GS Nguyễn Gia Phu. 5/ Tính chất cực kỳ phản động của nền pháp luật TQ hiện nay-Nguyễn Niên. 6/ Bành trướng TQ phạm tội ác xâm lược chống hòa bình an ninh quốc tế-GS Nguyễn Ngọc Minh 7/ Chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh và quan hệ quốc tế đối ngoại-Đào Văn Tập. 8/ Cuộc chiến tranh xâm lược VN và chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc bá quyền nước lớn TQ-GS Phạm Như Cương. 9/ Một số đề nghị về đấu tranh của văn nghệ ta chống chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc TQ-GS Hoàng Xuân Nhị 10/ Những truyền thống đấu tranh chống bá quyền trong văn học Đại Việt. GS-Đinh Gia Khánh. 11/ Những biểu hiện của chính sách đồng hóa ngôn ngữ của bọn bành trướng TQ nằm trong âm mưu lâu dài thôn tính nước ta-Nguyễn Xuân Hòa . 12/ Thử tìm hiểu về bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt-GS  Nguyễn Tài Cẩn.
          Qua tiêu đề của 12 bản báo cáo giúp ta cảm nhận, tiên lượng được sự đa dạng, chuyên sâu của một Hội nghị khoa học xã hội nhân văn tại trung tâm đào tạo lớn nhất nước. Ngày ấy nghiên cứu khoa học trong điều kiện muôn vàn thiếu thốn, không có ghi âm không có photocopy, đồng thời cũng muôn vàn khó khăn trong việc phổ biến quảng bá những kiến thức bị coi là “nhạy cảm”, suốt Hội nghị những người thính tai nhanh tay “siêu tốc ký” mới có được những trang gạch đầu dòng thành tài liệu lưu giữ lâu dài. Còn các vị thức giả chỉ mang đến Hội nghị 1 bản báo cáo đánh máy giấy than, các vị trình bày xong nộp báo cáo cho Ban tổ chức, kết thúc Hội nghị Ban tổ chức nộp mấy chục báo cáo khoa học cho lạnh đạo trường ĐH Tổng hợp.
Mấy chục tác gia có báo cáo khoa học đến nay hầu hết đã phiêu du trên chốn bồng lai, ông Nam cũng không biết số phận của mấy chục báo cáo khoa học chống bá quyền TQ trôi dạt bến bờ nào. Cầu Trời cầu Phật đừng để mấy chục báo cáo ấy chung số phận với các công trình nghiên cứu về TQ của GS Trần Đình Hượu (1927-1995). Từ năm 1965 thầy Hượu khoa Ngữ Văn ĐH Tổng hợp HN là một trong ít tác gia công bố kết quả nghiên cứu mang tính quy luật về TQ-lĩnh vực treo biển “nhạy cảm”. Từ những kết quả nghiên cứu của mình, thầy Hượu hệ thống thành giáo trình và truyền thụ cho các thế hệ sinh viên Ngữ Văn ĐH Tổng hợp HN. Buồn là những kết quả nghiên cứu của thầy Hượu ra đời giai đoạn “đỉnh cao muôn trượng” (chữ thơ Tố Hữu), thế mà cũng phải trầy mang trợt vảy, thậm chí có cái bị người ta “trảm” không cho biết lý do. Các công trình nghiên cứu của thầy không được xuất bản phát hành rộng rãi, chỉ cho phép in rôniô tại xí nghiệp in ĐH Tổng hợp, lưu hành nội bộ, phục vụ đối tượng là giảng viên sinh viên Ngữ văn ĐH Tổng hợp, đến Thư viện khoa mượn đọc tại chỗ không mang ra khỏi phòng. Kiên định vì khoa học, mười mấy năm kể từ 1965, lương của thầy Hượu không lên được bậc nào. Sau ngày thầy quy tiên, toàn bộ những bài viết bài nói làm thành giáo trình của thầy về “chuyên ngành nhảy cảm”, đã được các đồng nghiệp, các thế hệ học trò phối hợp với gia đình thầy xuất bản phát hành rộng rãi.
                                                           *
                                                        *   * 
Một TQ đầy tham vọng đang trỗi dậy. Một TQ không muốn cùng các nước láng giềng tôn trọng những giá trị mang tính phổ quát của nhân loại. Một TQ đã đang đi ngược nguyên tắc chung sống hòa bình, thương yêu nhau, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng bất khả xâm phạm. Chẳng phải tới khi giàn khoan HD 981 găm 4 chân xuống khu vực thềm lục địa VN chúng ta mới nhìn ra bản chất của ông láng giềng kinh niên xấu bụng. Từ khi VN thống nhất đến nay, TQ ngày càng ngang ngược tráo trờ. Thông qua hợp tác, đầu tư, trao đổi “biên mậu”, TQ áp đặt “luật” cá lớn nuốt cá bé, từ 20-25 năm trước đã thấy những “giàn khoan” madein China gian-tham-hiểm-độc tràn vào VN, biến thương trường VN thành chiến trường không tiếng súng chảy máu ngầm. Nhìn nhận đúng-đủ hậu quả do các kiểu gian-tham TQ để lại trong các lĩnh vực kinh tế-văn hóa-xã hội VN thì không bao giờ là muộn. Chúng ta có nhìn nhận đúng mới trả lời trúng câu hỏi: Nhật, Đài, Hàn, Sing cũng như VN, trong quá khứ đều chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, vì sao hiện nay kinh tế các nước này không bị động, không lệ thuộc kinh tế TQ ?

Trong muôn vàn bài học tôn đắp nên tâm thế tư thế của một dân tộc, thì ngọt, bùi, cay, đắng cả dân tộc từng trải trong dài sâu lịch sử, là bài học văn hóa vĩ đại nhất để dân tộc ấy lớn lên. Là người Việt không được quên: Bắt đầu từ năm 111 trước Công nguyên, đến năm 938 anh hùng Ngô Quyền lạnh đạo dân tộc Việt chôn vùi 1049 năm Bắc thuộc. Từ năm 938 đãNam quốc sơn hà Nam đế cư”, cho đến nay (2014) tất cả các đế vương TQ đều nuôi mộng thôn tính, đưa VN trở về thời Bắc thuộc.
Dưới triều “bác Mao” đã ngót nghét chục lần TQ nổ súng “giải phóng” biển, đảo, đất đai của VN. Năm 1956 lợi dụng Pháp rút khỏi VN, TQ đánh chiếm nhóm đảo phía Đông thuộc Hoàng Sa do chính quyền VNCH quản lý. Năm 1959 lính TQ giả dạng ngư dân đột nhập lên nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, quân lực VNCH đánh đuổi bắt sống  82 “ngư dân”. Tháng 01.1974 sau khi đi đêm với Mỹ, TQ đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ chính quyền VNCH. Tháng 3.1988 VN đang lo cái ăn cái mặc TQ đánh chiếm đảo Gạc Ma và 6 bãi đá ở khu vực Trường Sa. Thế mà bản Bị vong lục ngày 12.5.1988 của Bộ Ngoại giao TQ vẫn trơ tráo rằng “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền”.
Đỉnh cao của một TQ tráo trở phơi bày ở hành động ngày 17.02.1979, Thống lĩnh Đặng Tiểu Bình xua 60 vạn quân tấn công toàn tuyến biên giới Trung-Việt. Cuộc chiến biên giới vô cùng khốc liệt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kêu gọi toàn dân toàn quân đứng lên đánh đuổi quân xâm lược. Bài kêu gọi này với tiêu đề NHÂN DÂN VN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI GIẶC TQ XÂM LƯỢC NHẤT ĐỊNH THẤT BẠI, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 3/1979 (trích mở đầu):
Cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh chống giặc TQ xâm lược, bảo vệ Tổ quốc VN XHCN đang diễn ra quyết liệt ở các tỉnh biên giới phía Bắc của nước ta. Ngày 17.2.1979, bọn cầm quyền phản động Bắc Kinh đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn chống nước CHXHCN VN. Từ những ngày đầu, quân và dân ta ở các tỉnh biên giới, từ Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, đến Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu cực kỳ anh dũng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, gây cho quân giặc những tổn thất nặng nề… Chủ tịch nước CHXHCN VN đã công bố lệnh tổng động viên trong cả nước để bảo vệ tổ quốc VN XHCN…đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền TQ”.
Đã 35 năm, lời kêu gọi ấy vẫn nóng hổi thời sự.
Lịch sử không lặp lại, nhưng thất bại xâm lăng từ trong lịch sử có thể lặp lại. “Giấc mơ Trung Hoa” là mộng bá chủ toàn cầu, là độc chiếm Biển Đông, là mở rộng lãnh thổ từng được 46 triều đại phong kiến Trung Hoa ấp ủ suốt mấy ngàn năm, song mộng vẫn mộng mị mà thôi. Việc TQ cắm giàn khoan trong vùng biển VN, tương tự với việc năm 1938 Hitler khởi binh cưỡng chiếm rồi sáp nhập nước Áo vào nước Đức. Việc Hitler chiếm đóng nước Áo khởi đầu cho cuộc chinh phục châu Âu và cả thế giới. Hai sự kiện nêu trên giống nhau ở chỗ, trước khi phát động xâm chiếm người đứng đầu đều nói rất hay về hòa bình nhằm ru ngủ đối phương mất cảnh giác, tê liệt. Đang khi VN cùng nhiều nước phản đối mạnh mẽ hành động gây hấn của TQ trên Biển Đông, thì tại thủ đô nước Anh, ông Lý Khắc Cường-Thủ tướng TQ dương đông kích tây lời có đuôi có cánh: Người TQ vốn dĩ yêu hòa bình. Khổng Tử từng dạy “điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác”, điều này đã in dấu trong ADN của dân tộc chúng tôi …Bành trướng không có trong ADN người TQ và chúng tôi không thể chấp nhận nguyên lý cho rằng một quốc gia mạnh nhất định phải trở thành bá quyền… (báo Thanh niên 20.6.2014).
Một số câu ông Tập Cận Bình nói về hòa bình:
“Cả hai nước TQ và VN phải hành xử trên tinh thần trách nhiệm đối với lịch sử và nhân dân mình, phải đặt tình hữu nghị Việt-Trung và mối quan hệ phát triển song phương lên hàng đầu, cùng nhau thúc đẩy một giải pháp cho vấn đề Biển Đông và không để vấn đề đó ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa hai quốc gia” (Ngày 19.6.2013 trong buổi đón Chủ tịch VN Trương Tấn Sang).
 “TQ luôn yêu chuộng hòa bình, luôn theo đuổi cũng như truyền lại cho thế hệ sau niềm tin vững chắc vào hòa bình, hữu nghị và hòa hợp…
Lịch sử ôn hòa của người Bắc Kinh là minh chứng rõ ràng nhất cho sự yêu chuộng hòa bình của TQ. Trong máu của người TQ không có gen xâm lược nước khác hay thồng trị thế giới…”. (Ngày 15.5.2014, trong cuộc mít-tinh kỷ niệm 60 năm Hiệp hội Hữu nghị TQ với nước ngoài)
“Chúng tôi chỉ muốn duy trì mối quan hệ hòa bình với các nước trong khu vực. Trải qua rất nhiều thăng trầm thời hiện đại, chúng tôi nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự phát triển và giá trị của hòa bình” (Ngày 20-9-2012 gặp các nhà lãnh đạo Đông Nam Á).
Thế nên người dân VN yêu nước khó tin đó là sự thật!

                                                                                     7.2014